Hôm nay,  

Những Cái isme

19/06/201300:00:00(Xem: 14981)
Trong tiếng pháp, có một số từ ngữ tận cùng bằng “isme” để chỉ một quan niệm, một nếp sanh hoạt hay một trào lưu tư tưởng. Nhưng cũng tiếp vĩ ngữ “isme “ ấy trong một số trường hợp diển tả một ý nghĩa xấu.

Tiếp vĩ ngữ “isme” hiện diện nhiều trong triết học, chánh trị, kinh tế, tôn giáo,... Nhiều từ ngữ được tạo ra với “isme” vào thế kỷ XIX và XX để chỉ những trào lưu tử tưởng lớn chi phối mạnh đời sống của hai thế kỷ nay.

Về cách cấu tạo, tiếp vĩ ngữ có thể ghép với danh từ chung như “le roi” (ông vua)- “le royalisme” (tư tưởng hay chủ trương bảo hoàng), với danh từ riêng như Ông “Marx” – “le marxisme” (chủ thuyết mác-xít), tỉnh từ như “colonial” (thực dân) – “le colonialisme” (chủ nghĩa thực dân), …

Tiếp vĩ ngữ “isme”, như đã nói, trong một số trường hợp, hàm nghĩa xấu. Hồi giáo là “islam “ nhưng “islamisme” có nghĩa là hồi giáo quá khích, thứ hồi giáo chủ trương khủng bố chống lại các tôn giáo khác hoặc nền văn minh không hồi giáo, như thiên chúa giáo hay tư tưởng dân chủ, tự do.

“Social” là xã hội bao gồm chủ trương, sanh hoạt nhằm phục vụ đời sống con người nhưng “socialisme” là chủ thuyết/ chủ nghĩa xã hội, một hệ thống chánh trị tổ chức xã hội dưới sự chỉ huy tập trung, tức độc tài nên tham nhũng và gian ác hoành hành triệt để như ở Việt nam ngày nay.

Tiếp vĩ ngữ “isme” làm mất đi ý nghĩa của chữ gốc. Trong tiếng việt nam vì tiếng đơn âm, muốn nói ý nghĩa của tiếp vĩ ngữ “isme” phải ghép thêm “chủ thuyết» hay “chủ nghĩa”. Như “le socialisme”, thì phải nói “chủ nghĩa xã hội”, “le communisme” là “chủ nghĩa cộng sản”.

Tóm lại, tiếng gốc có nghĩa tốt, bình thường nhưng khi ghép với “isme” ý nghĩa của nó bị thay đổi hoàn toàn. “Isme” cũng đóng khung cứng ngắt ý nghĩa của chữ. Cả tư tưởng hay suy nghĩ của con người.

Mượn “isme”, chúng ta thử lan man qua chữ nazi, viết tắc của “nationalsozialismus” và phong trào “Đầu trọc” (Skinhead) ở Âu châu và ở Pháp.

Nguồn gốc “Đầu trọc” (Skinhead)

Muốn hiểu qua vài nét về phong trào “Đầu trọc” ở Âu châu, chúng ta thử trở về những năm đầu của thế kỷ XX trước khi cuộc khủng hoảng lớn bùng nổ ở Đức (1929-1930). Đảng quốc xã của những người lao động người Đức - viết tắc là NAZI - trước kia chỉ là một tổ chức cực hữu của hệ thống chánh đảng Đức. Trong kỳ bầu cử Quốc hội năm 1928, đảng NAZI chiếm được 2,6% phiếu, một dấu hiệu thụt lùi so với kỳ bầu cử trước năm 1924 (3%). Cuộc bầu cử này đưa vào Chánh quyền một Liên minh lớn gồm đảng Quốc xã, đảng Công giáo, đảng Dân chủ đức và đảng Nhơn dân đức. Liên minh nắm quyền suốt sáu tháng đầu trong thời kỳ khủng hoảng.

Từ năm 1930, khủng hoảng kinh tế ảnh hưởng mạnh lên đời sống quốc gia, làm cho công nhơn thất nghiệp lên tới 30%. Hằng triệu người Đức phản ứng. Họ kết hợp khủng hoảng kinh tế với nỗi nhục của đất nước sau khi Đức thất bại Đệ I Thế chiến. Dân chúng cho rằng Liên minh quá yếu không đủ sức đưa nước Đức thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng. Nghèo đói ở khắp nơi, lo sợ tương lai còn đen tối hơn nữa, giận dử và sốt ruột trước những thất bại của chánh phủ đối phó với nạn khủng hoảng, dân chúng lợi dụng tình hình đất nước khó khăn nhưng thuận lợi cho sự thay đổi nên vận động ủng hộ đảng Quốc xã (NAZI) với Adolf Hitler lên cầm quyền.

