Hôm nay,  

Ngày Buồn Nhất Đời Tôi

04/04/201500:01:00(Xem: 8697)
Ngày Buồn Nhất Đời Tôi

Huy Vũ
           
Trong đời sống của mỗi người, thường có nhiều ngày buồn, song trong những ngày buồn ấy, tất phải có một ngày buồn nhiều hơn những ngày buồn khác, và ta có thể gọi ngày ấy là ngày buồn nhất đời. Vâng, tôi cũng có một ngày buồn như thế, và tôi gọi ngày đó là “Ngày Buồn Nhất Đời Tôi.” Và nếu có một bạn trẻ, kính lão đắc thọ nào đó, thấy tôi già quá cỡ thợ mộc, nên cắc cớ hỏi: “Cụ ơi, ngày buồn nhất trong đời cụ là ngày nào?” Tôi sẽ không do dự một ly ông cụ nào hết để trả lời ngay rằng: “Ngày 30-04-1975.”
 
Tính từ ngày ấy đến nay, đã bốn mươi năm vật đổi sao dời, song nó dường như vẫn còn mới nguyên trong lòng tôi. Lúc ấy tôi là một quân nhân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và đơn vị tôi phục vụ là Tiểu Khu Châu Đốc.
 
Khoảng 9 giờ sáng ngày hôm ấy, từ nhiệm sở, tôi trở về nhà riêng trong khu cư xá sĩ quan, nằm sau Tòa Án. Hôm ấy là một ngày đẹp trời ở Thị Xã Châu Đốc.  Ánh nắng chan hòa trải dài trên dòng sông Hậu. Chim tung tăng nhẩy nhót trong những chòm cây. Bướm lòng vòng lượn trên những đám cỏ. Xe cộ tấp nập ngược xuôi trên đường Gia Long song song với dòng sông Hậu.
 
Bước vào nhà, là tôi mở ngay radio để nghe tin chiến sự. Ít phút sau, đài Phát Thanh Sàigòn thông báo:
 
Xin chú ý ! Xin chú ý ! Xin đồng bào chú ý ! Tổng Thống Dương Văn Minh sẽ ngỏ lời cùng đồng bào. Xin theo dõi.” 
 
Dựa vào tình hình chiến sự lúc ấy, tôi tiên đoán vị Tân Tổng Thống, kiêm Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa của chúng tôi, sẽ tuyên bố TỔ QUỐC LÂM NGUY, rồi kêu gọi toàn dân và toàn quân đoàn kết CHIẾN ĐẤU ĐẾN GIỌT MÁU CUỐI CÙNG. Ngồi vào bàn ăn, vừa ăn vừa chờ đón nhận những lời “gang thép” của vị Tân Tổng Thống. Chẳng bao lâu sau từ chiếc radio phát ra:
 
Tổng Thống chính quyền Sài Gòn kêu gọi Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà hạ vũ khí, đầu hàng vô điều kiện quân Giải Phóng Miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố, chính quyền Saigòn từ trung ương đến điạ phương, trao lại cho chính quyền Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam.” 
 
Vì không ngờ lại là lệnh buông súng đầu hàng, khiến tôi ngẩn ngơ, ngỡ ngàng, hụt hẫng, chới với. Miếng bánh mì đang nhai trong miệng, bỗng tắc ngẽn nơi cuống họng. Đứng bật dậy, tôi lảo đảo bước tới chiếc giường, rồi thẩy mình lên đó, đau đớn, buồn bã, vật vã, rã rời. 
 
Khi bố tôi mất vào năm 1957, và mẹ tôi qua đời vào năm 1962, tôi buồn đến nỗi, ngày quên ăn, đêm quên ngủ, nhưng chưa đến nỗi quyên sinh.
 
Khi người tôi yêu lên xe hoa về nhà chồng, tôi cũng buồn man mác, đi đi, lại lại lòng vòng trong phòng như một cái xác không hồn, song chưa hề nghĩ tới việc “mua ngay thuốc chuột uống cho rồi đời.”
 
