Hôm nay,  

Cứu Nước Hay Cứu Đảng?

16/05/201400:00:00(Xem: 8535)

blank
Phạm Trần

Đảng và Nhà nước Cộng sản Việt Nam đã rất khôn ngoan và kiên quyết chống nhân dân đòi dân chủ, tự do nhưng lại hoang mang và lúng túng khi phải đối diện với hiểm họa mất nước vào tay Trung Cộng.

Bằng chứng đã hiện ra trước mắt kể từ ngày 3/5 (2014) khi Bắc Kinh đem giàn khoan HD-981 và một lực lượng quân sự hùng hậu bảo vệ vào hoạt động công khai bên trong vùng “đặc quyền kinh tế” 200 hải lý (lối 370 cây số) của Việt Nam.

Khu vực đặt giàn khoan khổng lồ HD-981 nằm phía nam quần đào Hòang Sa nhưng chỉ cách đảo Lý Sơn, Tỉnh Qủang Ngãi khỏang 119 hải lý (lối 221 cây số), hay 80 hải lý (trên 148 cây số) bên trong lằn ranh ngòai cùng của vùng “đặc quyến kinh tế”. Gìan khoan do Trung Cộng chế tạo tốn lối 1 tỷ dollars, có khả năng hoạt động ở độ nước sâu 3000 mét và mũi khoan có khả năng đào sâu 10,000 mét.

Gìan khoan này được Bắc Kinh bảo vệ bởi gần 100 tầu chiến có hỏa tiễn và súng nặng, máy bay, tầu săn ngầm và hàng chục tầu đổ bộ, Hải giám, Hải cảnh, Ngư chính, Cứu hộ, Vận tải và tầu cá vỏ sắt

Sau hơn 2 tuần lễ, không có dấu hiệu nào cho thấy Trung Cộng sẽ bỏ cuộc, mặc cho Việt Nam phản đối, chỉ trích hay dùng tầu “đâm nhau” hoặc xịt nước xua đuổi lẫn nhau trên Biển Đông.

Từ ngày 13/5 (2014) phía Cảnh sát biển Việt Nam báo cáo về đất liền “tình hình rất căng thẳng” trong khi Phát ngôn viên của Bộ Ngọai giao Trung Cộng Hoa Xuân Oánh thản nhiên bảo “Việt Nam sẽ thất bại” vì Trung Quốc tìm kiến dầu khí “trên biển của Trung Quốc” !

Phía Việt Nam cho biết cứ mỗi lần các tầu Cảnh sát biển của Việt Nam tìm cách tiến gần giàn khoan HD-981 thì các tầu Hải Giám và Hải Cảnh của Trung Cộng lại ngăn chặn hoặc bao vây tầu Việt Nam. Cảnh sát biển Việt Nam cũng báo cáo các tầu Trung Cộng đã nhiều lần chạy với tốc độ mạnh toan đâm vào tầu Việt Nam nhưng các tầu Việt Nam đã tránh được.

Các chuyên viên Quốc tế quan ngại về thái độ cứng rắn và hung hãn lần này của Trung Cộng trong vụ giàn khoan HD-981 vì Bắc Kinh biết Việt Nam không có khả năng quân sự đề đuổi giàn khoan và các tầu của Bắc Kinh ra khỏi khu vực.

Tuy nhiên lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam nói họ kiên quyết bám vị trí và nhất định xua đuổi giàn khoan HD-981 ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế, nhưng không biết có thành công hay không.

VIỆT NAM ĐÃ LÀM GÌ ?

Về phía Trung Cộng thì tình hình tại chỗ cho thấy không có dấu hiệu nào Bắc Kinh sẽ bỏ cuộc. Họ nói gìan khoan HD-981 có thời khóa biểu hoạt động 100 ngày ở vùng biển của Việt Nam, kể từ 3/5/2014, nhưng không ai chắc Trung Cộng sẽ rút lui sau thời gian này.

