Hôm nay,  

Kinh Tế Và Bầu Cử

16/02/201600:00:00(Xem: 9059)

...Kinh tế TC thật là đang đi vào khủng hoảng nặng...

Chỉ số Dow Jones trong 6 tuần lễ đầu năm nay đã rớt xấp xỉ 3.000 điểm, tức là hơn 10%. Mà chưa ai thấy được ánh sáng cuối đường hầm.

Lịch sử đang tái diễn?

Năm 2008, khủng hoảng kinh tế trong đúng năm bầu cử, bảo đảm đảng CH đương quyền thất bại. Năm 2016, lại một khủng hoảng kinh tế, sẽ bảo đảm đảng DC đương quyền cũng thất bại nữa?

Trong tất cả các cuộc bầu cử tổng thống ở Mỹ, có một yếu tố cực kỳ quan trọng có tác động lớn trên quyết định bỏ phiếu của người dân: đó là tình trạng kinh tế. Dù quan trọng nhưng lại cũng là vấn đề ít người hiểu rõ nhất.

Nhìn vào cuộc bầu cử năm 2008, ta thấy ngay ví dụ cụ thể nhất. Năm đó là năm kinh tế Mỹ đi vào chu kỳ khó khăn, khủng hoảng nặng. Xẩy ra cuối trào của một tổng thống CH, khiến ứng viên CH thua nặng. CH mất Toà Bạch Ốc, Hạ Viện và Thượng Viện luôn.

Khác với kinh tế xã hội chủ nghiã hay cộng sản, kinh tế tư bản Mỹ luôn luôn bị chi phối bởi chu kỳ, tăng trưởng rồi trì trệ, rồi tăng trưởng lại, v.v… do ảnh hưởng cung cầu tự điều chỉnh.

Đại cương, theo các chuyên gia, chu kỳ kinh tế Mỹ thường kéo dài khoảng 5-7 năm.

TT Bush nhậm chức đầu năm 2001, đúng lúc khủng hoảng dot.com, tức là bong bóng chỉ số các công ty công nghệ cao xì hơi. Trong những năm trước đó, cả ngàn công ty về điện toán, internet,... ra đời, thành công ngoài sức tưởng tượng, trị giá cổ phiếu tăng hằng ngày, cho ra đời cả ngàn triệu phú. Cả triệu người dân bình thường, chẳng hiểu mô tê gì về tài chánh, nhưng thấy chơi cổ phiếu hái ra tiền quá dễ, nhào vào mua cổ phiếu như mua vé số hay đánh số đề, chẳng cần biết công ty mạnh hay yếu. Mà lại đánh đâu trúng đó.

Dù sao thì tình trạng bất thường mua cổ phiếu như mua vé số đó dĩ nhiên không thể kéo dài vĩnh viễn. Sẽ phải tự điều chỉnh. Đưa đến khủng hoảng gọi là dot.com, đánh rớt các chỉ số chứng khoán Dow Jones và Nasdaq xuống khoảng 40%-50%, đe dọa gây suy trầm kinh tế nặng. TT Bush năm 2001 ban hành ngay luật giảm thuế đồng loạt. Kinh tế phục hồi lại mau lẹ ngay từ năm 2002, nhất là sau 2003 là năm ban hành biện pháp giảm thuế đợt hai. Ít người biết đã trải qua một khủng hoảng lớn, ngoại trừ những người chơi cổ phiếu bị thua đậm. Bắt đầu từ cuối 2007, kinh tế lận đận lại. Đã vậy còn bị bồi thêm hậu quả của mấy chục năm lạm dụng nợ mua nhà của cả nước, đưa đến khủng hoảng lớn cuối năm 2008, hai tháng trước ngày bầu cử.

