Hôm nay,  

Thế Sự Đảo Điên

9/5/201500:00:00(View: 7784)
Khi Bắc Kinh Ăn Mừng Thắng Nhật Thì Nước Mỹ Nên Ăn Năn

Trong cuộc biểu dương khí thế Trung Quốc vào ngày Thứ Năm mùng ba vửa qua khi Bắc Kinh ăn mừng chiến thắng chống Phát xít Nhật, người vắng mặt lẫy lừng không phải là Mao Trạch Đông mà là Tưởng Giới Thạch!

Trước hết, xin hãy chiều lòng ban tổ chức, là Tập Cận Bình và toàn ban, mà nói về ấn tượng Quang diện Trung Hoa mà họ muốn tỏa sáng cho thế giới chiêm ngưỡng:

Khí trời Bắc Kinh được khai quang, tin tức tài chánh được đông lạnh, cổ phiếu được nâng giá. Tương lai là sự dũng mãnh huy hoàng của Giải phóng quân, với 12 ngàn lính cao to trẻ đẹp, 500 thiết vận xa đủ loại, 200 chiến đấu cơ siêu thanh và những võ khí hiện đại nhất được phô diễn. Bắc Kinh bày ra nhiều lớp hỏa tiễn có thể xuyên thủng căn cứ Okinawa ở gần hay Guam ở xa và đánh chìm hàng không mẫu hạm của Mỹ. Sợ thế gian - và tình báo quốc tế - không hiểu khả năng của dàn ám khí siêu hạng và ý chí gián chỉ của Thiên triều, ban tổ chức cẩn thận dán nhãn lên từng võ khí và hải quân của Bắc Kinh gửi năm chiến hạm vào Eo biển Bering, lờn vờn trong hải phận Hoa Kỳ, cách Alaska dưới 12 hải lý, khi Barack Obama qua đó nói chuyện nhiệt hóa địa cầu!

Bắc Kinh vừa gửi Tuyên ngôn Quật khởi cho Hoa Kỳ. Nước Mỹ sẽ trả gia rất đắt nếu xớ rớ vào vùng trái độn quân sự do Bắc Kinh vẽ ra trên không gian Á Châu. Hết rồi, những trận địa chiến như ở Triều Tiên. Cũng hết rồi, khả năng tung hoành của Hoa Kỳ như đã từng thấy tại Iraq vào năm 1991 hay 2001. Á Châu từ nay đã có chủ.

Đấy là lúc mà những người có trí nhớ tại Hoa Kỳ tần ngần nhìn lại nước Mỹ.

Họ có thể đã quên Tổng thống Cộng Hòa Theodore Roosevelt và Chiến tranh Nga-Nhật năm 1905 với Giải Nobel Hòa Bình, nhưng không quên được Tổng thống Roosevelt kia, bên đảng  Chủ….

Tháng 11 Năm 1943, khi đến Cairo của xứ Ai Cập dự thượng đỉnh về chiến lược chống Nhật tại Á Châu với lãnh tụ Anh là Thủ tướng Winston Churchill cùng lãnh tụ Trung Hoa Dân Quốc là Đại thống tướng Tưởng Giới Thạch, Franklin D. Roosevelt không che giấu sự khó chịu với họ Tưởng. Chẳng khác gì ác cảm với Tướng Charles de Gaulle của Pháp. Ông nói thầm với một vị chỉ huy quân lực Mỹ tại Trung Hoa là Thiếu tướng Joseph Stilwell, rằng “nếu không thể đi với Tưởng mà cũng chẳng thay được Tưởng thì có còn cách vĩnh viễn bỏ Tưởng”.

Tướng Stilwell hiểu câu hỏi và chỉ thị của thượng cấp: “Ông biết tôi muốn gì chứ? Hãy tìm ra tay nào mình xử lý được.” Trở về Trùng Khánh, Stilwell tìm cách thi hành mệnh lệnh mờ ám qua lối nói mờ ảo của Tổng thống.

Người thực hiện việc đó là Tướng Frank “Pinky” Dorn với hai ba kế hoạch dàn dựng trong đầu. Một là Tưởng Giới Thạch sẽ rớt máy bay khi thị sát căn cứ huấn luyện Ramgarh tại vùng Đông Bắc Ấn Độ. Hai là dùng lại mưu đánh độc dược bằng chất botulinum mà Stilwell đã ấp ủ trong đầu từ trước. Y như Roosevelt, Stilwell không chịu được Tưởng Giới Thạch.

May là họ không thành công! Tổng thống Ngô Đình Diệm không được may như vậy.