Khi thi tú tài và cử nhân tôi cũng rớt lên rớt xuống, và sau mỗi lần hỏng thi tôi cũng buồn đến thúi ruột, song tôi thường lấy câu “học tài thi phận” để khuây dần buồn đau. Chưa một lần “hỏng thi” nào, tôi buồn đến nỗi phải than thân trách phận như cụ Tú Xương:
 
“Bụng buồn còn muốn nói năng chi
Đệ nhất buồn là cái hỏng thi
Một việc văn chương thôi cũng nhảm
Trăm năm thân thế có ra gì”
 
Song ngày 30.04.75, sau khi nghe Tổng Thống Dương Văn Minh hạ lệnh buông súng đầu hàng, tôi buồn ghê gớm, buồn man mác, buồn tan tác cả cõi lòng. Nỗi buồn của tôi hôm ấy, không phải là nỗi buồn tầm thương như “chiều chủ nhật buồn nằm trong căn gác đìu hiu” mà buồn khủng khiếp, và buồn hơn cả tổng số những ngày buồn đã xẩy ra trong đời tôi trước đó cộng lại, buồn đến nỗi tôi muốn quyên sinh.
 
Giá hôm ấy tôi ở nhà một mình, chắc tôi đã kết thúc đời tôi bằng một viên đạn súng colt mà Tiểu Khu Châu Đốc đã cấp phát cho tôi theo cấp số, treo ngay ở đầu giường. Tôi có thừa can đảm cầm khẩu colt bắn một viên đạn vào đầu tự sát, song tôi lại thiếu can đảm thực hiện điều ấy trước mặt nhà tôi và ba đứa con thơ của tôi. 
 
Không buồn làm sao được, khi thấy hàng trăm ngàn người sống ở miền Nam như tôi đã không tiếc xương máu, chiến đấu chống lại  Cộng Sản Bắc Việt do ông Hồ và các đồng chí của ông lãnh đạo, để bảo vệ nhân dân miền Nam tiếp tục được sống trong tự do, dân chủ, hòa bình và no ấm. Cuộc chiến cao cả ấy đã thất bại trong đắng cay, nhục nhã, tức tưởi, ngậm ngùi. Tất cả những công lao và sự hy sinh to lớn đó, bỗng tan biến vào khoảng không, như “dã tràng xe cát biển Đông.”
 
Không buồn sao được, khi nhận ra rằng, cuộc sống của tôi, của vợ con tôi, của bạn bè tôi, của đồng đội tôi, của đồng bào miền Nam tôi sắp sửa bước vào một giai đoạn cực kỳ bi thảm và đen tối. Sở dĩ tôi nhận ra được điều này, không phải vì tôi quá bi quan hay hoang tưởng với hiện tình đất nước, mà vì những gì chính tai tôi đã nghe, chính mắt tôi đã thấy, và chính gia đình tôi và thân nhân của tôi đã phải gánh chịu, trong suốt thời gian mười năm sống trong vùng, được gọi là vùng “kháng chiến” với ông Hồ và các đồng chí của ông ở miền Bắc trước năm 1954.
 
Vâng, tôi đã thấy, ngay sau khi cướp được chính quyền từ tay người Nhật, ông Hồ và các đồng chí của ông đã giết một cách không thương tiếc hàng ngàn người mà họ cho là chó săn của Nhật, tay sai của Pháp, tay chân của triều đình phong kiến.  Trong số này, có những nhà văn, nhà báo, nhà giáo nổi tiếng như Phạm Quỳnh (1892-1945), Tạ Thu Thâu (1906-1945), Dương Quảng Hàm (1898-1946),  Khái Hưng (1896-1947)  v..v..
 
Vâng, tôi đã thấy ông Hồ và các đồng chí của ông bắt cóc và thủ tiêu hàng nghìn người mà họ coi là thành phần phản động, bằng nhiều hình thức vô cùng dã man tàn ác, như trói chân tay bỏ vào bao bố, hay cột vào một thanh tà-vẹt rồi thả xuống dòng sông hay ao hồ.
 
Vâng, tôi đã thấy, ông Hồ và tay chân của ông bắt bớ, giam cầm và giết hại hàng trăm ngàn người được cho là đảng viên của các đảng phái quốc gia, là một lực lượng cản đường ngăn lối họ tiến nhanh tiến mạnh lên Xã Hội Chủ Nghĩa, nên phải giết để trừ hậu họa.
 
