Hôm nay,  

Thế Sự Đảo Điên

05/09/201500:00:00(Xem: 7799)
Khi Bắc Kinh Ăn Mừng Thắng Nhật Thì Nước Mỹ Nên Ăn Năn

Trong cuộc biểu dương khí thế Trung Quốc vào ngày Thứ Năm mùng ba vửa qua khi Bắc Kinh ăn mừng chiến thắng chống Phát xít Nhật, người vắng mặt lẫy lừng không phải là Mao Trạch Đông mà là Tưởng Giới Thạch!

Trước hết, xin hãy chiều lòng ban tổ chức, là Tập Cận Bình và toàn ban, mà nói về ấn tượng Quang diện Trung Hoa mà họ muốn tỏa sáng cho thế giới chiêm ngưỡng:

Khí trời Bắc Kinh được khai quang, tin tức tài chánh được đông lạnh, cổ phiếu được nâng giá. Tương lai là sự dũng mãnh huy hoàng của Giải phóng quân, với 12 ngàn lính cao to trẻ đẹp, 500 thiết vận xa đủ loại, 200 chiến đấu cơ siêu thanh và những võ khí hiện đại nhất được phô diễn. Bắc Kinh bày ra nhiều lớp hỏa tiễn có thể xuyên thủng căn cứ Okinawa ở gần hay Guam ở xa và đánh chìm hàng không mẫu hạm của Mỹ. Sợ thế gian - và tình báo quốc tế - không hiểu khả năng của dàn ám khí siêu hạng và ý chí gián chỉ của Thiên triều, ban tổ chức cẩn thận dán nhãn lên từng võ khí và hải quân của Bắc Kinh gửi năm chiến hạm vào Eo biển Bering, lờn vờn trong hải phận Hoa Kỳ, cách Alaska dưới 12 hải lý, khi Barack Obama qua đó nói chuyện nhiệt hóa địa cầu!

Bắc Kinh vừa gửi Tuyên ngôn Quật khởi cho Hoa Kỳ. Nước Mỹ sẽ trả gia rất đắt nếu xớ rớ vào vùng trái độn quân sự do Bắc Kinh vẽ ra trên không gian Á Châu. Hết rồi, những trận địa chiến như ở Triều Tiên. Cũng hết rồi, khả năng tung hoành của Hoa Kỳ như đã từng thấy tại Iraq vào năm 1991 hay 2001. Á Châu từ nay đã có chủ.

Đấy là lúc mà những người có trí nhớ tại Hoa Kỳ tần ngần nhìn lại nước Mỹ.

Họ có thể đã quên Tổng thống Cộng Hòa Theodore Roosevelt và Chiến tranh Nga-Nhật năm 1905 với Giải Nobel Hòa Bình, nhưng không quên được Tổng thống Roosevelt kia, bên đảng  Chủ….

Tháng 11 Năm 1943, khi đến Cairo của xứ Ai Cập dự thượng đỉnh về chiến lược chống Nhật tại Á Châu với lãnh tụ Anh là Thủ tướng Winston Churchill cùng lãnh tụ Trung Hoa Dân Quốc là Đại thống tướng Tưởng Giới Thạch, Franklin D. Roosevelt không che giấu sự khó chịu với họ Tưởng. Chẳng khác gì ác cảm với Tướng Charles de Gaulle của Pháp. Ông nói thầm với một vị chỉ huy quân lực Mỹ tại Trung Hoa là Thiếu tướng Joseph Stilwell, rằng “nếu không thể đi với Tưởng mà cũng chẳng thay được Tưởng thì có còn cách vĩnh viễn bỏ Tưởng”.

Tướng Stilwell hiểu câu hỏi và chỉ thị của thượng cấp: “Ông biết tôi muốn gì chứ? Hãy tìm ra tay nào mình xử lý được.” Trở về Trùng Khánh, Stilwell tìm cách thi hành mệnh lệnh mờ ám qua lối nói mờ ảo của Tổng thống.

Người thực hiện việc đó là Tướng Frank “Pinky” Dorn với hai ba kế hoạch dàn dựng trong đầu. Một là Tưởng Giới Thạch sẽ rớt máy bay khi thị sát căn cứ huấn luyện Ramgarh tại vùng Đông Bắc Ấn Độ. Hai là dùng lại mưu đánh độc dược bằng chất botulinum mà Stilwell đã ấp ủ trong đầu từ trước. Y như Roosevelt, Stilwell không chịu được Tưởng Giới Thạch.

May là họ không thành công! Tổng thống Ngô Đình Diệm không được may như vậy.