Lý do dễ hiểu mà Roosevelt không chấp nhận. Dưới con mắt họ Tưởng, Nhật là bệnh ngoài da, Cộng mới là bệnh nội tạng. Người Mỹ chẳng hiểu rằng Hoa Kỳ chỉ nhập cuộc Á Châu từ cuối năm 1941. Tưởng Giới Thạch thì phải đương đầu với Nhật từ rất sớm, đã hy sinh các sĩ quan ưu tú nhất trong trận đánh đẫm máu ở Thượng Hải năm 1937 và rải quân để cầm chân một triệu lính Nhật trên các chiến trường Hoa lục cho Mỹ tổng phản công từ Thái Bình Dương. Nhưng tội của Tưởng nhìn ra sự lớn mạnh của đảng Cộng sản Trung Hoa nên giữ các đơn vị thiện chiến nhất của mình để chặn đường bành trướng của Mao lên mạn Bắc.

Họ Tưởng sống đủ lâu - mất năm 1975 tại Đài Loan, hưởng thọ 87 tuổi - để thấy ra điều ấy. Khi Nhật bị Mỹ đánh bại thì các đơn vị của mình tại Mãn Châu lại bị cầm chân vì lệnh ngưng bắn của Tổng thống Harry Truman, rồi bị Mao tiêu diệt vào cuối năm 1948. Chuyện sau này là lịch sử: Quốc dân đảng bại trận phải chạy qua Đài Loan, Mao vào Bắc Kinh thiết lập một chế độ còn hà khắc hơn Phát xít Nhật, độc tài hơn Tưởng. Và là đồng minh chiến lược của Liên bang Xô viết cho tới 1969.


Roosevelt chết sớm trong hào quang rạng ngời vào năm 1945 nên không biết. Các sử gia Mỹ thì mù lòa cận thị mấy chục năm nên cũng lải nhải luận điệu chống Tưởng cho đến sau này. Mỹ tốn quân đánh bại Nhật Bản, khinh miệt đồng minh rồi hy sinh binh lính trong trận chiến Cao Ly với Tầu, Tưởng mang tiếng bại trận và Mao là lãnh tụ đã đại thắng Phát xít Nhật!

Thế giới đảo điên.

Chưa đủ phi lý, giữa hai trái bom nguyên tử của Mỹ, mùng bảy Tháng Tám năm 1945, Liên Xô mới khai chiến với Nhật và đưa quân vào cướp luôn các quần đảo Chishima tại miền Bắc của Nhật. Sau đó, Hoa Kỳ giải giới Nhật Bản nhưng vẽ lại bản đồ chống đà bành trướng của khối cộng sản Nga-Hoa tại Đông Á và kéo Việt Nam vào cuộc. Rồi lại kết giao với Mao từ năm 1972 để chống Liên Xô, nhân tiện cho một tiền đồn chống cộng xuống biển là Việt Nam Cộng Hòa và đạp Trung Hoa Dân Quốc ra khỏi Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc để nhường ghế cho Bắc Kinh.

Ngày nay, Nga Hoa đề huề ăn mừng chiến thắng chống Nhật trên khán đài và Tập Cận Bình biểu dương khí thế chống Mỹ!

Nhưng hình như là lịch sử còn phi lý hơn thế.

Từ Tháng Hai 1947, Tưởng Giới Thạch đã đàn áp dân Đài Loan để có một địa bàn mới. Sau 1949 thì đem vào đó nhân sự Quốc dân đảng và giấc mơ Quang phục Trung Hoa (“hồi phục đại lục” là khẩu hiệu chính thức) để thiết lập chế độ mới như một bàn đạp quật khởi. Con trai ông, Tưởng Kinh Quốc, được Liên Xô huấn luyện, là người tiếp nối sự nghiệp đó nhưng với một thay đổi lớn: áp dụng kinh tế thị trường để phát triển quốc gia mà cũng tự chuyển hóa dần sang chế độ dân chủ.

Với thời gian, giấc mơ quang phục của những người đến từ Hoa lục càng phai lạt thì đời sống người dân càng cải thiện. Dân bản địa Trung Hoa có thể tạm quên vụ tàn sát năm xưa – Viện Bảo tàng và Công viên tưởng niệm Biến cố 228 (ngày 28 Tháng Hai) vẫn còn đó – nhưng họ thấy gắn bó với một tương lai chẳng còn liên hệ gì tới Hoa lục. Năm 1996, Đài Loan có cuộc bầu cử Tổng thống dân chủ, lần đầu tiên theo thể thức phổ thông đầu phiếu, và dù có bị Bắc Kinh uy hiếp, người dân vẫn đội bom đi bầu và Lý Đăng Huy, người bản địa thuộc Quốc dân đảng, là Tổng thống dân chủ đầu tiên của lịch sử Trung Hoa.