Có nhiều lo ngại từ phiá Việt Nam sợ Bắc Kinh sẽ tiếp tục rời đi chỗ khác để tìm kiếm dầu trong phạm vi đường Lưỡi Bò (hay đường 9 đọan) mà Trung Cộng đã “tự chế ra” từ năm 2009 để chiếm biển của nước khác. Diện tích của đường Lưỡi Bò chiếm tới 2/3 của tổng số 3.5 triệu cây số vuông Biển Đông, bao gồm cả Hòang Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Vậy đảng và nhà nước CSVN đã làm gì để bảo vệ sự vẹn tòan lãnh thổ mà không bị đánh bẹp bởi quân Trung Cộng ở Biển Đông ?

Thứ nhất, về mặt ngọai giao, ngòai phản đối bằng văn bản, họp báo, họp tay đôi trung cấp và cuộc điện đàm duy nhất giữa Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngọai giao Phạm Bình Minh và Ngọai trường Trung Cộng Dương Khiết Trì, không có bất cứ hành động nào của cấp Tổng Bí thư giữa hai đảng. Thủ tướng Việt-Trung cũng không nói chuyện với nhau.

Thậm chí có tin “không chính thức” nói rằng Tổng Bí thư-Chủ tịch Nhà nước Trung Cộng Tập Cận Bình đã không thèm đáp lại đề nghị gặp nhau ở Bắc Kinh của Tổng Bí thư Việt Nam Nguyễn Phú Trọng để thảo luận về vụ giàn khoan HD-981.

Nếu tin này có thật thì liên lạc Việt-Trung đã rẽ sang một hướng rất nghiêm trọng và ông Trọng đã không những bị họ Tập coi thường mà uy tín của ông Trọng cũng không còn với đảng và người dân trong nước.

Diễn đàn quốc tế duy nhất mà Việt Nam đã sử dụng để nói lên lập trường của mình và lên án hành động của Trung Cộng đã diễn ra ngày 11/5 tại thủ đô Nay Pyi Taw, Miến Điện, nước chủ nhà tổ chức Hội nghị ASEAN cấp cao kỳ thứ 24.

Tại đây, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã đọc bài diễn văn chỉ đích danh Trung Cộng đã “Từ ngày 01/5/2014 Trung Quốc đã ngang nhiên đưa giàn khoan nước sâu cùng hơn 80 tàu vũ trang, tàu quân sự và máy bay hộ tống đi vào vùng biển Việt Nam và đã hạ đặt giàn khoan này tại vị trí nằm sâu trên 80 hải lý trong Thềm lục địa và vùng Đặc quyền Kinh tế của Việt Nam theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982.

Các tàu hộ tống bảo vệ giàn khoan của Trung Quốc đã rất hung hăng bắn vòi nước có cường độ mạnh và đâm húc thẳng vào các tàu công vụ, tàu dân sự của Việt Nam, gây hư hại nhiều tàu và làm nhiều người bị thương.”

Ông Dũng nói: “Đây là lần đầu tiên Trung Quốc ngang nhiên đưa giàn khoan vào hạ đặt tại địa điểm nằm sâu trong Thềm lục địa và vùng Đặc quyền Kinh tế của một nước trong ASEAN, là sự vi phạm đặc biệt nghiêm trọng Luật pháp Quốc tế, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 và cũng là sự vi phạm đặc biệt nghiêm trọng Tuyên bố về Ứng xử của các Bên trên Biển Đông (DOC) mà Trung Quốc là một Bên tham gia ký kết.

Hành động cực kỳ nguy hiểm này đã và đang đe dọa trực tiếp đến hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải ở Biển Đông.”

Thủ tướng Dũng cáo buộc Trung Cộng “ không những không đáp ứng yêu cầu chính đáng của Việt Nam mà còn vu khống, đổ lỗi cho Việt Nam và tiếp tục dùng sức mạnh, gia tăng các hành động uy hiếp, xâm phạm ngày càng nguy hiểm và nghiêm trọng hơn.”

Tuy nhiên hy vọng ASEAN sẽ có phản ứng mạnh theo yêu cầu của Việt Nam đã thất bại.

Tổ chức Hiệp hội các nước Đông Nam Á chưa bao giờ đòan kết khi phải đối phó với Trung Cộng vì quyền lợi của mỗi nước khác nhau.