Lý do dễ hiểu mà Roosevelt không chấp nhận. Dưới con mắt họ Tưởng, Nhật là bệnh ngoài da, Cộng mới là bệnh nội tạng. Người Mỹ chẳng hiểu rằng Hoa Kỳ chỉ nhập cuộc Á Châu từ cuối năm 1941. Tưởng Giới Thạch thì phải đương đầu với Nhật từ rất sớm, đã hy sinh các sĩ quan ưu tú nhất trong trận đánh đẫm máu ở Thượng Hải năm 1937 và rải quân để cầm chân một triệu lính Nhật trên các chiến trường Hoa lục cho Mỹ tổng phản công từ Thái Bình Dương. Nhưng tội của Tưởng nhìn ra sự lớn mạnh của đảng Cộng sản Trung Hoa nên giữ các đơn vị thiện chiến nhất của mình để chặn đường bành trướng của Mao lên mạn Bắc.

Họ Tưởng sống đủ lâu - mất năm 1975 tại Đài Loan, hưởng thọ 87 tuổi - để thấy ra điều ấy. Khi Nhật bị Mỹ đánh bại thì các đơn vị của mình tại Mãn Châu lại bị cầm chân vì lệnh ngưng bắn của Tổng thống Harry Truman, rồi bị Mao tiêu diệt vào cuối năm 1948. Chuyện sau này là lịch sử: Quốc dân đảng bại trận phải chạy qua Đài Loan, Mao vào Bắc Kinh thiết lập một chế độ còn hà khắc hơn Phát xít Nhật, độc tài hơn Tưởng. Và là đồng minh chiến lược của Liên bang Xô viết cho tới 1969.


Roosevelt chết sớm trong hào quang rạng ngời vào năm 1945 nên không biết. Các sử gia Mỹ thì mù lòa cận thị mấy chục năm nên cũng lải nhải luận điệu chống Tưởng cho đến sau này. Mỹ tốn quân đánh bại Nhật Bản, khinh miệt đồng minh rồi hy sinh binh lính trong trận chiến Cao Ly với Tầu, Tưởng mang tiếng bại trận và Mao là lãnh tụ đã đại thắng Phát xít Nhật!

Thế giới đảo điên.

Chưa đủ phi lý, giữa hai trái bom nguyên tử của Mỹ, mùng bảy Tháng Tám năm 1945, Liên Xô mới khai chiến với Nhật và đưa quân vào cướp luôn các quần đảo Chishima tại miền Bắc của Nhật. Sau đó, Hoa Kỳ giải giới Nhật Bản nhưng vẽ lại bản đồ chống đà bành trướng của khối cộng sản Nga-Hoa tại Đông Á và kéo Việt Nam vào cuộc. Rồi lại kết giao với Mao từ năm 1972 để chống Liên Xô, nhân tiện cho một tiền đồn chống cộng xuống biển là Việt Nam Cộng Hòa và đạp Trung Hoa Dân Quốc ra khỏi Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc để nhường ghế cho Bắc Kinh.

Ngày nay, Nga Hoa đề huề ăn mừng chiến thắng chống Nhật trên khán đài và Tập Cận Bình biểu dương khí thế chống Mỹ!

Nhưng hình như là lịch sử còn phi lý hơn thế.

Từ Tháng Hai 1947, Tưởng Giới Thạch đã đàn áp dân Đài Loan để có một địa bàn mới. Sau 1949 thì đem vào đó nhân sự Quốc dân đảng và giấc mơ Quang phục Trung Hoa (“hồi phục đại lục” là khẩu hiệu chính thức) để thiết lập chế độ mới như một bàn đạp quật khởi. Con trai ông, Tưởng Kinh Quốc, được Liên Xô huấn luyện, là người tiếp nối sự nghiệp đó nhưng với một thay đổi lớn: áp dụng kinh tế thị trường để phát triển quốc gia mà cũng tự chuyển hóa dần sang chế độ dân chủ.

Với thời gian, giấc mơ quang phục của những người đến từ Hoa lục càng phai lạt thì đời sống người dân càng cải thiện. Dân bản địa Trung Hoa có thể tạm quên vụ tàn sát năm xưa – Viện Bảo tàng và Công viên tưởng niệm Biến cố 228 (ngày 28 Tháng Hai) vẫn còn đó – nhưng họ thấy gắn bó với một tương lai chẳng còn liên hệ gì tới Hoa lục. Năm 1996, Đài Loan có cuộc bầu cử Tổng thống dân chủ, lần đầu tiên theo thể thức phổ thông đầu phiếu, và dù có bị Bắc Kinh uy hiếp, người dân vẫn đội bom đi bầu và Lý Đăng Huy, người bản địa thuộc Quốc dân đảng, là Tổng thống dân chủ đầu tiên của lịch sử Trung Hoa.