Ở đây, có điểm nhiều người vẫn còn mộng du, cho rằng thời đại Clinton là thời đại vàng son cực thịnh của kinh tế, đã mang lại thặng dư ngân sách trước khi ông cao bồi Bush phá tan hết rồi lại còn tạo ra khủng hoảng lớn nhất thế kỷ. Việc Bush tạo ra khủng hoảng đã được bàn quá nhiều, bây giờ nói chuyện về ngân sách. Ngân sách trong hai nhiệm kỳ của TT Clinton dĩ nhiên là tiến triển cực tốt, từ thâm thủng hơn 200 tỷ khi ông mới nhậm chức năm 1993 qua đến thặng dư trong những năm 1998-2000. Nhưng không phải do “công” của TT Clinton, mà do ba yếu tố:

1. TT Bush cha tăng thuế đồng loạt, mang tiếng thất hứa sau khi đã long trọng tuyên bố “Read my lips, no new taxes”, khiến ông thất cử khi ra tái tranh cử năm 1992; nhưng TT Clinton hưởng lợi, thu thuế nhiều hơn;

2. Thời gian đó là thời kỳ “cách mạng dot.com” với hàng ngàn công ty điện toán phát triển tột bực, lợi nhuận bộc phát, đưa đến gia tăng thu nhập thuế của Nhà Nước;

3. Cuộc bầu quốc hội cuối năm 1994 đưa đến đại thắng của CH, chiếm cả hai viện, và CH đã có dịp khoá tay không cho TT Clinton chi tiêu nữa; khoá mạnh đến độ Nhà Nước bị đóng cửa mất mấy ngày, đưa đến giảm chi mạnh.

Tăng thu thuế và giảm chi tiêu dĩ nhiên đưa đến thặng dư ngân sách mà TT Clinton, một chính khách khôn ngoan, mau mắn vỗ ngực khoe công.

Theo cách tính toán của các chuyên gia kinh tế, cuộc khủng hoảng năm 2008 chính thức chấm dứt giữa năm 2009 và kinh tế bắt đầu phục hồi từ đó, nhờ cả hai chính quyền Bush và Obama bơm hàng ngàn tỷ kích cầu kinh tế, cứu nguy ngân hàng, và cứu nguy các hãng xe lớn. Nhưng lại là một cuộc phục hồi chậm, khó khăn, và nhiều lỗ hổng nhất như đã bàn nhiều lần trên cột báo này. Mãi sáu năm sau mà tỷ lệ thất nghiệp cho dù giảm nhiều, xuống tới 4,9% đầu năm 2016, vẫn chưa trở về lại mức trước chu kỳ khủng hoảng 4,4% của năm 2007 dưới thời Bush. Chưa kể nhiều yếu tố không tốt đẹp lắm như những kỷ lục cao nhất về số người làm bán thời, số người làm lương thấp hơn, số người lãnh trợ cấp, và số người lãnh Medicaid; và kỷ lục thấp nhất về số người tham gia vào thị trường lao động. Kinh tế có phục hồi, nhưng phục hồi một cách yếu đuối trên một nền tảng lỏng lẻo nhất.

Thế nhưng chỉ số Dow Jones lại tăng từ 6.600 điểm hồi tháng 2/2009 khi TT Obama mới nhậm chức, lên tới 18.300 điểm vào tháng 5/2015. Tức là tăng gần gấp ba lần trong 6 năm, hay khoảng 30% mỗi năm.

Nhiều người ủng hộ TT Obama đã mau mắn mang những con số Dow Jones này ra khoe để chứng minh sự tài giỏi của TT Obama, đã giúp kinh tế tăng vọt. Những người này dĩ nhiên biết đọc số trên Dow Jones, nhưng lẫn lộn Dow Jones với kinh tế, diễn giải thị trường chứng khoán tăng là hệ quả tất yếu của một nền kinh tế quốc gia đang tăng. Thực tế là tăng trưởng kinh tế ì ạch ở mức 1%-2% mỗi năm, như vậy làm sao cái “hệ quả” chỉ số chứng khoán lại có thể tăng 30% một năm được? Đây là loại mâu thuẫn mà mấy vị ủng hộ DC không thấy có gì đáng thắc mắc, vì không muốn nhìn cho kỹ hơn, hay không hiểu gì về kinh tế hết.