Vâng, tôi đã thấy, sau khi giành được nhng thắng lợi to lớn về quân sự trên đất Bắc, ông Hồ và các đồng chí của ông tin rằng ngày chiến thắng cuối cùng đã gần kề, nên đã cho thực thi ngay cuộc Cách Mạng Ruộng Đất, ĐÀO TẬN GỐC, TRỐC TẬN RỄ thành phần TRÍ – PHÚ – ĐỊA – HÀO. Đau buồn thay, những người mà ông Hồ và tay chân của ông giết hại, lại là những người đã đóng góp công sức nhiều nhất cho sự thành công của ông Hồ trong cuộc kháng chiến chống Pháp.  Trong cuộc cách mạng “Trời Long Đất Lở” này, ông Hồ và đồng bọn đã giết khoảng hai trăm ngàn Trí, Phú, Địa, Hào và tịch thu hàng triệu mẫu ruộng của họ để chia cho nông dân nghèo. Song khốn nạn thay, chính những người dân nghèo được chia ruộng này, cũng bị ông Hồ và các đồng chí của ông lường gạt một cách cay đắng, vì số ruộng đất mà họ được chia và số ruộng ít ỏi mà họ có thể có trước đó, chỉ một vài năm sau đều phải cống nạp vào hợp tác xã. Người nông dân nghèo tay trắng lại trở về với trắng tay, và phải đi làm thuê cho hợp tác xã, tính giờ trả công rẻ mạt, nên phải sống trong cảnh bần hàn đói rách hơn cả những ngày bị “địa chủ bóc lột” trước đây. Họ đã mô tả việc đi làm thuê của họ cho hợp tác xã bằng những lời lẽ vô cùng chua chát:
 
Đi làm hợp tác hợp te
 Không đủ miếng giẻ mà che cái lờ
 
Vâng, qua những tên bộ đội cộng sản Bắc Việt bị bắt làm tù binh ở Tiểu Khu hay ra hồi chánh tại Ty Chiêu Hồi Châu Đốc vào những năm đầu thập niên 1970, tôi được biết thêm rằng, ông Hồ và các đồng chí của ông đã áp dụng chế độ hộ khẩu khắc nghiệt trên toàn lãnh thổ miền Bắc để quản lý và kiểm soát khâu sản xuất và phân phối thực phẩm. Từ củ khoai lang đến củ khoai mì, từ hạt bắp đến hạt gạo, từ lạng muối tới cân đường, từ mớ rau đến ký thịt vân vân… đều do đảng và nhà nước phân phối và cung cấp cho từng đầu người trong mỗi gia đinh. Số lượng thực phẩm được cung cấp, hay phân phối, hoặc bán cho mỗi miệng ăn tùy thuộc vào số lượng mà họ có trong kho, chứ không tùy thuộc vào nhu cầu của của người tiêu thụ. Người nào, nhà nào không được đảng và nhà nước phân phối và cung cấp thực phẩm là chắc chắn sẽ chết đói, vì không thể xin hay mua thực phẩm từ bất kỳ nguồn cung cấp nào khác.
 
Chế độ hộ khẩu đã trở thành một lợi khí vô cùng hữu hiệu trong việc ép buộc dân chúng miền Bắc phải triệt để tuân hành tất cả những gì mà đảng cộng sản muốn người dân phải làm. Đảng gọi phải dạ, đảng bảo phải vâng. Một nhà văn miền Bắc đã ví von (có lẽ hơi quá đáng) rằng, người miền Bắc vào những năm tháng ấy tương tự như những con chó ngoan ngoãn một mực tuân theo lời chủ: “Bảo vẫy đuôi, vẫy. Bảo sủa, sủa. Bảo cắn, cắn. Bảo ăn cứt, ăn.”
 
Con cái đến tuổi nhập ngũ hay đến lượt đi dân công, chính quyền địa phương không cần nhắc nhở, bố mẹ của chúng tự động ép buộc chúng phải “hăng hái” lên đường đi làm nhiệm vụ, dù họ biết rõ rằng, con cái họ ra đi “đã mấy người trở lại,”  song đó là chuyện “hạ hồi phân giải.”  Còn chuyện trước mắt là, cả gia đình già, trẻ, lớn bé sẽ chết đói, vì “sổ mua gạo” cho toàn gia đình bị cúp, nếu con em họ trốn tránh nghĩa vụ mà đảng và nhà nước đã “ưu ái” dành cho.
 