Nhưng Tiến sĩ Lý Đăng Huy cảm thông với ước mơ của dân bản địa, rồi vì có ý tiến tới việc ly khai mà ra khỏi Quốc dân đảng. Đảng Dân Tiến tiếp tục chiều hướng độc lập đó và gây khó khăn cho mọi người.

Đài Loan mà tuyên bố độc lập thì cả cái kiến trúc giả tạo “Nhất quốc Lưỡng chế” – một nước Trung Hoa hai chế độ - sẽ sụp đổ. Bắc Kinh, Hoa Kỳ và Quốc dân đảng đều không muốn vậy. Sau hai nhiệm kỳ Tổng thống của Trần Thủy Biển thuộc đảng Dân Tiến (2000-2008), Quốc dân đảng thắng cử và Tổng thống Mã Anh Cửu đảo ngược lập trường, có chánh sách hợp tác khắng khít hơn với Bắc Kinh.

Kết quả cũng lại là một sự đảo lộn.

Bắc Kinh không hề thay đổi, gây ra vụ khủng hoảng tại Hong Kong khiến dân Đài Loan thấy ra thân phận của mình nếu được “hồi quy cố quốc” như Hong Kong từ năm 1997. Họ không tin vào lời đường mật của Bắc Kinh và Quốc dân đảng sắp đại bại trong cuộc bầu cử vì mối giao duyên với Bắc Kinh.

Trong chuỗi biến động dằng dặc này – 70 năm thì cũng đủ dài – Hoa Kỳ nghĩ sao về những đảo điên lập trường của mình trong một thế giới quá phức tạp? *

Quá trẻ để có thể suy nghĩ chín chắn và nhìn ra những hậu qủa bất lường trong lịch sử. Nhưng cũng đủ già để thấy ra sự nông cạn của Roosevelt. Và nếu lãnh đạo Trung Quốc vẫn cho rằng Mao Trạch Đông được 70% tích cực và 30% tiêu cực lúc cuối đời thì các sử gia Mỹ cũng nên nhìn lại nhân vật vắng bóng trên khán đài thắng Nhật: Tưởng Giới Thạch. Cũng theo bảng điểm 70/30?

Không phải ngẫu nhiên mà dân Đài Loan ngày nay lại thấy gần Nhật hơn Tầu! Họ giàu kinh nghiệm máu xương hơn dân Mỹ.