Nhưng Tiến sĩ Lý Đăng Huy cảm thông với ước mơ của dân bản địa, rồi vì có ý tiến tới việc ly khai mà ra khỏi Quốc dân đảng. Đảng Dân Tiến tiếp tục chiều hướng độc lập đó và gây khó khăn cho mọi người.

Đài Loan mà tuyên bố độc lập thì cả cái kiến trúc giả tạo “Nhất quốc Lưỡng chế” – một nước Trung Hoa hai chế độ - sẽ sụp đổ. Bắc Kinh, Hoa Kỳ và Quốc dân đảng đều không muốn vậy. Sau hai nhiệm kỳ Tổng thống của Trần Thủy Biển thuộc đảng Dân Tiến (2000-2008), Quốc dân đảng thắng cử và Tổng thống Mã Anh Cửu đảo ngược lập trường, có chánh sách hợp tác khắng khít hơn với Bắc Kinh.

Kết quả cũng lại là một sự đảo lộn.

Bắc Kinh không hề thay đổi, gây ra vụ khủng hoảng tại Hong Kong khiến dân Đài Loan thấy ra thân phận của mình nếu được “hồi quy cố quốc” như Hong Kong từ năm 1997. Họ không tin vào lời đường mật của Bắc Kinh và Quốc dân đảng sắp đại bại trong cuộc bầu cử vì mối giao duyên với Bắc Kinh.

Trong chuỗi biến động dằng dặc này – 70 năm thì cũng đủ dài – Hoa Kỳ nghĩ sao về những đảo điên lập trường của mình trong một thế giới quá phức tạp? *

Quá trẻ để có thể suy nghĩ chín chắn và nhìn ra những hậu qủa bất lường trong lịch sử. Nhưng cũng đủ già để thấy ra sự nông cạn của Roosevelt. Và nếu lãnh đạo Trung Quốc vẫn cho rằng Mao Trạch Đông được 70% tích cực và 30% tiêu cực lúc cuối đời thì các sử gia Mỹ cũng nên nhìn lại nhân vật vắng bóng trên khán đài thắng Nhật: Tưởng Giới Thạch. Cũng theo bảng điểm 70/30?

Không phải ngẫu nhiên mà dân Đài Loan ngày nay lại thấy gần Nhật hơn Tầu! Họ giàu kinh nghiệm máu xương hơn dân Mỹ.