Tình hình thị trường trong mấy tuần qua đã là cú đấm tỉnh người cho những vị này.

Những người bênh vực chính quyền Obama đã chiả tay về phiá kinh tế Trung Cộng, và giá xăng giảm trên thế giới như là những nguyên nhân của khủng hoảng, không ăn thua gì đến TT Obama hết. Đây vẫn là loại biện giải chạy tội sở trường của những người ủng hộ TT Obama.

Kinh tế TC thật là đang đi vào khủng hoảng nặng. Kinh tế TC bộc phát mạnh trên căn bản lệch lạc, cực nhanh ở vùng duyên hải, cực chậm nếu không muốn nói là thối lui khi đi vào nội địa chừng vài trăm dặm. Sớm muộn gì thì cũng mất thăng bằng, xụp đổ. Đã vậy, thị trường chứng khoán TC cũng chỉ là một sòng bài không hơn không kém, đáp ứng máu mê cờ bạc của các đấng con trời. Đúng nguyên tắc, việc định giá cổ phiếu phải tùy thuộc hoàn toàn vào tình hình kinh doanh của các công ty nói riêng và tình hình kinh tế tổng quát nói chung. Khổ một nỗi là các báo cáo tài chánh của các công ty TC chắc 80% là các số phịa, chẳng có gì đáng tin tưởng để lấy quyết định đầu tư hay không đầu tư. Ngay cả thống kê chính thức của Nhà Nước, loan báo tăng trưởng kinh tế năm qua là 6,9% cũng chẳng ai tin, vì các chuyên gia nhận định giỏi lắm là 3%-4% thôi.

Tóm lại, người dân TC (hay dân Việt trong nước cũng vậy) mua hay bán cổ phiếu hoàn toàn là chuyện đoán mò, đầu cơ, đánh bạc thôi. Do đó, khi “nghe đồn” kinh tế có thể có vấn đề, thiên hạ bắt đầu lo sợ, rồi phát hoảng, bán đổ bán tháo cổ phiếu.

Đã vậy, họ Tập lại tung ra những đòn thanh lọc các đối thủ chính trị, dựa trên tội tham nhũng. Khiến hàng loạt các vị bà con của họ, sở hữu cổ phiếu, hoảng sợ, bỏ của chạy lấy người, bán cổ phiếu, lấy tiền tươi, chạy ra nước ngoài mua nhà hay bỏ ngân hàng. Giá nhà Cali, Washington State, Vancouver tiếp tục tăng vọt, thị trường nóng hổi.

Chưa hết. Thiên hạ cũng nghi tài khả năng quản lý khủng hoảng của các quan đỏ. Cách đây không lâu, các quan nghĩ ra biện pháp “nổ cầu chì” (ngôn từ của chuyên gia kinh tế NXNghiã). Khi thị trường rớt giá 5% thì tự động nổ cầu chì, tắt điện, ngưng giao dịch. Vài tiếng sau, hy vọng các nhà đầu tư bớt hoảng thì mở lại. Không ngờ hồi đầu năm, nổ cầu chì, đóng giao dịch, mở lại sau vài tiếng, giá cả lại rớt còn nhanh hơn nữa, lại nổ cầu chì nữa. Bây giờ thì sau khi thử nghiệm môn thuốc tễ Sơn Đông “kinh tế chỉ huy” này thất bại, Nhà Nước TC đã hủy bỏ cầu chì luôn rồi.

Thị trường chứng khoán TC rớt mạnh. Tác hại đến thị trường Mỹ. Chỉ số Dow Jones, là chỉ số của 30 đại công ty lớn và tiêu biểu nhất Mỹ, phần lớn là các công ty giao dịch rất lớn hay đầu tư rất nhiều vào thị trường TC. Do đó khi kinh tế TC bị khủng hoảng, tất nhiên các đại công ty Mỹ này lãnh đạn theo ngay.

