Hôm nay,  

Hiệu Ứng Giá Dầu

10/02/201600:00:00(Xem: 9940)
...bước vào năm Thân này, vấn đề của Trung Quốc hết là kinh tế mà sẽ là an ninh và chính trị.

Dầu thô là sản phẩm chiến lược trong ý nghĩa là loại nhiên liệu cần thiết cho nền công nghiệp của các nước trên thế giới và ai làm chủ nguồn năng lượng này thì có thể chi phối nhiều quốc gia khác. Nhưng từ hơn một năm qua, giá dầu sụt mạnh đã lại gây hậu quả ngược là làm các nước bán dầu và các doanh nghiệp sản xuất bị điêu đứng. Bước vào năm Bính Thân, tiết mục Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về hiệu ứng của dầu thô khi giá dầu sụt mạnh và gây biến động cho các thị trường chứng khoán trên thế giới. Xin quý thính giả theo dõi cách Nguyên Lam nêu vấn đề với chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa, tư vấn kinh tế của đài Á Châu Tự Do.

Nguyên Lam: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Hôm nay là chương trình kinh tế đầu năm của chúng ta, Nguyên Lam mong là ông đã vừa cùng gia đình ăn một cái Tết Bính Thân vui vẻ. Khi chuẩn bị đề tài kỳ này là hiệu ứng của giá dầu, Nguyên Lam tìm lại các chương trình trước vẫn được đài lưu trữ và nhớ rằng cách nay đúng một năm, trong chương trình ngày Thứ Tư 11 Tháng Hai năm 2015, ông có phân tích nguyên nhân của việc dầu thô sụt giá và khi ấy giá dầu còn ở khỏang 65 đô la một thùng ông đưa ra dự báo rằng giá có thể sụt nữa và di động trong biên độ từ hai chục đến năm chục đô la một thùng mà thôi. Ngày nay, giá đầu đã chạm mức 30 đồng và mỗi lần sụt dưới ngưỡng đó thì các thị trường cổ phiếu đều tuột giá. Ông cũng có nêu ra rằng giá đầu chỉ là một dấu hiệu của tình hình sinh hoạt kinh tế và dầu thô mà sụt giá thì đấy là triệu chứng đáng ngại cho viễn ảnh kinh tế trước mắt. Quả là từ đầu năm dương lịch, tình hình kinh tế thế giới có dấu hiệu không mấy khả quan nhưng kỳ này chúng ta sẽ tìm hiểu riêng về hậu quả của nạn dầu thô sụt giá. Ông nghĩ sao về ý kiến này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng nói về bối cảnh thì chúng ta có thể đang chứng kiến một chuyển động lớn, trăm năm mới có một lần. Khi dầu thô là nguồn năng lượng chính cho công nghiệp cách nay trăm năm thì xứ nào hay doanh nghiệp nào có dầu thì tưởng như ta làm chủ thế giới. Cách nay nửa thế kỷ thì có lúc thiên hạ hốt hỏang báo động rằng sinh hoạt kinh tế hủy hoại môi sinh, thế giới sẽ đói ăn và thiếu dầu. Ngày nay, tình hình xảy ra trái ngược với dầu thô dư thừ và gây hậu qủa chưa ai lường được nên ta sẽ khởi sự từ một giác độ khác.

- Thứ nhất, cuộc cách mạng về kỹ thuật gạn đá phiến ra dầu, tạm gọi là fracking, đảo lộn thế cung cầu với Hoa Kỳ và cả Canada trở thành hai nhả sản xuất mới và tăng số cung cho thế giới. Thứ hai, từ biến động năm 2008, kinh tế thế giới vẫn chưa khả quan và lại có dấu hiệu suy trầm từ Trung Quốc nên số cầu về dầu khí không tăng mà giảm. Thứ ba, kinh tế của Trung Quốc đã hạ cánh rồi và sẽ sa sút trong nhiều năm tới, và khi số cung tăng vọt mà số cầu vẫn đình trệ thì giá dầu phải sụt. Thứ tư, cùng cuộc cách mạng kỹ thuật về dầu khí, nhân loại cũng ra sức tìm các nguồn năng lượng “sạch” như quang năng là ánh mặt trời hay phong năng là sức gió, nên dầu thô, khí đốt và than đá hết còn vị trí nhu yếu như trước, và vì vậy giá dầu sẽ còn giảm nữa.