Hitler là một nhà hùng biện tài ba hấp dẩn mảnh liệt quần chúng. Ông biết khai thác sự tức giận và sự bất lực của một số lớn cử tri. Ông thu hút được một số lớn dân chúng Đức đang mong muốn thay đổi. Đảng Quốc xã vận động tranh cử hứa hẹn đưa nước Đức ra khỏi sự khủng hoảng. Đảng Quốc xã cam kết phục hồi những giá trị văn hóa của xứ sở, hủy bỏ những điều khoản của Hiệp ước Versailles bất bình đẳng, ngăn chận mối hăm dọa một cuộc cách mạng cộng sản nổi lên, đem lại công ăn việc làm cho công nhơn lao động và khôi phục lại vị trí cường quốc trên thế giới cho nước Đức.

Đảng Quốc xã trong cuộc bầu cử sau đó thắng lớn bèn hướng sự giận dử và sợ hải của dân chúng nhằm vào do thái, cộng sản và những người mà họ buộc tội có trách nhiệm ký Hiệp ước Versailles, cũng như thiết lập nền Cộng hòa Đại nghị. Hitler và đảng Quốc xã khép những người này vào “tội phạm tháng 11”.

Qua giữa tháng 7 năm 1933, Quốc hội chuyển cho Hitler toàn quyền và đảng NAZI trở thành đảng độc tôn cai trị nước đức.

Đức thất trận trong Thế chiến II, Hitler chết, đảng viên Quốc xã bị đưa ra Tòa án nhơn quyền. Sự việc này vội chôn vùi sự kiêu hảnh dân tộc trước đây. Ngày nay ở Đức, ở Pháp và Âu châu, nhiều nhóm thanh niên xuất hiện như để biểu hiện cái oai hùng xưa, do bất mãn đời sống xã hội hiện tại. Nhưng lớp trẻ bất mản xã hội, chánh giới, muốn một sự bùng vở để thay đổi cái hiện tại, không chỉ riêng ở Âu châu vì thừa hưởng cái kiêu hùng của Đức quốc xã và cái mặc cảm sau khi Đức quốc xã tàn lụi, mà hiện tượng này hầu như có mặt ở khắp nơi trên thế giới như Anh - thường những hiện tượng xã hội loại này bắt đầu ở Anh rồi mới lan ra các nơi khác – như Canada, Nhựt, …

Nhận diện “Đầu trọc” (Skinhead) và tổ chức cực hữu

“Đầu trọc” (Skinhead) nhìn thấy ở Âu châu và các nơi khác là những cá nhơn thuộc thành phần thợ thuyền và phải biết say mê âm nhạc jamaicaine (xứ Jamaique ở trong vùng biển Caraibes). Skinhead bị khép vào thành phần cực hữu, thứ “Tân Quốc xã” (Néo-nazisme).

Skinhead được định nghĩa là những người trẻ, những nhóm, phong trào, tổ chức, đảng phái, …nghiên về quá hữu của chánh trị, văn hóa, tôn giáo,…

Khi những người “Đầu trọc” thuộc cực hữu, về chánh trị, lập trường của họ thường không rỏ ràng, dứt khoát hẳn. Vì vậy, từ ngữ “cực hữu” chỉ những nhóm, những tổ chức chánh trị và bao gồm luôn phát-xít hay tân phát-xít, quốc xã hay tân quốc xã, những nhóm truyền thống hay toàn thống, tức quá khích, những thái độ kỳ thị chủng tộc hoặc phân biệt đối xử, cho tới cả những đảng phái quốc gia cực đoan hoặc “vì nhân dân - thật ra là mị dân” (populisme).

Về tổ chức chánh trị như đảng phái, trong ngôn ngữ chánh trị ở Anh, cực hữu được gọi là “hữu cấp tiến” vì nó ở giới hạn của hữu dân chủ, tự do hoặc bảo thủ. Có khác nhau về tổ chức, chủ trương, nhưng nền tảng ý hệ của họ có những điểm chung : lòng ái quốc, tinh thần quốc gia và truyền thống mạnh, có khi trở thành cực đoan. Họ bám vào những giá trị dân tộc, bản sắc, văn hóa và tôn giáo. Đôi khi họ có xu hướng về một nền kinh tế và một xã hội chỉ riêng cho đất nước, dân tộc của họ mà thôi. Ưu tư của họ là kinh tế và xã hội phải nghiên về phục vụ lớp bình dân hơn.