Bây giờ, đến chuyện xăng nhớt. Ai cũng bận tung hô giá xăng giảm. Giá một thùng dầu thô, đã rớt xuống dưới 27-28 đô, thấp nhất từ năm 2003 dưới thời Bush, cách đây 13 năm. Tại Dallas, giá xăng với thẻ giảm giá –discount- của siêu thị, chỉ còn 0,5 đô một ga-lông!

Giá dầu xăng trên thế giới suy sụp nặng vì thặng dư cung: các nước sản xuất dầu, kể cả Mỹ, tranh dành thị trường trong một thế giới mà kinh tế đang trì trệ, nên đều cố phá giá để bán tối đa, để rồi cuối cùng tất cả cùng hại lẫn nhau. Tình hình trong ngắn hạn không có gì sáng sủa, nhất là sau khi TT Obama tháo gỡ cấm vận Iran, bảo đảm lại thêm một anh sản xuất dầu nhẩy vào thị trường, phá giá thêm nữa.

Trên nguyên tắc, giá dầu giảm có thể giúp mỗi gia đình giảm chi phí liên quan đến năng lượng như giá xăng xe cộ, giá vé máy bay đi du lịch, ngay cả giá thực phẩm cũng có thể hạ nhờ giảm chi phí chuyên chở. Các gia đình có thêm ít tiền chi tiêu vào những chuyện khác, như sản phẩm tiêu thụ –consumer products-, tức là giúp kích động kinh tế. Nhưng thực tế, dân Mỹ nói chung vẫn còn dè dặt trước tình trạng bất ổn hiện nay, không chịu chi. Trong khi giá xăng giảm gần 70% từ cao điểm tháng Sáu năm 2014, chỉ số tiêu thụ chỉ tăng có 0,3%.

Kết quả rõ rệt nhất ở Mỹ: hơn 50.000 dân Texas mới thất nghiệp, nhưng không ai để ý tới. Cũng ít ai nghĩ giá xăng giảm là hậu quả trực tiếp của trì trệ kinh tế toàn cầu, ngoại trừ những nhà đầu tư đang tháo chạy khỏi Dow Jones. Ở đây, ta chưa bàn đến việc giá dầu giảm sẽ gây khó khăn lớn cho cả chục nước sản xuất dầu, có thể kéo theo khủng hoảng kinh tế và bất an chính trị trên cả thế giới.

Kinh tế luôn là một vấn đề cực kỳ phức tạp, không có câu trả lời giản dị. Nhưng tựu chung lại cũng có thể nói đại cương các công ty Mỹ vì khủng hoảng năm 2008, đã lợi dụng cơ hội tái cấu trúc, tinh giản hoá hệ thống tổ chức, điện toán hoá tối đa, cắt giảm chi tiêu và nhất là cắt nhân viên, kết quả, nhiều công ty đã lời lớn, đưa đến trị giá cổ phiếu tăng. Nhưng những công ty này từ chối không đóng góp vào tăng trưởng kinh tế Mỹ bằng cách không mang tiền lời từ ngoài nước về lại Mỹ, không đóng thuế cho Mỹ, không bỏ tiền đầu tư mở hãng xưởng tại Mỹ, và không thuê thêm nhân viên Mỹ.

Bằng chứng lớn nhất là Apple. Công ty điện toán này lời cả tỷ tỷ, năm rồi lời 18,4 tỷ, nhưng hầu hết tiền lời từ ngoài nước được giữ ở ngoài nước tại những xứ thuế thấp nhất, để đóng thuế tối thiểu cho Mỹ, và họ tích trữ tối đa tiền mặt, không đầu tư vào kinh doanh, mở công ty hãng xưởng gì ở Mỹ hết. Apple có khối tiền mặt lớn hơn dự trữ tiền mặt của cả Bộ Tài Chánh Mỹ.