Vì vậy trong lời Tuyên bố chung ngắn ngủi tại Miến Điện kỳ này khối 10 nước ASEAN đã không nêu tên Trung Cộng mà chỉ kêu gọi suông các bên hãy: “Tăng cường hợp tác bảo đảm thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), tuân thủ các nguyên tắc đã được thừa nhận chung của luật pháp quốc tế và Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, đặc biệt kêu gọi tất cả các bên thực hiện kiềm chế và không sử dụng vũ lực, cũng như không tiến hành các hoạt động có thể làm gia tăng căng thẳng và sớm đạt được Bộ Quy tắc về Ứng xử ở Biển Đông (COC) như đã được thể hiện trong Nguyên tắc 6 điểm của ASEAN về Biển Đông.”

Ngay cả Tuyên bố của Chủ tịch (Miến Điện) Hội nghị Cấp cao ASEAN-24 cũng chỉ “bày tỏ quan ngại sâu sắc về các vụ việc đang diễn ra ở Biển Đông” nhưng không chỉ đích danh Trung Cộng là nước đã gây ra cuộc khủng hoảng ở Biển Đông từ ngày 03/05/2014.

Tuyên bố viết: "Chúng tôi khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông. Chúng tôi kêu gọi tất cả các bên tham gia Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) thực hiện đầy đủ và hiệu quả tuyên bố này nhằm tạo môi trường tin cậy và xây dựng lòng tin; thực hiện kiềm chế, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, tuân thủ các nguyên tắc đã được thừa nhận chung của luật pháp quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS). Chúng tôi nhấn mạnh sự cần thiết của việc sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Theo đó, chúng tôi ghi nhận tầm quan trọng của Tuyên bố của các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN về tình hình hiện nay ở Biển Đông, đã được Hội nghị các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN đưa ra ngày 10/05/2014".

Trong Tuyên bố ngày 10/05, các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN đã “yêu cầu các bên liên quan, trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc đã được thừa nhận chung của luật pháp quốc tế và Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, thực hiện kiềm chế và tránh có các hành động có thể làm phương hại đến hòa bình và ổn định ở khu vực; và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.”

Sự kiện ASEAN không công khai nêu tên Trung Cộng đã gây ra cuộc khủng hỏang mới tại Biển Đông bằng hành động đưa giàn khoan dầu khí HD-981 vào sâu bên trong vùng “đặc quyền kinh tế” 200 hải lý (370 cây số) của Việt Nam đã thể hiện chủ trương “trung lập” của ASEAN, nhưng lại đem lại “thắng lợi” cho Trung Cộng.

Ngay từ Hội nghị cấp cao ASEAN năm 2012 tại Nam Vang, Kampuchea, Trung Cộng đã áp lực thành công với Thủ tướng nước chủ nhà Hun Sen để ông này không đưa ra tuyên bố chung của Hội nghị về tình hình Biển Đông.

Lý do vì Bắc Kinh là nguồn tài trợ và đầu tư chính tại Kampuchea với 2.7 tỷ dollars năm 2012. Trong khi mậu dịch Lào-Trung Cộng cũng lên đến 1.728 tỷ dollars năm 2012 nên hai nước Cao Miên-Lào luôn luôn đứng về phiá Bắc Kinh mỗi khi cần bỏ phiếu trong tổ chức ASEAN.

Ngoài Phi Luật Tân, Mã Lai, Tân Gia Ba, Nam Dương, Brunei và Việt Nam, hai nước Thái Lan và Miến Điện cũng có những quen hệ kinh tế đặc biệt với Bắc Kinh nên khối ASEAN chưa bao giờ có thể đòan kết và thống nhất lập trường khi phải đương đấu với Trung Cộng trong vấn đề Biển Đông.

Vì vậy, Bắc Kinh luôn luôn lợi dụng ưu điểm viện trợ và mậu dịch để trì hòan việc thảo luận Bộ Quy Tắc Ứng Xử (COC,Code of Conduct) với ASEAN để không bị ràng buộc pháp lý.

Mục đích của COC là thay thế cho Tuyên bố về Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (DOC,Declaration of Conduct) mà Trung Quốc và khối ASEAN đã ký với nhau ở Nam Vang năm 2002. Văn kiện DOC “không có tính cách pháp lý” nên nước nào cũng có thể “ vi phạm” hay “không cần thi hành” mà không bị xử lý.