Vì chủ trương cho đất nước dân tộc trước hết nên những người “Đầu trọc” và tổ chức cực hữu bị tố cáo là những người bài ngoại, kỳ thị chủng tộc. Ở Pháp, một chánh trị gia hay một chánh khách nào lớn tiếng tuyên bố “Tôi tranh đấu trước hết cho nước Pháp” lập tức sẽ bị phe tả công kích là cực hữu, là quốc xã, tân quốc xã, phát-xít,…Còn phe hữu thì nhấn mạnh đừng quên tư tưởng “cộng hòa”. Trong lúc đó, tư tưởng, chủ thuyết, chủ nghĩa cực tả như cộng sản lại không bị phê phán.

Theo nhà chánh trị địa lý, Bà Béatrice Giblin-Delvallet, hiện nay, phong trào cực hữu vươn mạnh lên ở Âu châu là do những người hồi giáo tới Âu châu ồ ạt, sự toàn cầu hóa làm mất công ăn việc làm cho giới công nhơn lao động tại chổ và Liên hiệp Âu châu không đủ khả năng xóa những dị biệt giữa các quốc gia hội viên.

Đặc điểm của Skinhead là phải tạo được một không gian sanh hoạt cho mình trước quần chúng và biến không gian này trở thành một thứ sản phẩm hấp dẩn cao cấp của cách mạng thường xuyên trong đời sống hằng ngày.

Skinhead trước nhứt phải là người của từng lớp thợ thuyền, do quan hệ nguồn gốc gia đình thợ thuyền hay tự mình xác nhận và gia nhập, có việc làm hay không, làm việc hay không, việc làm thuộc nghành nghệ thuật, công nhơn, việc làm hợp lệ hay không, … đều không quan trọng. Skinhead phải biết đoàn kết với thành phần xã hội của mình, phải có ý muốn tạo một không gian mới, giải phóng và cách mạng và điều này sẽ lan rộng ra trên khắp thế giới.

Không có một người Skinhead nào không huởng ứng lời kêu gọi biểu tình và không biết điều gì khác hơn là tham gia vào một sanh hoạt mới có ý nghĩa đồng thời xác định sự hiện diện của những người Skinheah trong xã hội.

Đặc điểm của những người “Đầu trọc” là có nguồn gốc nhưng không có lãnh tụ và họ không bao giờ muốn có lãnh tụ. Do đó, họ không phải là mác-xít, không phải là lê-ni-nít, mao-ít, hay bất cứ cái gì là “ít”. Họ không xây dựng tượng, thánh đường, …và không bao giờ đem xác chết, dầu có ướp hay không ướp, vào lăng mộ. Họ để dành xác chết cho sâu bọ, ruồi nhặng thanh toán, không gian cho bồ câu và người không gian. Tóm lại những người “Đầu trọc” (Skinheads) không thờ thần tượng, không cầu nguyện, không vang xin, không yêu sách nhưng họ nhận tất cả gì thuộc về quyền lợi của họ.

Những người “Đầu trọc” (Skinheads) thừa nhận thực tế là xã hội có chia ra làm nhiều từng lớp khác nhau. Họ chủ trương không nhìn nhận từng lớp trưởng giả, chánh trị gia, vì những người này thường khéo léo khai thác sự hiện diện và hoạt động của họ cho những mục tiêu riêng.

Những người “Đầu trọc” (hay Skinheads) sở dĩ từ khước những liên hệ nhân xã như vậy vì ngay từ gốc họ đã phủ nhận mọi cái “isme” như giá trị qui chiếu. Họ là Skinhead mà không bao giờ là “SkinheadISME” hết cả. Họ không muốn để cái “isme” biến đổi giá trị văn hóa căn bản của những người Skinheads, làm cho nó bị hạn chế, đóng khung và từ đó trở thành một thứ chủ thuyết khô khốc, không còn sức nảy nở. Nhờ đó, phong trào Skinhead thoát khỏi cộng sản, thứ cộng sản thư lại và độc tài ác ôn, tự nó cũng đã phủ nhận cái cộng sản ban đầu. Tức cái “isme” này phủ nhận cái “isme” kia !

Những cái “isme” không gì khác hơn là những công cụ biến đổi tư tưởng con người của một thời điểm thành những chủ thuyết đóng khung, hạn hẹp, khô cứng, không khả năng phát triển.