Lý do dễ hiểu: những đe dọa tăng thuế lợi tức của các đại công ty dưới chính sách của TT Obama. Apple trở thành một trong những công ty lớn nhất thế giới không phải do may mắn, mà do tính toán kế hoạch chu đáo. Họ không dại gì bỏ bạc tỷ ra phát triển, xây dựng cơ sở để lời thêm nếu bị đánh thuế quá nặng.

Thiên hạ thắc mắc không biết làm sao để những công ty như Apple đóng góp lớn hơn, trở về Mỹ đầu tư mở hãng xưởng nhiều hơn, tạo công việc nhiều hơn cho dân Mỹ. Đáp số hiển nhiên là giảm thuế và giảm thiểu luật lệ và thủ tục kinh doanh, nhưng khổ nỗi đấy lại đều là những điều đi ngược lại giáo điều kinh tế của đảng DC.

Kinh tế Mỹ ngày nay, qua chính sách mắc nợ hơn Chúa Chổm, tiêu xài vung vít, tung trợ cấp ra khắp nơi để kiếm phiếu, đã trở thành một thùng thuốc nổ, có thể nổ ra bất cứ lúc nào. Kỷ lục thâm thủng ngân sách. Hơn 19.000 tỷ công nợ!

Đã vậy, trong khi kinh tế thế giới trì trệ đến độ các ngân hàng trung ương Liên Âu, Thụy Sỹ, Nhật đều áp dụng lãi suất “âm”, tức là người bỏ tiền vào trương mục tiết kiệm không những không được nhận tiền lãi, mà lại còn phải trả tiền lãi cho ngân hàng, thì nước Mỹ lại... tăng lãi suất. Chỉ vì áp lực chính trị của chính quyền Obama, muốn chứng minh kinh tế đã phục hồi sau 7 năm lãi suất ở mức zero.

Một vài anh phe ta mới đây hồ hởi khoe thâm thủng ngân sách trong tháng qua đã xuống thấp nhất kể từ 2007, tức là thời … Bush! Trước hết, phải nói ngay, bây giờ ngân sách của Bush được “phe ta” mang ra làm chỉ tiêu so sánh thì thật đáng là... tin vui cho CH đang lo tranh cử! Sau đó thì ngân sách Obama cũng không khác gì ngân sách Clinton mấy: chẳng qua phải nhờ CH kiểm soát quốc hội nên mới giảm thiểu được thâm thủng, chứ không thì giờ này ai biết được thâm thủng lên tới mấy trăm ngàn tỷ?

Nói tóm lại, theo các chuyên gia, Dow Jones rớt mạnh gần đây dĩ nhiên có ảnh hưởng của kinh tế TC và giá dầu, nhưng yếu tố quyết định vẫn chính là kinh tế Mỹ còn hết sức mong manh, bị cái gông công nợ quá lớn, thâm thủng ngân sách quá lớn, tăng trưởng quá yếu, và phục hồi quá chậm. Nếu như kinh tế Mỹ mạnh hơn, những biến động tại TC và giá xăng sẽ ít tác hại hơn nhiều. Giống như một người bệnh ra đường gặp cơn mưa dĩ nhiên sẽ mau mắn bệnh nặng hơn liền, so với một người mạnh khỏe đi tắm mưa cũng chẳng sao.

Đưa đến vấn đề liên hệ giữa kinh tế và bầu cử.

Chuyện hiển nhiên là nếu kinh tế bình thường như trong vài năm qua, tức là có phục hồi, dù chậm và nhỏ, lai rai tiếp tục 1%-2%, trong khi tỷ lệ thất nghiệp cũng tiếp tục từ từ giảm, thì kinh tế sẽ không là ưu tư hàng đầu của cử tri, có nghiã đại đa số cử tri chấp nhận chính sách kinh tế của TT Obama và sẽ chấp nhận bà Hillary như là người tiếp nối chính sách kinh tế đó. Và các ứng viên CH sẽ tránh né không muốn bàn đến.