Đó là lý do tại sao Trung Cộng đã tự vẽ ra hình Luỡi Bò hay còn gọi là Đường 9 Đoạn nạp cho Liên Hiệp Quốc năm 2009 với tham vọng chiếm ¾ của diện tích 3.5 triệu cây số vuông của Biển Đông mà không bị ASEAN ngăn chặn.

Từ đó, Bắc Kinh đã thao túng và khuấy động làm mất ổn định thường xuyên ở Biển Đông bằng hành động “tự tuyên bố chủ quyền” trên phần biển cuả nước khác.

Bắc Kinh cũng tự cho mình có “quyền lợi cốt lõi” ở Biển Đông và tự coi vùng biển quan trọng này như “ao nhà” của mình. Từ năm 2005, các tầu Hải Giám của Bắc Kinh đã tấn công và ngăn chặn ngư dân các nước trong khu vực, đặc biệt từ Việt Nam đi đánh bắt ở hai vùng biển Hòang Sa và Trường Sa.


NGHE VÀ HÀNH ĐỘNG

Trong cuộc xung đột mới trực tiếp giữa Việt Nam và Trung Cộng về vụ giàn khoan HD-981, Việt Nam vẫn chưa dám đưa Bắc Kinh ra trước tòa án quốc tế và không dám tố cáo Trung Cộng ra trước Liên Hiệp Quốc dù Bắc Kinh đã vi phạm Luật Biển-Liên Hiệp Quốc năm 1982.

Nhiều giới trong nước, kể cả Tiến sỹ Trần Cộng Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ đã nhiều lần khuyên nhà nước nên kiện Trung Cộng ra tòa án Quốc tế như Phi Luật Tân đã làm, nhưng chính phủ Việt Nam không nghe.

Như vậy, bây giờ, sau khi Trung Cộng đã đặt giàn khoan HD-981 vào vùng biển kinh tế của Việt Nam thì liệu việc kiện Bắc Kinh ra Tòa án Công lý Quốc tế hay Tòa Trọng tài Luật biển Liên Hiệp Quốc có qúa trễ không?

Không muộn. Đó là câu trà lời của nhiều chuyên viên, ngược lại còn là cơ hội tốt nhất cho Việt Nam vào lúc này vì bằng chứng giàn khoan HD-981 đã nằm chình ình ra đó.

Nhưng về phiá đảng và nhà nước Việt Nam thì có vẻ như vẫn “lừng khừng” vì lãnh đạo không có lập trường dứt khóat và chia rẽ trong vấn đề đối phó với giàn khoan HD-981 của Trung Cộng.

Lập trường “nhũn như con chi chi” của Chính phủ Việt Nam đã phản ảnh qua lời nói của ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Hội nghị cấp cao ASEAN ngày 11/5/2014 ở Miến Điện.

Ông nói: “Việt Nam cũng luôn chân thành mong muốn cùng với Trung Quốc giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định của Khu vực và Thế giới.”

Ngay cả Tổng Bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng và Ban Chấp hành Trung ương đảng cũng chỉ “theo dõi” và “nghe báo cáo”, trong khi họp Hội nghị Trung ương 9 từ ngày 08 đến 14/05/2014, về việc Trung Cộng đặt giàn khoan HD-981 trong vùng “đặc quyền kinh tế”, vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam.

Tại sao một biến cố quan trọng và cực kỳ nguy hiểm xâm phạm trắng trợn lãnh thổ Việt Nam của Trung Cộng đã gây chấn động dư luận Âu-Á như thế mà không được thảo luận tại Hội nghị 9 ?