Việt nam tục hậu về mọi mặt, chứa đựng đủ loại tham những, ác ôn vô phương thay đổi chỉ vì bị cai trị bỡi cái đảng tận cùng bằng thứ “ít” (Parti communiste), hệ thống tư tưởng tận cùng bằng “isme” - communisme và cái vô duyên không thể tả là cái " hochiminhisme " (cái gọi là “tư tưởng hồ chí minh”) !

Nguyễn thị Cỏ May

Hệ thống luật quốc tế đang đối diện với những thách thức chưa từng có trong lịch sử cận đại. Luật quốc tế vốn đặt ra các nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực giữa các quốc gia, cấm tiến hành chiến tranh xâm lược và thiết lập hệ thống an ninh tập thể như một phần nối tiếp của các biện pháp chính trị.
Nếu ai chưa hiểu Tổng thống Donald Trump với những hành động và lời nói “khác lạ” thường xuyên vượt qua lòng tự trọng và khả năng tri thức dành cho cương vị một nguyên thủ quốc gia, nhất là một quốc gia lãnh tụ trong thế giới tự do dân chủ, thì câu hỏi là: thực sự ông muốn gì? Ông muốn trở thành đệ nhất nhân trong cả ba khát vọng: ông không chỉ muốn trở thành người giàu nhất, mà còn muốn là vị tổng thống quyền uy bậc nhất, người dám làm những điều mà các tổng thống tiền nhiệm né tránh, và là cái tên được lịch sử ghi ở hàng đầu. Ái tình và của cải chỉ là hai trong ba mục tiêu; mục tiêu còn lại là quyền lực tạo danh vọng, và cả ba đều phải đứng đầu.
Trong thế giới báo chí truyền hình, 60 Minutes là một trong số ít chương trình mang nặng lịch sử. Suốt hàng thập niên, 60 Minutes là tiêu chuẩn vàng của báo chí điều tra, nơi kim phút của trách nhiệm luôn tích… tích… không ngừng để hướng về sự thật. Suốt 58 năm qua, tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ tròn là biểu tượng dễ nhận ra nhất của một nền báo chí Hoa Kỳ. Chiếc đồng hồ bấm giờ mở đầu mỗi tập 60 Minutes – tích, tắc, tích – chưa bao giờ chỉ là hình ảnh minh họa. Theo thời gian, nó là một lời giao ước. Nó nói với khán giả rằng trong một giờ đồng hồ của tối Chủ Nhật, người Mỹ được biết sự thật. Quyền lực phải trả lời câu hỏi và chiếc đồng hồ do những người làm báo giữ nhịp sẽ không vì quyền lợi của bất kỳ ai mà dừng lại.
Cuối tuần qua, trong khi tôi đang nghe ca sĩ Thương Linh hát ở Coffee Factory, một độc giả đến hỏi: “Này, chị viết để làm gì? Bây giờ còn ai đọc những bài bình luận nhức đầu nữa không?” Tôi đã suy nghĩ về câu hỏi ấy. Không phải để thôi viết. Cũng không phải để tránh né suy luận. Nhưng đôi khi, trước một số sự kiện, chỉ cần ghi lại sự việc. Ngày nào. Ở đâu. Chuyện gì. Ai nói. Nói nguyên văn thế nào. Có lẽ anh ta có lý, có những lúc người viết nên “bớt viết”.Trong nhiều năm qua, tổng thống Donald Trump nhiều lần dùng lời lẽ miệt thị các nữ phóng viên ngay trước ống kính. Nhiệm kỳ đầu đã vậy. Sang nhiệm kỳ hai, những cảnh ấy không chỉ trở lại mà còn thô hơn, lỗ mãng hơn, và gần như thành thói quen không thể thiếu trong các buổi họp báo, phỏng vấn, hay bất cứ khi nào có máy quay phim và có phụ nữ cầm micro hay cầm bút làm việc.
Có một cách đọc về nhiệm kỳ thứ hai của Donald Trump càng lúc càng khó bác bỏ: ông biến chính chức vụ tổng thống thành phương tiện làm giàu lớn nhất đời mình, mà không phải âm mưu vụng về với tài liệu mật, chỉ bằng chính lời nói của tổng thống. Một câu dọa chiến tranh, một lời hăm dọa thuế quan, một tuyên bố ngừng bắn hay một dòng đăng mạng xã hội đều có thể làm thị trường Hoa Kỳ và thế giới chao đảo gần như tức thì. Với nhóm nhỏ biết trước thời điểm và nội dung lời nói, những con sóng ấy lại có thể tiên đoán, mà tiên đoán được thì kiếm lời hợp pháp, miễn không để lại dấu vết nối thẳng về ông. Đây không phải lời buộc tội đã được chứng minh trước tòa: chưa có bản án, cũng chưa có bằng chứng công khai về một đường dây giao dịch phối hợp. Nhưng một luận đề chỉ cần một cấu trúc động cơ rõ ràng, một chuỗi sự kiện trùng khớp, và một môi trường pháp lý cho phép hành vi ấy diễn ra mà gần như không sợ bị trừng phạt. Cả ba đều đang hiện diện.