Ngược lại nếu Dow Jones tiếp tục rớt đài như diều đứt giây, chúi mũi xuống như trong mấy tuần đầu năm nay mà không thể ngóc đầu lên lại trong những tháng tới trước bầu cử thì kinh tế sẽ leo lên cấp ưu tư lớn nhất của cử tri. Và như vậy, bà Hillary hay bất cứ ứng viên DC nào khác, sẽ gặp khó khăn thật lớn. Các ứng viên CH sẽ không bỏ qua dịp may tấn công.

Thông thường, các cuộc bầu tổng thống cũng là những dịp trưng cầu dân ý về thành tích thực tế của tổng thống đương nhiệm.

Nhìn lại cho kỹ, khó ai có thể nói chính sách đối ngoại trực diện với Putin, Tập Cận Bình, chính sách chống khủng bố và ISIS, chính sách di dân bất hợp pháp là những phạm vi thành công rực rỡ của TT Obama trong hai nhiệm kỳ của ông. Ngay cả Obamacare cũng vẫn bị đa số dân Mỹ chống. Đó là những điểm tấn công mạnh nhất của các ứng viên CH hiện nay.

Bây giờ, nếu lại có thêm khủng hoảng kinh tế thì bà Hillary, nếu là đại diện cho DC, chỉ còn một yếu tố duy nhất để ra tranh cử và có thể đắc cử: đó là yếu tố... phụ nữ. Bà tổng thống đầu tiên của Mỹ. Ngoài ra không có lý do gì để bầu cho bà nữa.

Dù sao thì Dow Jones rớt 3.000 điểm trong mấy tuần đầu năm nay cũng là một đòn nặng đánh vào chính quyền Obama. Nhất là ngay sau khi ông ra trước quốc dân, báo cáo thành quả của ông và khẳng định người nào tung tin kinh tế đang đi xuống là “peddling fiction”, tạm dịch là “tung tin hoang tưởng”. Dow Jones rớt như vậy, xoá sổ gần 2.000 tỷ trị giá của các công ty trong 6 tuần là sự thật rõ hơn ban ngày, hàng triệu người mất tiền đầu tư, hàng triệu người khác sống nhờ tiền già trong các quỹ hưu 401k hay IRAs mất cả năm tiền hưu, không phải là chuyện hoang tưởng. Đối với việc Wal-Mart đóng 269 cửa tiệm lớn, chỉ cần hỏi hơn 10.000 nhân viên bị sa thải xem đây có là chuyện “hoang tưởng” hay không. Hay Sears đóng cửa thêm 50 tiệm cũng vậy.

Cho đến nay, kinh tế vẫn còn là đề tài “tàng hình” lớn nhất trong cuộc tranh cử, vì cuộc chạy đua vẫn còn mang tính nội bộ. Đợi tới khi hai chính đảng trực diện nhau, từ tháng Tám tới, kinh tế sẽ thành đề tài tranh cãi lớn. Nhất là nếu Dow Jones vẫn còn tuột dốc. (14-02-16)

Vũ Linh

Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: [email protected]. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi thứ Ba.