Vào ngày 30-04-1975, hầu hết những điều mà tôi đã nghe và đã thấy ông Hồ và các đồng chí cộng sản của ông thực thi ở miền Bắc sau năm 1945 cũng như sau năm năm 1954, lại một lần nữa lướt qua đầu tôi như một cuốn phim chiếu chậm. Hình ảnh, của cuốn phim chiếu chậm này đã thầm bảo tôi rằng, ông Lê Duẩn và đồng bọn sẽ áp dụng đường lối và chính sách mày cho miền Nam là điều chắc như đinh đóng cột vào những ngày sắp tới. Do đó tôi tin rắng, vào những ngày tới những người có dính líu hay liên hệ với chính quyền Việt Nam Cộng Hòa như tôi và các bạn đồng ngũ của tôi sẽ bị thủ tiêu, giết hại hay bị tống vào những trại tù cải tạo cho chết dần chết mòn. Vợ con tôi và đồng bào miền Nam tôi sẽ khốn đốn ê chề và sẽ trở thành những con chó mới của cái đảng cộng sản chó đẻ. Nói một cách khác là, gia đình tôi và miền Nam của tôi sẽ bắt đầu bước vào một giai đoạn khốn nạn nhất và đen tối nhất chưa từng có trong lịch sử trường tồn của dân tộc.
 
Nỗi buồn của tôi vào ngày 30-04-1975, cao như núi, dài như sông, mênh mông như biển cả, nên tôi mạo muội đặt cho nó cái tên: “Ngày Buồn Nhất của Đời Tôi.
 