Dĩ nhiên, mỗi người Mỹ hôm nay sẽ có cách riêng để hiểu và thể hiện lòng yêu nước của mình. Lễ Độc Lập năm nay còn đánh dấu cột mốc 250 năm ngày một bản Tuyên ngôn đặt nền cho nước Mỹ ra đời – vì vậy, hai chữ “lòng yêu nước” lại trở thành khẩu hiệu đầu môi. Nhưng giữa pháo bông và diễu hành, giữa những lá cờ bay trên sân vận động và những đứa trẻ từ chối hát quốc ca, người Mỹ nói chung, và người Mỹ gốc Việt nói riêng thật sự nghĩ gì về lòng ái quốc?
Ngày 4 Tháng Bảy năm nay, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tròn 250 tuổi. Đó là một con số thiêng liêng. Một phần tư thiên niên kỷ. Người Mỹ nào cũng hiểu rằng ngày 4 Tháng Bảy mang ý nghĩa lớn lao hơn nhiều so với cá nhân của mỗi người, ở một góc độ nào đó. Đó là dịp để tôn vinh nền dân chủ và vai trò công dân – ai cũng bình đẳng trong nền dân chủ ấy. George Washington thấu hiểu sâu sắc điều này. Trong bản di chúc của mình, ông tự mô tả bản thân là “một công dân Hoa Kỳ, và từng là tổng thống của quốc gia này.” Ông trân trọng danh phận công dân Mỹ, một danh xưng mà chính ông cùng các nhà cách mạng Mỹ khác đã góp phần tạo dựng, và coi trọng vị thế đó hơn cả vinh dự nhất thời của chức vụ tổng thống. Trong Tuyên Ngôn Độc Lập, Abraham Lincoln từng nói rằng mọi quan điểm chính trị của ông đều "bắt nguồn từ những tư tưởng được thể hiện trong Tuyên Ngôn Độc Lập.” Ông tin tưởng tuyệt đối sứ mệnh của nước Mỹ là trút bỏ "gánh nặng khỏi đôi vai mọi người.”
Trong chính trị đương đại, có hai mô hình dân chủ chân chính. Đó là tổng thống chế như tại Hoa Kỳ và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Hoa Kỳ như Brasil, Argentina, hay quốc hội chế (hoặc đại nghị chế) tại Anh Quốc và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Anh Quốc như Canada, Úc.
Cách đây mười năm, ngày 23 tháng 6 năm 2016, với khẩu hiệu chủ đạo “Người dân phải giành lại quyền kiểm soát”, phe vận động Brexit đã muốn giành lại quyền tự chủ mà theo họ đã bị Liên minh châu Âu (EU) tước đoạt, đồng thời kiểm soát chặt chẽ hơn biên giới của nước Anh...
Sự khác biệt giữa chủ nghĩa xã hội dân chủ và chủ nghĩa cộng sản là một hệ thống giữ gìn dân chủ và một hệ thống hủy diệt dân chủ. Chủ nghĩa cộng sản, như đã thực sự được dựng lên trong suốt thế kỷ 20, nghĩa là sự cai trị độc đảng, việc xóa bỏ sở hữu tư nhân, một nền kinh tế chỉ huy, và sự trấn áp bất đồng chính kiến cùng tôn giáo. Chủ nghĩa xã hội dân chủ nghĩa là thắng cử, mở rộng nhà nước phúc lợi, và chấp nhận – theo đúng định nghĩa – rằng bạn có thể bị phế truất bằng lá phiếu. Cái thứ nhất chấm dứt dân chủ, cái thứ hai phụ thuộc vào dân chủ. Toàn bộ ý nghĩa của chữ dân chủ, được thêm vào một cách có chủ ý từ một thế kỷ trước, chính là để đánh dấu bức tường ngăn cách đó.
Trong một cuộc hỏi đáp về thỏa thuận Iran, Tổng thống Donald Trump được hỏi một câu rất căn bản: ông có đưa văn kiện này ra Quốc hội hay không? Câu trả lời: “Chưa từng nghĩ tới. Nhưng sẽ làm.” Chính vế đầu mới đáng nói.Trong một nền dân chủ hiến định, Quốc hội không phải là điều “nghĩ tới sau”. Nhất là với những quyết định liên quan đến chiến tranh, hòa bình và đối ngoại — những lĩnh vực mà Hiến pháp không trao trọn cho một cá nhân.
Phó Tổng thống Hoa Kỳ JD Vance hôm nay Chủ nhật đến Thụy Sĩ để mở màn vòng thương thuyết với các giới chức cao cấp của Iran, với kỳ vọng nối dài một thỏa ước đình chiến hãy còn mong manh, nhằm chặn lại cuộc chiến đang làm đảo lộn trật tự Trung Đông. Cuộc họp bốn bên giữa Hoa Kỳ, Iran, Pakistan và Qatar tại Geneva được xem như cơ hội hiếm hoi để cứu vãn hòa bình trên giấy, trong khi ngoài chiến trường, tiếng súng và những toan tính quyền lực vẫn chưa chịu lắng. Trong khi giới thương thuyết ngồi lại ở Geneva, những con số dưới đây cho thấy cái giá thực sự của cuộc chiến đối với các bên tham chiến, với cả vùng, và với phần còn lại của thế giới.
Năm 1948, trên đảo Jura, Scotland, George Orwell viết lời sau đây trong kiệt tác 1984: “Cho dù anh có viết ‘ĐẢ ĐẢO ANH CẢ’ hay không viết, cũng chẳng thay đổi được gì. Cho dù anh có tiếp tục ghi chép, hay bỏ dở cuốn nhật ký, cũng chẳng thay đổi được gì. Cảnh sát Tư Tưởng sớm muộn gì cũng sẽ tóm anh…”
Từ lâu, giới lãnh đạo Nga vẫn tự hào rằng nước này tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong đời sống chính trị quốc tế. Niềm tin đó dựa trên những lý do như vị thế thành viên thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, tư cách cường quốc hạt nhân và ảnh hưởng đáng kể đối với các nước thuộc Xô Viết cũ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, thực tế chuyển biến đã làm lung lay các kỳ vọng đó...
Nếu đến hôm nay người ta vẫn phải thí điểm những “phường xã hội chủ nghĩa”, thì điều đó chính là bằng chứng rõ ràng nhất rằng công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam chưa từng đạt được mục tiêu đã đề ra. Lịch sử có thể khoan dung với những sai lầm. Nhưng lịch sử sẽ không tha thứ cho việc kéo dài một sai lầm suốt nhiều thế hệ mà vẫn từ chối thừa nhận nó.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.