Trong diễn văn bế mạc ngày 14/05 (2014), chỉ thấy ông Trọng “nói bâng quơ” rằng: “Trước những diễn biến phức tạp, khó lường trên thế giới, trong khu vực, nhất là tình hình Biển Đông hiện nay, cần có sự quan tâm đặc biệt đối với việc thực hiện nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Xác định rõ những thuận lợi, khó khăn, thách thức đang đặt ra và chủ trương, chính sách, biện pháp cần áp dụng để giữ vững độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển. Nhận định, đánh giá thật sát, đúng về kết quả đấu tranh, đẩy lùi 4 nguy cơ mà Đảng ta đã cảnh báo để có chính sách, biện pháp phù hợp, bảo đảm thực hiện thành công Chiến lược bảo vệ Tổ quốc đã được Hội nghị Trung ương 8 khoá XI ban hành gần đây.”

4 nguy cơ mà ông Trọng nói tới đã được đặt ra tại kỳ họp “giữa nhiệm kỳ” từ 20-25/1-1994 của Ban Chấp hành Trung ương khóa đảng VII thời ông Đỗ Mười. Đó là: “nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nạn tham nhũng và các tệ nạn xã hội; âm mưu và hành động "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch.”

Vấn đề gọi là “nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa” của 20 năm trước đã biến thành “tự diễn biến” và “tự chuyển hoá” trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên dưới thời ông Nguyễn Phú Trọng. Các biến chứng của chữ “tự” là “tự bỏ sinh hoạt đảng”, “tự cho mình quyền không tin vào đảng và chủ nghĩa Cộng sản nữa”, “tự ý ra khỏi đảng” và “tự cho mình quyền không làm theo lệnh đảng, mệnh lệnh của cấp trên.” !

Cũng rất ngạc nhiên là trong diễn văn này, ông Trọng không nói đến giàn khoan HD-981 hay lên án Trung Cộng đã “ngồi” vào biển của Việt Nam. Ông chỉ nói như khách qua đường: “Đặc biệt là, tình hình Biển Đông hiện đang diễn biến rất phức tạp, nghiêm trọng, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải hết sức tỉnh táo, sáng suốt, tăng cường đoàn kết, cả nước một lòng, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.”

Ông Nguyễn Phú Trọng là người lãnh đạo đảng cầm quyền mà chỉ “dám nói” xa xôi như thế trong khi giàn khoan HD-981 của Trung Cộng đã ngồi trong “nhà Việt Nam” thì giá trị lời nói của ông được mấy đồng “nhân tệ” của Trung Cộng” ?

Trong khi ấy thì Thông báo cuối Hội nghị Trung ương 9 cũng chỉ nói chuyện “cưỡi ngựa xem hoa” đến “vô duyên” và “hời hợt lãng nhách” của 200 Ủy viên như thế này: “Ban Chấp hành Trung ương theo dõi sát tình hình, nghe báo cáo của các cơ quan chức năng về việc thực hiện các chủ trương, giải pháp của ta phản đối, đấu tranh đòi phía Trung Quốc phải dừng việc đặt giàn khoan thăm dò dầu khí Hải Dương 981 trong vùng biển nước ta và khẳng định: Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giải quyết những bất đồng, tranh chấp bằng giải pháp hoà bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và những thoả thuận giữa lãnh đạo cấp cao Việt Nam - Trung Quốc; đồng thời giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng kêu gọi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tăng cường đoàn kết, nhất trí, đồng tâm hiệp lực cả nước một lòng vượt qua mọi khó khăn, thách thức, kiên quyết bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để hợp tác và phát triển; phấn đấu hoàn thành các mục tiêu mà Đại hội XI của Đảng đã đề ra, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.”

Nhưng liệu khối 90 triệu người dân khốn khổ đang lo quân Trung Cộng tràn vào nhà như “cá nằm trên thớt” có thể nào mà “đoàn kết, nhất trí, đồng tâm hiệp lực” với một đảng đang “khúm núm” trước quân thù và lãnh đạo thì “nhát như cáy” không dám kiên quyết và dứt khóat với giặc bành trướng phương Bắc trong vụ gìan khoan HD-981?

Khốn nỗi, trong khi ông Trọng và Nhà nước CSVN cứ nhai đi nhai lại mấy chữ vô nghĩa khuyên mọi người hãy “giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển bền vững đất nước” thì Bắc Kinh đã sử dụng “súng đạn” và “vũ khí kinh tế” để buộc Việt Nam phải đồng ý “gác tranh chấp để cùng khai thác” ngay trong vùng biển của Việt Nam!