Hệ thống luật quốc tế đang đối diện với những thách thức chưa từng có trong lịch sử cận đại. Luật quốc tế vốn đặt ra các nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực giữa các quốc gia, cấm tiến hành chiến tranh xâm lược và thiết lập hệ thống an ninh tập thể như một phần nối tiếp của các biện pháp chính trị.
Nếu ai chưa hiểu Tổng thống Donald Trump với những hành động và lời nói “khác lạ” thường xuyên vượt qua lòng tự trọng và khả năng tri thức dành cho cương vị một nguyên thủ quốc gia, nhất là một quốc gia lãnh tụ trong thế giới tự do dân chủ, thì câu hỏi là: thực sự ông muốn gì? Ông muốn trở thành đệ nhất nhân trong cả ba khát vọng: ông không chỉ muốn trở thành người giàu nhất, mà còn muốn là vị tổng thống quyền uy bậc nhất, người dám làm những điều mà các tổng thống tiền nhiệm né tránh, và là cái tên được lịch sử ghi ở hàng đầu. Ái tình và của cải chỉ là hai trong ba mục tiêu; mục tiêu còn lại là quyền lực tạo danh vọng, và cả ba đều phải đứng đầu.
Trong thế giới báo chí truyền hình, 60 Minutes là một trong số ít chương trình mang nặng lịch sử. Suốt hàng thập niên, 60 Minutes là tiêu chuẩn vàng của báo chí điều tra, nơi kim phút của trách nhiệm luôn tích… tích… không ngừng để hướng về sự thật. Suốt 58 năm qua, tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ tròn là biểu tượng dễ nhận ra nhất của một nền báo chí Hoa Kỳ. Chiếc đồng hồ bấm giờ mở đầu mỗi tập 60 Minutes – tích, tắc, tích – chưa bao giờ chỉ là hình ảnh minh họa. Theo thời gian, nó là một lời giao ước. Nó nói với khán giả rằng trong một giờ đồng hồ của tối Chủ Nhật, người Mỹ được biết sự thật. Quyền lực phải trả lời câu hỏi và chiếc đồng hồ do những người làm báo giữ nhịp sẽ không vì quyền lợi của bất kỳ ai mà dừng lại.
Cuối tuần qua, trong khi tôi đang nghe ca sĩ Thương Linh hát ở Coffee Factory, một độc giả đến hỏi: “Này, chị viết để làm gì? Bây giờ còn ai đọc những bài bình luận nhức đầu nữa không?” Tôi đã suy nghĩ về câu hỏi ấy. Không phải để thôi viết. Cũng không phải để tránh né suy luận. Nhưng đôi khi, trước một số sự kiện, chỉ cần ghi lại sự việc. Ngày nào. Ở đâu. Chuyện gì. Ai nói. Nói nguyên văn thế nào. Có lẽ anh ta có lý, có những lúc người viết nên “bớt viết”.Trong nhiều năm qua, tổng thống Donald Trump nhiều lần dùng lời lẽ miệt thị các nữ phóng viên ngay trước ống kính. Nhiệm kỳ đầu đã vậy. Sang nhiệm kỳ hai, những cảnh ấy không chỉ trở lại mà còn thô hơn, lỗ mãng hơn, và gần như thành thói quen không thể thiếu trong các buổi họp báo, phỏng vấn, hay bất cứ khi nào có máy quay phim và có phụ nữ cầm micro hay cầm bút làm việc.
Có một cách đọc về nhiệm kỳ thứ hai của Donald Trump càng lúc càng khó bác bỏ: ông biến chính chức vụ tổng thống thành phương tiện làm giàu lớn nhất đời mình, mà không phải âm mưu vụng về với tài liệu mật, chỉ bằng chính lời nói của tổng thống. Một câu dọa chiến tranh, một lời hăm dọa thuế quan, một tuyên bố ngừng bắn hay một dòng đăng mạng xã hội đều có thể làm thị trường Hoa Kỳ và thế giới chao đảo gần như tức thì. Với nhóm nhỏ biết trước thời điểm và nội dung lời nói, những con sóng ấy lại có thể tiên đoán, mà tiên đoán được thì kiếm lời hợp pháp, miễn không để lại dấu vết nối thẳng về ông. Đây không phải lời buộc tội đã được chứng minh trước tòa: chưa có bản án, cũng chưa có bằng chứng công khai về một đường dây giao dịch phối hợp. Nhưng một luận đề chỉ cần một cấu trúc động cơ rõ ràng, một chuỗi sự kiện trùng khớp, và một môi trường pháp lý cho phép hành vi ấy diễn ra mà gần như không sợ bị trừng phạt. Cả ba đều đang hiện diện.