Nguyên Lam: Ông Nghĩa vừa tóm lược một bối cảnh rất rộng của hồ sơ dầu khí với kết luận hợp lý là giá dầu sẽ còn giảm. Khi ấy, ai mua dầu thì có lợi và ai bán dầu thì bị thiệt hại, nhưng thưa ông, nếu cân nhắc lợi và hại thì hậu quả sau cùng là gì? Giả dụ như Nguyên Lam có thể mua xăng với giá rẻ hơn, đấy là cái lợi, nhờ đó có thêm tiền mua thứ khác và kích thích sản xuất ở khu vực khác, nhưng giới sản xuất xăng dầu thì bị thiệt hại vì tài sản của họ mất giá và cũng có thể giảm đầu tư vào ngành khác. Trong cái chuỗi liên hệ rắc rối ấy thì người ta dựa vào những yếu tố nào để suy tính?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin khởi đi từ tổng thể với vài con số đơn giản để mình cùng tính.

- Từ giữa năm 2014 thì giá dầu ở khoảng 100 đô la một thùng, nay chỉ còn 30 đô la, coi như mất 70%. Tổng số trữ lượng về dầu của thế giới đã được xác định thì ở khỏang một ngàn 700 tỷ thùng. Khi dầu mất giá 70% thì kho dầu toàn cầu coi như mất giá khoảng 120 ngàn tỷ đô la, tính cho tròn thì hơn gấp 10 sản lượng kinh tế của nước Mỹ, bằng 500 lần sản lượng của Việt Nam hay 200 lần tài sản của vài doanh nghiệp lớn nhất thế giới. Con số ấy cho thấy kích thước của vấn đề. Dù biết rằng lượng dầu ấy vẫn còn nằm dưới đất và chỉ có giá khi đào lên khai thác và bán ra, nhưng trong sổ sách hay đầu óc của các quốc gia hay các doanh nghiệp làm chủ lượng tài sản này thì người ta phải thấy là mình bị nghèo đi mất 70%. Khi ấy, chúng ta nghĩ tới khái niệm gọi là “hiệu ứng thịnh vượng ngược” để dự đoán về hậu quả.

Nguyên Lam: Ông nói đến khái niệm hay phạm trù “hiệu ứng thịnh vượng ngược”, thưa ông, đấy là cái gì vậy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nếu tôi thấy mình giàu hơn thì tự nhiên tôi nghĩ đến việc xài tiền này cho các nhu cầu trước đây mình muốn mà không thỏa mãn được. Thí dụ như mua một cái xe lớn hơn hay một ngôi nhà sang hơn. Từ đó, quyết định chi tiêu phụ trội của tôi có thể kích thích sản xuất cho doanh nghiệp và đấy là phạm trù “hiệu ứng thịnh vượng”, cơ sở của các tính toán và dự đoán kinh tế của giới hữu trách. Ngược lại, khi thấy mình bị nghèo đi thì tất nhiên là phải thu vén chi tiêu, tạm đình chỉ những gì muốn làm. Doanh nghiệp dầu khí đang khai thác các giếng dầu bị mất giá thì phải tiết giảm đầu tư, có khi sa thải nhân viên và gây hậu quả bất lợi cho kinh tế. Một quốc gia bán dầu ra như Liên bang Nga hay Saudi Arabia cũng thế, bị thất thâu ngân sách vì dầu thô sụt giá và không thể duy trì các chương trình phúc lợi xã hội như trước và hậu quả bất lợi sẽ lan rộng ra khỏi lĩnh vực năng lượng qua kinh tế và xã hội. Đấy là hiện tượng “hiệu ứng thịnh vượng ngược” hay “hiệu ứng nghèo túng”. Với giá dầu bị mất 70% và sẽ còn mất nữa, hiệu ứng bất lợi cho các nước bán dầu sẽ lây lan và gây ra nguy cơ “giảm phát” là sản lượng kinh tế suy giảm, hàng họ bán rẻ mà vẫn ế và thất nghiệp sẽ tăng.