Các lãnh đạo Việt Nam đã biết âm mưu của Trung Cộng từ lâu nhưng cứ cù cưa không dứt khoát “của anh, của tôi” mà lại chịu lép vế nhượng bộ vì đã lỡ “há miệng mắc quai” và “sập bẫy” Trung Cộng nhiều phen rồi.

Hai trong số này là thỏa hiệp bí mật Thành Đô (Tứ Xuyên) năm 1990 giữa phái đòan Tổng Bí thư đảng Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trường (Thủ tướng) Đỗ Mười và Cố vấn Phạm Văn Đồng họp với Tổng Bí thư đảng Cộng sản Trung Cộng Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng.

Chuyện “cá cắn câu” của đảng CSVN trước đó nằm trong nội dung bức Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Chu Ân Lai năm 1958 nhìn nhận chủ quyền lãnh hải của Trung Cộng, bao gồm cả hai quần đảo Hòang Sa và Trường Sa.

Tiếp đến là các Hiệp định, Hiệp ước, Tuyên bố, Nguyên tắc này kia tứ năm 1999 đến năm 2013 giữa Việt Nam-Trung Cộng đã mở đường cho Bắc Kinh chiếm thêm đất, lấy thêm biển “rất hợp pháp” của Việt Nam.

Hãy nghe Nhà thơ Trần Đăng Khoa nói với báo Giáo Dục hôm 13/05/2014: “Chúng ta đã tôn trọng, thực hiện đúng cam kết, nhưng Trung Quốc luôn nói một đằng làm một nẻo. Cái bi kịch lớn nhất của nước ta là lại phải ở bên cạnh một ông bạn nham hiểm và rất xấu tính. Ở các nước khác trên thế giới, trong đó hầu hết là các nước tư bản, họ sống với nhau rất êm đềm, hòa thuận. Tôi đi từ Pháp sang Đức, từ Pháp sang Bỉ, hay từ Anh sang các nước khác, không thấy có biên giới, không thấy hải quan. Cứ đi thẳng một lèo. Khi nhìn lên biển chỉ đường, thấy dòng chữ khác, mới hay mình đã sang nước khác rồi.

Ngay cả kẻ thù của chúng ta xưa như Pháp và Mỹ, mặc dù rất tàn bạo, nhưng họ không chiếm của ta một mét đất nào. Còn ta với Trung Quốc thì sao? Mang danh anh em “môi hở răng lạnh”, luôn nêu cao 16 chữ vàng, nhưng họ lấn của ta từng gốc cây ngọn cỏ. Họ nắn cả dòng chảy của sông suối để nước xói mòn sang phía ta. Đây là trò rất trẻ con và bẩn thỉu.

Ấy thế rồi cứ như tằm nhấm lá dâu, cả một vùng đất đai cương giới của ta nằm gọn trong túi họ. Xin đơn cử: Cửa Ải Nam quan, cột cây số không, nơi Nguyễn Trãi chia tay cha là Nguyễn Phi Khanh, giờ đã nằm sâu trong đất Trung Quốc đến hàng chục cây số.

Thác Bản Giốc vốn từ bao đời là danh thắng của chúng ta, giờ Trung Quốc đã chiếm một nửa rồi. Rồi Hoàng Sa là của chúng ta, Trung Quốc đã chiếm đóng trái phép từ mấy chục năm nay.

Và bây giờ, Trung Quốc lại đưa giàn khoan khủng, được xem như lãnh thổ di động của Trung Quốc được tàu chiến bảo vệ lấn sâu vào thềm lục địa của ta, rồi ngang nhiên tấn công các tầu thuyền chức năng của ta, vu vạ ta gây hấn với họ. Đó là một hành động ngang ngược và bẩn thỉu nhất. Đúng là một kẻ “vừa ăn cướp vừa la làng”.

Nhà Thơ nổi tiếng Trần Đăng Khoa, có lẽ là người ít nói về chuyện “thế sự nhạy cảm” mà còn trăn trở, nhức nhối như thế thì tại sao cả Ban Chấp hành Trung ương đảng và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là những người “cầm cân nẩy mực” cho cả nước noi theo mà không dám “đụng đến chân lông” Tập Cận Bình trong vụ gian khoan HD-981 thì có còn ra “thể thống” gì nữa không ?