Tinh thần lãnh đạo là khả năng định hướng, truyền cảm hứng và tạo ảnh hưởng để tập hợp con người cùng hướng tới một tầm nhìn mới và đạt được mục tiêu chung. Một nhà lãnh đạo có tinh thần lãnh đạo mạnh mẽ thường thể hiện qua các năng lực chủ yếu như: định hướng tương lai, xây dựng tầm nhìn và chiến lược dài hạn; tạo động lực để khơi dậy năng lực, ý chí và sự bền bỉ của tập thể; tinh thần trách nhiệm trước các quyết định và hệ quả; nêu gương hành động nhất quán với lời nói, trở thành chuẩn mực cho tập thể và khả năng thích ứng khi bối cảnh thay đổi.
Theo dõi vũ đài chính trị Mỹ, có lẽ ai cũng dễ dàng nhận ra những khoảnh khắc mà người ta không biết gọi là gì cho đúng. Nó không hẳn là phản bội, cũng không hoàn toàn là đầu hàng, mà nó giống như một sự tan rã, một ánh chớp vụt tắt trước mắt mọi người. Và cái điều đó, để lại trong lòng những người còn đủ kiên nhẫn để quan tâm đến bề mặt của hệ thống chính quyền, cảm thấy thất vọng.
Sau khi được bầu làm Chủ Tịch Nước, TBT Tô Lâm dõng dạt đưa ra chỉ tiêu phát triển kinh tế 10% mỗi năm. Dĩ nhiên đây là một khẩu hiệu nặng tính tuyên truyền, hơn là sách lược kinh tế được hoạch định nghiêm chỉnh. CSVN là một đảng CSTQ tí hon, từ khi mới thành lập đưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, đến thời của Tô Lâm. Nền kinh tế VN cũng là phiên bản mô hình TQ, tuy sinh sau đẻ muộn vì giới lãnh đạo CSVN kém trí tuệ hơn giới lãnh đạo CSTQ. Hệ lụy tự nhiên là Việt Nam kém phát triển hơn TQ nhiều thập niên và GDP đầu người chỉ bằng khoảng 1/3 TQ.
Cho đến giờ này, chỉ là phỏng đoán! Christopher Hale, chủ nhân của trang báo đặc biệt Letters from Leo, đã liên lạc với đài CBS vào Thứ Hai tuần này với một câu hỏi duy nhất: Liệu Stephen Colbert có khép lại chương trình The Late Show tối Thứ Năm tuần này với một cuộc phỏng vấn Đức Giáo Hoàng Leo XIV, vị Giáo Hoàng người Mỹ đầu tiên hay không? CBS từ chối trả lời.
Vào cái đêm thất bại đó, Thomas Massie đã nói với đám đông những người ủng hộ một điều mà suốt nhiều năm qua, chẳng ai trong đảng của ông dám nói to thành lời: "Nếu nhánh lập pháp lúc nào cũng bỏ phiếu theo ý tổng thống, thì quả thực chúng ta đang có một vị vua.”
Tưởng đâu chuyện tổng thống Donald Trump kiện Sở Thuế đòi 10 tỉ đô là màn “thay trời hành đạo”, đòi bồi thường cho vụ hồ sơ thuế bị IRS làm lộ. Dè đâu chỉ là màn mượn đầu heo IRS để nấu nồi cháo gần 1,8 tỉ rồi dọn ra cho phe mình xì xụp.
Trong bối cảnh Hoa Kỳ hiện đang bị chia rẽ sâu sắc bởi chính trị nội bộ, làm phật ý các đồng minh, và một lần nữa lại bị cuốn vào cuộc chiến tại Vùng Vịnh Ba Tư, đây dường như là thời điểm thuận lợi để Trung Quốc nắm lấy vai trò lãnh đạo toàn cầu. Tuy nhiên, Bắc Kinh lại tránh việc tận dụng những xung đột này bằng cách đưa ra một lập trường công khai mạnh mẽ. Thay vì đối đầu với Hoa Kỳ thông qua việc bảo vệ Iran—một đối tác chiến lược lâu năm trong khu vực—Trung Quốc chỉ cung cấp sự hỗ trợ gián tiếp và phần lớn vẫn đứng ngoài cuộc.
Theo những tài liệu bán chính thống, đặc biệt một bài nghiên cứu tựa đề Jester của tác giả Kivak, Rebeccad đăng trên trang học thuật EBSCO, câu "Gã hề là người duy nhất được phép chế giễu nhà vua" gần như là đúng trong truyền thống cung đình châu Âu thời Trung Cổ và Phục Hưng. Họ sử dụng tài hóm hỉnh, bài hát, câu đố hoặc tiểu phẩm để “móc” vua chúa, chỉ ra các sai lầm hoặc chính sách sai lầm của vua mà không bị trừng phạt. Nước Mỹ, xứ sở tự hào là nền cộng hòa không vua, vô hình trung đã trao vai trò đó cho truyền hình đêm khuya. Và trong suốt hơn một thập niên, có lẽ không ai cầm thứ vũ khí ấy với độ chính xác cao, căm phẫn và duyên dáng bi thương hơn Stephen Colbert.
Cô tự nhủ, cũng chưa đến nỗi nào. Anh la hét, chửi mắng, nhưng chưa hẳn đánh cô. Anh sỉ nhục người khác, nhưng vì cô hiểu và yêu anh, cô tin mình sẽ không bị đối xử như thế. Hồi mới quen anh, cô có việc làm, đủ ăn đủ xài. Bây giờ, móc túi không đủ tiền đổ xăng, cô cũng không một lần oán anh. Bị anh dụ ngọt, gạt hết lần này tới lần khác, cô ôm khư khư vào lòng cái lần đầu hiếm hoi anh cho cô cảm giác mình được bảo vệ, bênh vực. Chỉ một cái ôm, một câu nói “mình em hiểu anh thôi” là đủ vốn liếng để cô tự nuôi sống mối “tình anh với em” dài tập trong đầu.
Diversity, Equity, Inclusion — viết tắt DEI — dịch nôm là “Đa dạng, Công bằng, Hòa nhập”, là một khái niệm đã trải qua nhiều chặng lịch sử ở Hoa Kỳ. Sau phong trào dân quyền thập niên 1960, trọng tâm là “cơ hội bình đẳng”: chấm dứt phân biệt chủng tộc, mở cánh cửa trường học và công sở cho người da màu. Về sau, với chính sách “affirmative action”, chính quyền, đại học và doanh nghiệp chủ động nâng đỡ các nhóm thiểu số, không chỉ để bù đắp bất công lịch sử, mà còn để điều chỉnh cơ cấu nhân sự cho tương xứng với diện mạo dân số mới: một lực lượng lao động đa sắc tộc, đa văn hóa cần có mặt trong vị trí chuyên môn, quản trị và phục vụ công cộng. Những chương trình ấy vì thế vừa đáp ứng yêu cầu công bằng, vừa phục vụ nhu cầu thực tế của một xã hội ngày càng đa dạng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.