Ngày 2/4/2026, “trái cam” Pam Bondi thật sự “rơi khỏi cành công lý.” Donald Trump sa thải nữ bộ trưởng tư pháp, trao chìa khóa Bộ Tư Pháp (DOJ) – một trong những định chế quyền lực nhất đất nước này – cho người luật sư riêng của mình. Người đàn ông từng ngồi bên cạnh Trump trong phòng xử án, chứng kiến thân chủ bị kết tội 34 tội danh hình sự mà vẫn bước ra khỏi tòa với đầu ngẩng cao, giờ đây là quan chức hành pháp cao nhất của Hoa Kỳ. Đó là Todd Blanche. Và kể từ ngày nhậm chức đến nay, ông ta đã không ngừng chứng minh rằng những người hoài nghi về ông đã nhìn đúng.
Cuộc bầu cử quốc hội Nga dự kiến diễn ra vào tháng 9/2026. Nhìn chung, các chuyên gia về nội chính Nga không kỳ vọng sẽ có thay đổi mang tính đột phá trong cơ cấu quyền lực quốc gia. Tổng thống Vladimir Putin vẫn đang nắm giữ vị trí trung tâm quyền lực tại Điện Kremlin. Thực tế cho thấy Vladimir Putin, nay đã 73 tuổi và đã cầm quyền 26 năm, đang đối mặt với sự suy giảm nhất định trong mức độ ủng hộ của công chúng. Bản thân ông từ lâu cũng hiểu rằng vấn đề người kế nhiệm là điều không thể tránh khỏi và cần được chuẩn bị.
Chuyến thăm viếng Bắc Kinh của Tổng Thống Donald Trump đã kết thúc cách đây hai tuần. Mọi sự tương đối đã lắng đọng. Đây là lúc thuận tiện để tổng kết chuyến đi lịch sử này.
Trong tiếng Việt có một dấu nhỏ xíu gọi là dấu mũ. Nó nằm trên đầu một số chữ cái, trông giống như một mái nhà tí hon. Khi chữ "o" đội dấu mũ, nó trở thành "ô". Khi chữ "công" có dấu mũ, nó là công lý. Khi mất dấu mũ, nó thành "cong", bị vẹo, bị bẻ, bị uốn cho lệch đi. Vừa qua, tại Hoa Kỳ, có một sự việc xảy ra khiến tôi nghĩ rất nhiều về dấu mũ này. Cụ thể là về việc mất nó. Câu chuyện như sau. Năm 2024, ông Donald Trump, hết nhiệm kỳ một, lúc đó chưa làm Tổng thống nhiệm kỳ hai, đệ đơn kiện Sở Thuế vụ Hoa Kỳ, đòi 10 tỷ đô la tiền bồi thường. Lý do là vì một nhân viên IRS tên Charles Littlejohn đã làm rò rỉ 15 năm tờ khai thuế của ông cho báo The New York Times và ProPublica. Nhờ vụ rò rỉ đó mà cả nước Mỹ biết rằng trong các năm 2016 và 2017, ông Trump đóng thuế liên bang vỏn vẹn 750 đô la mỗi năm. Bảy trăm năm mươi đô la. Một người làm việc tại quán McDonald's có thể đóng nhiều hơn thế.
Người Mỹ có một huyền thoại rất ưa kể về chính mình, rằng mảnh đất này từ buổi đầu lập quốc là “xứ sở của di dân”. Huyền thoại ấy khởi đi từ những con tàu cập bến New York cuối thế kỷ 19 - với những gia đình nghèo khổ bỏ Âu châu sang tìm một khởi đầu mới; với những toán thợ người Hoa sang đãi vàng, đào núi, đặt đường rầy xe lửa xuyên lục địa; với các các đợt người tị nạn châu Âu sau hai cuộc Thế chiến; với thuyền nhân Đông Dương sau 1975; rồi đến những đoàn người Trung Mỹ lầm lũi băng sa mạc mang theo con nhỏ. Ở mỗi khúc quanh, di dân vừa là nạn nhân của chiến tranh, độc tài, nghèo đói, vừa là lực lượng xây nên những con đường, nhà máy, khu phố, trường đại học của Hợp Chủng Quốc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.