Ngày 2/4/2026, “trái cam” Pam Bondi thật sự “rơi khỏi cành công lý.” Donald Trump sa thải nữ bộ trưởng tư pháp, trao chìa khóa Bộ Tư Pháp (DOJ) – một trong những định chế quyền lực nhất đất nước này – cho người luật sư riêng của mình. Người đàn ông từng ngồi bên cạnh Trump trong phòng xử án, chứng kiến thân chủ bị kết tội 34 tội danh hình sự mà vẫn bước ra khỏi tòa với đầu ngẩng cao, giờ đây là quan chức hành pháp cao nhất của Hoa Kỳ. Đó là Todd Blanche. Và kể từ ngày nhậm chức đến nay, ông ta đã không ngừng chứng minh rằng những người hoài nghi về ông đã nhìn đúng.
Cuộc bầu cử quốc hội Nga dự kiến diễn ra vào tháng 9/2026. Nhìn chung, các chuyên gia về nội chính Nga không kỳ vọng sẽ có thay đổi mang tính đột phá trong cơ cấu quyền lực quốc gia. Tổng thống Vladimir Putin vẫn đang nắm giữ vị trí trung tâm quyền lực tại Điện Kremlin. Thực tế cho thấy Vladimir Putin, nay đã 73 tuổi và đã cầm quyền 26 năm, đang đối mặt với sự suy giảm nhất định trong mức độ ủng hộ của công chúng. Bản thân ông từ lâu cũng hiểu rằng vấn đề người kế nhiệm là điều không thể tránh khỏi và cần được chuẩn bị.
Chuyến thăm viếng Bắc Kinh của Tổng Thống Donald Trump đã kết thúc cách đây hai tuần. Mọi sự tương đối đã lắng đọng. Đây là lúc thuận tiện để tổng kết chuyến đi lịch sử này.
Trong tiếng Việt có một dấu nhỏ xíu gọi là dấu mũ. Nó nằm trên đầu một số chữ cái, trông giống như một mái nhà tí hon. Khi chữ "o" đội dấu mũ, nó trở thành "ô". Khi chữ "công" có dấu mũ, nó là công lý. Khi mất dấu mũ, nó thành "cong", bị vẹo, bị bẻ, bị uốn cho lệch đi. Vừa qua, tại Hoa Kỳ, có một sự việc xảy ra khiến tôi nghĩ rất nhiều về dấu mũ này. Cụ thể là về việc mất nó. Câu chuyện như sau. Năm 2024, ông Donald Trump, hết nhiệm kỳ một, lúc đó chưa làm Tổng thống nhiệm kỳ hai, đệ đơn kiện Sở Thuế vụ Hoa Kỳ, đòi 10 tỷ đô la tiền bồi thường. Lý do là vì một nhân viên IRS tên Charles Littlejohn đã làm rò rỉ 15 năm tờ khai thuế của ông cho báo The New York Times và ProPublica. Nhờ vụ rò rỉ đó mà cả nước Mỹ biết rằng trong các năm 2016 và 2017, ông Trump đóng thuế liên bang vỏn vẹn 750 đô la mỗi năm. Bảy trăm năm mươi đô la. Một người làm việc tại quán McDonald's có thể đóng nhiều hơn thế.
Người Mỹ có một huyền thoại rất ưa kể về chính mình, rằng mảnh đất này từ buổi đầu lập quốc là “xứ sở của di dân”. Huyền thoại ấy khởi đi từ những con tàu cập bến New York cuối thế kỷ 19 - với những gia đình nghèo khổ bỏ Âu châu sang tìm một khởi đầu mới; với những toán thợ người Hoa sang đãi vàng, đào núi, đặt đường rầy xe lửa xuyên lục địa; với các các đợt người tị nạn châu Âu sau hai cuộc Thế chiến; với thuyền nhân Đông Dương sau 1975; rồi đến những đoàn người Trung Mỹ lầm lũi băng sa mạc mang theo con nhỏ. Ở mỗi khúc quanh, di dân vừa là nạn nhân của chiến tranh, độc tài, nghèo đói, vừa là lực lượng xây nên những con đường, nhà máy, khu phố, trường đại học của Hợp Chủng Quốc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.