Nguyên Lam: Ông vừa nhắc tới vai trò của Hoa Kỳ là quốc gia đi tiên phong trong cuộc cách mạng về kỹ thuật khai thác dầu thô và khí đốt khiến số cung trên thế giới tăng mạnh, làm sụt giá dầu trong bối cảnh trì trệ của kinh tế thế giới. Khi dầu sụt giá như vậy thì vì sao các công ty không giảm mức sản xuất để hãm số cung?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nhờ cuộc cách mạng kỹ thuật mà Hoa Kỳ đã vọt lên thành quốc gia sản xuất nhiều dầu nhất thế giới và giảm hẳn số dầu nhập khẩu nên càng làm thế giới bị ứ dầu. Khi ấy, các tiểu bang có giếng dầu lớn nhất như Texas, Oklahoma hay North Dakota đã thành đầu máy kinh tế. Các doanh nghiệp loại nhỏ và vừa lao vào lĩnh vực sản xuất dầu với kỹ thuật mới cũng tuyển dụng nhiều nhân công nhất và khai thác cả ngàn giếng dầu loại bỏ túi ở mọi nơi và góp phần làm giảm nạn thất nghiệp tại Mỹ. Nhưng từ giữa năm 2014, tình hình hết còn khả quan như trước và ngày càng khó khăn hơn vì dầu thô sụt giá khiến nhiều giếng bị tạm đóng cửa và ngân sách nhiều tiểu bang như North Dakota bị hao hụt nặng chẳng khác gì tình hình Liên bang Nga hay Á Rập Saudi hoặc Venezuela.

- Sang câu hỏi vì sao nhà sản xuất không giảm số cung để giá khỏi sụt thì ta gặp một vấn đề kế toán tài chính. Nhiều doanh nghiệp Mỹ đã đi vay thay vì chủ yếu bỏ vốn để khai thác dầu. Khi giá sụt thì họ vẫn có nhu cầu thanh toán các khoản nợ đáo hạn nên vẫn cứ phải bơm thêm dầu và bán lỗ để có tiền mặt hầu còn trả nợ trên thị trường trái phiếu hay cho các ngân hàng. Và động thái tuyệt vọng ấy lại càng làm dầu hạ giá trong một vòng luẩn quẩn đáng ngại! Mà không chỉ có doanh nghiệp, nhiều quốc gia cũng gặp cảnh ngặt nghèo ấy khi đi vay quá trớn.

Nguyên Lam: Như ông vừa trình bày thì phải chăng các doanh nghiệp khai thác dầu lao vào một cuộc chơi nguy hiểm vì đi vay tiền để áp dụng một kỹ thuật tân kỳ làm tăng sản lượng và giảm phí tổn sản xuất cho tới khi dầu thô sụt giá quá mạnh thì họ phải tiếp tục bơm đầu trả nợ dù có bị lỗ. Nhìn ra ngoài Hoa Kỳ thì tình hình của các nước sản xuất coi bộ cũng ít quả quan mà còn có vẻ nguy ngập, thí dụ như xứ Á Rập Xaou-đi và các nước trong Hiệp hội OPEC của 14 quốc gia xuất khẩu dầu thô. Ông nghĩ sao về chuyện này?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta đang chứng kiến một biến cố gọi là trăm năm mới thấy một lần. Cùng nhiều nước bán dầu trong Vịnh Á Rập, Saudi Arabia có chiến lược độc đáo là không giảm sản lượng để giữ giá mà cứ tiếp tục bán thêm để giá sụt mạnh làm các doanh nghiệp Mỹ lỗ vốn và đóng cửa, là điều có xảy ra. Khối Á Rập này, như Saudi, Kuweit và các tiểu vương quốc, có nhiều dầu và dự trữ ngoại tệ dồi dào nên mới theo đuổi việc ấy, chứ các thành viên khác của tổ chức OPEC, như Venezulea thì bị khốn đốn nặng. Cuối tuần qua thì rạn nứt bùng nổ trong nhóm OPEC và tổ chức này hết còn thế lực làm giá như hơn 40 năm trước mà còn bị nguy cơ tan rã.

- Cũng về hiệu ứng của giá dầu, ta không quên là Iran đang nuôi hy vọng bán dầu từ một triệu rưởi đến ba triệu một ngày sau khi hết bị quốc tế cấm vận để có thu nhập cải thiện kinh tế, nhưng sẽ lại tăng số cung. Là đối thủ chính trị của Iran, Saudi Arabia càng không muốn giảm sản lượng trong mục tiêu làm dầu thô sụt giá nữa hầu Iran không chiếm được lợi thế kinh tế. Ta không nên quên vai trò võ khí của dầu thô và Hoàng gia Saudi đang sử dụng võ khí ấy để gây khó cho Iran, cho Liên bang Nga và các doanh nghiệp Mỹ.