Huy Vũ

.
,

Dĩ nhiên, mỗi người Mỹ hôm nay sẽ có cách riêng để hiểu và thể hiện lòng yêu nước của mình. Lễ Độc Lập năm nay còn đánh dấu cột mốc 250 năm ngày một bản Tuyên ngôn đặt nền cho nước Mỹ ra đời – vì vậy, hai chữ “lòng yêu nước” lại trở thành khẩu hiệu đầu môi. Nhưng giữa pháo bông và diễu hành, giữa những lá cờ bay trên sân vận động và những đứa trẻ từ chối hát quốc ca, người Mỹ nói chung, và người Mỹ gốc Việt nói riêng thật sự nghĩ gì về lòng ái quốc?
Ngày 4 Tháng Bảy năm nay, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tròn 250 tuổi. Đó là một con số thiêng liêng. Một phần tư thiên niên kỷ. Người Mỹ nào cũng hiểu rằng ngày 4 Tháng Bảy mang ý nghĩa lớn lao hơn nhiều so với cá nhân của mỗi người, ở một góc độ nào đó. Đó là dịp để tôn vinh nền dân chủ và vai trò công dân – ai cũng bình đẳng trong nền dân chủ ấy. George Washington thấu hiểu sâu sắc điều này. Trong bản di chúc của mình, ông tự mô tả bản thân là “một công dân Hoa Kỳ, và từng là tổng thống của quốc gia này.” Ông trân trọng danh phận công dân Mỹ, một danh xưng mà chính ông cùng các nhà cách mạng Mỹ khác đã góp phần tạo dựng, và coi trọng vị thế đó hơn cả vinh dự nhất thời của chức vụ tổng thống. Trong Tuyên Ngôn Độc Lập, Abraham Lincoln từng nói rằng mọi quan điểm chính trị của ông đều "bắt nguồn từ những tư tưởng được thể hiện trong Tuyên Ngôn Độc Lập.” Ông tin tưởng tuyệt đối sứ mệnh của nước Mỹ là trút bỏ "gánh nặng khỏi đôi vai mọi người.”
Trong chính trị đương đại, có hai mô hình dân chủ chân chính. Đó là tổng thống chế như tại Hoa Kỳ và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Hoa Kỳ như Brasil, Argentina, hay quốc hội chế (hoặc đại nghị chế) tại Anh Quốc và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Anh Quốc như Canada, Úc.
Cách đây mười năm, ngày 23 tháng 6 năm 2016, với khẩu hiệu chủ đạo “Người dân phải giành lại quyền kiểm soát”, phe vận động Brexit đã muốn giành lại quyền tự chủ mà theo họ đã bị Liên minh châu Âu (EU) tước đoạt, đồng thời kiểm soát chặt chẽ hơn biên giới của nước Anh...
Sự khác biệt giữa chủ nghĩa xã hội dân chủ và chủ nghĩa cộng sản là một hệ thống giữ gìn dân chủ và một hệ thống hủy diệt dân chủ. Chủ nghĩa cộng sản, như đã thực sự được dựng lên trong suốt thế kỷ 20, nghĩa là sự cai trị độc đảng, việc xóa bỏ sở hữu tư nhân, một nền kinh tế chỉ huy, và sự trấn áp bất đồng chính kiến cùng tôn giáo. Chủ nghĩa xã hội dân chủ nghĩa là thắng cử, mở rộng nhà nước phúc lợi, và chấp nhận – theo đúng định nghĩa – rằng bạn có thể bị phế truất bằng lá phiếu. Cái thứ nhất chấm dứt dân chủ, cái thứ hai phụ thuộc vào dân chủ. Toàn bộ ý nghĩa của chữ dân chủ, được thêm vào một cách có chủ ý từ một thế kỷ trước, chính là để đánh dấu bức tường ngăn cách đó.
Trong một cuộc hỏi đáp về thỏa thuận Iran, Tổng thống Donald Trump được hỏi một câu rất căn bản: ông có đưa văn kiện này ra Quốc hội hay không? Câu trả lời: “Chưa từng nghĩ tới. Nhưng sẽ làm.” Chính vế đầu mới đáng nói.Trong một nền dân chủ hiến định, Quốc hội không phải là điều “nghĩ tới sau”. Nhất là với những quyết định liên quan đến chiến tranh, hòa bình và đối ngoại — những lĩnh vực mà Hiến pháp không trao trọn cho một cá nhân.
Phó Tổng thống Hoa Kỳ JD Vance hôm nay Chủ nhật đến Thụy Sĩ để mở màn vòng thương thuyết với các giới chức cao cấp của Iran, với kỳ vọng nối dài một thỏa ước đình chiến hãy còn mong manh, nhằm chặn lại cuộc chiến đang làm đảo lộn trật tự Trung Đông. Cuộc họp bốn bên giữa Hoa Kỳ, Iran, Pakistan và Qatar tại Geneva được xem như cơ hội hiếm hoi để cứu vãn hòa bình trên giấy, trong khi ngoài chiến trường, tiếng súng và những toan tính quyền lực vẫn chưa chịu lắng. Trong khi giới thương thuyết ngồi lại ở Geneva, những con số dưới đây cho thấy cái giá thực sự của cuộc chiến đối với các bên tham chiến, với cả vùng, và với phần còn lại của thế giới.
Năm 1948, trên đảo Jura, Scotland, George Orwell viết lời sau đây trong kiệt tác 1984: “Cho dù anh có viết ‘ĐẢ ĐẢO ANH CẢ’ hay không viết, cũng chẳng thay đổi được gì. Cho dù anh có tiếp tục ghi chép, hay bỏ dở cuốn nhật ký, cũng chẳng thay đổi được gì. Cảnh sát Tư Tưởng sớm muộn gì cũng sẽ tóm anh…”
Từ lâu, giới lãnh đạo Nga vẫn tự hào rằng nước này tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong đời sống chính trị quốc tế. Niềm tin đó dựa trên những lý do như vị thế thành viên thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, tư cách cường quốc hạt nhân và ảnh hưởng đáng kể đối với các nước thuộc Xô Viết cũ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, thực tế chuyển biến đã làm lung lay các kỳ vọng đó...
Nếu đến hôm nay người ta vẫn phải thí điểm những “phường xã hội chủ nghĩa”, thì điều đó chính là bằng chứng rõ ràng nhất rằng công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam chưa từng đạt được mục tiêu đã đề ra. Lịch sử có thể khoan dung với những sai lầm. Nhưng lịch sử sẽ không tha thứ cho việc kéo dài một sai lầm suốt nhiều thế hệ mà vẫn từ chối thừa nhận nó.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.