Hay là các ông bà sợ “cởi trói” cho dân để họ được quyền tự do biểu tình chống xâm lăng Trung Cộng khi nào họ muốn chứ không cần phải đợi có “đèn xanh” của đảng cho phép mới làm thì dân sẽ quay ra “lật nhào” các ông bà xuống hố ?

Nhưng nếu sợ rơi xuống hố và sợ mất quyền lợi của mỗi cá nhân mà phải giữ đảng bằng mọi giá, dù phải nô lệ Trung Cộng, thì Tổ quốc không còn là của người Cộng sản nữa.

Phạm Trần
(05/014)

Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
Từ thương trường bước vào chính trường, Donald Trump mang theo cùng một thứ nhãn hiệu: tên ông. Trong thời làm ăn, đó là thương hiệu. Nó in lên cao ốc, chai rượu, thịt bít-tết. Đó là lối tiếp thị của một nhà buôn, ồn ào nhưng vẫn còn nằm trong khuôn khổ tư doanh. Nhưng khi người mang thương hiệu ấy đã thành nguyên thủ quốc gia, câu chuyện đổi tính chất. Nó không còn là quảng cáo nữa. Nó là dấu hiệu về quyền lực và về cách người cầm quyền nhìn quốc gia. Trong nhiệm kỳ thứ hai, tên Trump không chỉ là chữ trên tài sản riêng. Nó bước vào cơ quan công quyền: tòa nhà liên bang mang tên ông, băng-rôn treo mặt ông, chương trình của chính phủ in chữ ký ông, phi trường đổi sang tên ông. Tên một người đang dần đi vào các biểu tượng của quốc gia. Đó là điều mà một nền cộng hòa phải cảnh giác.
Ngày 15 tháng 3 vừa qua, có một sự trùng hợp mà giới quan sát viên quốc tế ít chú ý. Đó là bầu cử quốc hội diễn ra cùng một lúc tại 2 quốc gia cộng sản. Đó là Việt Nam và Triều Tiên. Kết quả hoàn toàn tương đồng và không ngoài dự đoán là đảng CSVN chiếm được 482/500 ghế ( tức 96,47%),Ứng viên độc lập: 18 ghế, Tỷ lệ cử tri đi bầu: 99,7% . Đảng Lao Động Triều Tiên chiếm được 99,93% cử tri bỏ phiếu ủng hộ ứng viên do Đảng Lao Động và các tổ chức liên minh đề cử. Đảng chiếm toàn bộ 687/687 ghế và Tỷ lệ cử tri đi bầu là 99,99%. TT Putin của LB Nga đã chính thức gửi điện mừng tới Kim Jong Un sau bầu cử Triều Tiên, không biết Putin có chúc mừng TBT Tô Lâm hay chưa? Cũng không có thông tin chính thức rằng TBT Tô Lâm của đảng CSVN và TBT Kim Jung Un của đảng Lao Động Triều Tiên, đã có chúc mừng nhau về 2 cuộc chiến thắng “vang dội và vẻ vang” của 2 đảng CS anh em này hay chưa?
Hàng loạt kênh truyền thông và các hãng thông tấn đưa lên đầu trang báo cú ngã ngựa giữa dòng của Bộ Trưởng Tư Pháp Pam Bondi. Đối với một chính quyền, sa thải người đứng đầu Bộ Tư Pháp (DOJ) đương nhiệm là quyết định không nhỏ. Những lý do để các lãnh đạo quốc gia phải thay nội các thường là khi người đó phạm trọng tội không thể dung thứ, qua đời, hoặc chính họ từ nhiệm.
Người Mỹ đang cảm nhận một điều quan trọng: những giới hạn từng giữ quyền lực trong khuôn khổ dân chủ đang bị chọc thủng. Cuộc xuống đường lần này, vì thế, không đơn thuần là phản ứng chính trị, mà là phản xạ tự vệ của một số đông dân chúng nhìn thấy trật tự hiến định bắt đầu bị xê dịch.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.