Nguyên Lam: Khi nói đến hoàn cảnh thuận lợi hơn cho các nước mua dầu thì chúng ta phải nhớ tới Trung Quốc là một nước cũng sản xuất dầu thô nhưng vẫn phải mua thêm cho đủ yêu cầu tiêu thụ quá lớn với hiệu suất rất kém. Thưa ông, nếu nói về hậu quả của việc dầu thô xuống giá thì kinh tế Trung Quốc được lợi những gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trung Quốc có lợi nhờ hóa đơn mua giàu được rẻ hơn trước, nhưng tự thân thì đã có quá nhiều vấn đề nên kết cuộc thì chẳng có gì khả quan hơn. Tôi xin vắn tắt như thế này: Trung Quốc là nơi mà mỗi tuần lại có một tin xấu về kinh tế và tình hình tiếp tục suy đồi hơn với nạn đồng bạc mất giá, thất nghiệp tăng, tư bản tẩu tán ra ngoài, dự trữ ngoại tệ sẽ hao hụt bình quân chừng hơn 100 triệu đô la - trong năm nay có thể mất thêm khoảng hơn một ngàn tỷ. Vì vậy, bước vào năm Thân này, vấn đề của Trung Quốc hết là kinh tế mà sẽ là an ninh và chính trị. Trong hoàn cảnh đó số cầu về dầu thô càng giảm và giá dầu sẽ càng hạ.

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do xin cảm tạ chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa.

Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
Từ thương trường bước vào chính trường, Donald Trump mang theo cùng một thứ nhãn hiệu: tên ông. Trong thời làm ăn, đó là thương hiệu. Nó in lên cao ốc, chai rượu, thịt bít-tết. Đó là lối tiếp thị của một nhà buôn, ồn ào nhưng vẫn còn nằm trong khuôn khổ tư doanh. Nhưng khi người mang thương hiệu ấy đã thành nguyên thủ quốc gia, câu chuyện đổi tính chất. Nó không còn là quảng cáo nữa. Nó là dấu hiệu về quyền lực và về cách người cầm quyền nhìn quốc gia. Trong nhiệm kỳ thứ hai, tên Trump không chỉ là chữ trên tài sản riêng. Nó bước vào cơ quan công quyền: tòa nhà liên bang mang tên ông, băng-rôn treo mặt ông, chương trình của chính phủ in chữ ký ông, phi trường đổi sang tên ông. Tên một người đang dần đi vào các biểu tượng của quốc gia. Đó là điều mà một nền cộng hòa phải cảnh giác.
Ngày 15 tháng 3 vừa qua, có một sự trùng hợp mà giới quan sát viên quốc tế ít chú ý. Đó là bầu cử quốc hội diễn ra cùng một lúc tại 2 quốc gia cộng sản. Đó là Việt Nam và Triều Tiên. Kết quả hoàn toàn tương đồng và không ngoài dự đoán là đảng CSVN chiếm được 482/500 ghế ( tức 96,47%),Ứng viên độc lập: 18 ghế, Tỷ lệ cử tri đi bầu: 99,7% . Đảng Lao Động Triều Tiên chiếm được 99,93% cử tri bỏ phiếu ủng hộ ứng viên do Đảng Lao Động và các tổ chức liên minh đề cử. Đảng chiếm toàn bộ 687/687 ghế và Tỷ lệ cử tri đi bầu là 99,99%. TT Putin của LB Nga đã chính thức gửi điện mừng tới Kim Jong Un sau bầu cử Triều Tiên, không biết Putin có chúc mừng TBT Tô Lâm hay chưa? Cũng không có thông tin chính thức rằng TBT Tô Lâm của đảng CSVN và TBT Kim Jung Un của đảng Lao Động Triều Tiên, đã có chúc mừng nhau về 2 cuộc chiến thắng “vang dội và vẻ vang” của 2 đảng CS anh em này hay chưa?
Hàng loạt kênh truyền thông và các hãng thông tấn đưa lên đầu trang báo cú ngã ngựa giữa dòng của Bộ Trưởng Tư Pháp Pam Bondi. Đối với một chính quyền, sa thải người đứng đầu Bộ Tư Pháp (DOJ) đương nhiệm là quyết định không nhỏ. Những lý do để các lãnh đạo quốc gia phải thay nội các thường là khi người đó phạm trọng tội không thể dung thứ, qua đời, hoặc chính họ từ nhiệm.
Người Mỹ đang cảm nhận một điều quan trọng: những giới hạn từng giữ quyền lực trong khuôn khổ dân chủ đang bị chọc thủng. Cuộc xuống đường lần này, vì thế, không đơn thuần là phản ứng chính trị, mà là phản xạ tự vệ của một số đông dân chúng nhìn thấy trật tự hiến định bắt đầu bị xê dịch.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.