Hôm nay,  

Tình Mẫu Tử

02/07/201600:00:00(Xem: 5842)
Lilika Naros (Hy Lạp) - Nguyễn Văn Sâm dịch

Lilika Nakos sanh năm 1903 tại Athens, có truyện ngắn đầu tay đăng trên tờ tạp chí Europa của Pháp. Bà được coi là tác giả Hy Lạp cận đại khai thác vấn đề nhân bản. Một trong những truyện nỗi tiếng của bà là Lost Soul (1943). Truyện ngắn Maternity (Tình Mẫu Tử) được coi là cổ điển và được dạy ở nhiều trường Đại học trên thế giới vì nói lên được hai mặt đối cực của con ngưởi: dửng dưng / giúp đở trước sự hoạn nạn của người khác cũng như nói lên được bản năng làm mẹ của người phụ nữ. Bối cảnh dùng trại tỵ nạn người thiểu số Armenian nhắc cho ta về tình trạng tỵ nạn của người Việt mình trước kia cũng như xa gần nhắc đến sự bị tàn sát của dân tộc nầy với cả triệu người chết do đế quốc Ottoman (nay là Thổ Nhĩ Kỳ) vào thế kỷ trước. (NVS)

.

Họ đến Marseilles đã hơn tháng nay rồi, trại tỵ nạn của họ, người Armenian, ở ngoại ô trông giống như một ngôi làng nhỏ. Họ sử dụng bất cứ thứ gì có được để che nắng đở mưa: người kha khá thì dùng tăng, dùng lều, phần lớn còn lại không thể tìm thấy gì khả dĩ tốt hơn, bèn tạm trú dưới những tấm thảm treo bốn góc trên bốn cọc cây. Ai may mắn hơn thì tìm được tấm vải treo phủ bốn bên để che ánh mặt trời chói chang. Rồi thì họ coi đây là nhà. Đàn ông đổ xô đi tìm việc-- bất cứ thượng vàng hạ cám việc gì cũng được-- để khỏi bị cơn đói hành hạ, với lại để lũ trẻ còn có chút gì đó bỏ vô miệng. Trong đám này, thằng Mikali không thể làm gì được hết. Nó ăn bánh mì dư của những người ở lều kế bên thương hại liệng ra cho. Nặng trĩu lòng nó khi nhận. Nó là thằng bé bự xộn, mười bốn tuổi rồi chứ bộ, lại mạnh khỏe nữa. Nhưng làm sao tìm được công ăn chuyện làm khi nó phải mang trên lưng gánh nặng là một đứa bé sơ sanh? Thằng bé ra đời gây nên cái chết của mẹ nó, từ đó tới giờ nó khóc i-ỉ suốt ngày vì đói khát. Làm sao có thể chấp nhận cho Mikali làm khi mà chính người đồng hương với nó cũng đuổi nó ra khỏi láng vì không chịu nỗi tiếng khóc rĩ rã liên tục của thằng bé, tiếng khóc khiến họ cả đêm mất ngủ. Chính thằng Mikali cũng chán nãn về tiếng khóc nầy. Đầu óc nó trống rỗng, nó lang thang như một kẻ vô hồn. Chết mệt vì thiếu ngủ và rã rời, nó luôn phải lê bước với gánh nặng điếc tai nhức óc trên vai, gánh nặng một sự ra đời làm cho cuộc sống nó vô vàn khổ sở. Đứa bé quả đã chọn không đúng lúc cũng không đúng chỗ để xuất hiện trên trái đất này. Tiếng khóc nó làm mọi người chán nãn. Họ đã chịu đựng quá nhiều khổ lụy rồi, họ thương hại ước mong thằng bé chết đi cho họ được yên thân. Nhưng nó không chết, nó tuyệt vọng tìm con đường sống bằng cách khóc lớn hơn, báo động cái đói khát của mình. Mấy người đàn bà vô tâm đã bịt tai lại, và Mikali đi lang thang như một thằng say. Không đồng xu dính túi để mua sữa cho thằng bé, không nhờ được người đàn bà nào trong trại sẵn lòng giúp cho thằng bé bú thép. Một chút thôi để đở lòng cũng được!

Một ngày kia, không thể chịu đựng hơn nữa, thằng Mikali đi về phía bên kia trại, về phía trại của người Anatolia: họ cũng là người tỵ nạn, trốn chạy sự tàn sát của dân Thổ Nhĩ Kỳ ở vùng Tiểu Á. Có người nói với Mikali rằng ở đấy có một người đàn bà có thể thương, giúp thằng bé. Nó đi mà lòng hi vọng tràn trề. Lều trại của họ cũng giống như lều trại ở bên nó-- cũng cái nghèo khổ đó. Mấy bà già còng lưng trên sạp ván kê sát đất; trẻ con chân không, chơi vọc ở mấy vũng nước dơ. Khi nó tới nơi, vài bà già nhỏm dậy hỏi thăm nó cần gì, nhưng nó tiếp tục tiến bước, chỉ ngừng lại trước một một căn lều mở cửa có treo hình Đức Mẹ, từ bên trong vọng ra tiếng khóc của trẻ thơ. "Xin vì Đức Mẹ Bác Ái, Đức Mẹ mà quý bà đã thờ phượng,' nó nói bằng tiếng Hy Lạp, 'Hãy thương hại đứa trẻ mồ côi tội tình này, cho nó một chút sửa. Tôi là một người Armenia khốn khổ bần hèn....' Một thiếu phụ duyên dáng, đen dòn, hiện ra. Tay cô bồng một đứa trẻ đang nút vú mẹ, sung sướng tuyệt cùng, đờ đẫn, lim dim mắt. Cô ta hỏi, "Đưa đứa nhỏ coi, trai hay gái đây?" Tim Mikali đập mạnh vì vui sướng. Vài ba người hàng xóm đến gần để coi, họ giúp Mikali lấy cái bịt đựng thằng bé ra khỏi vai nó, họ tò mò chồm tới nhìn cho rõ. Nó dở tấm khăn ra. Mấy người đàn bà thét lên những tiếng hãi hùng.

Thằng bé không còn chút nhân dạng gì nữa. Cái đầu bị bự lên như trái bí, thân hình đã mỏng thiệt mỏng rồi còn teo rút lại nhỏ xíu nhỏ xiu. Bấy lâu nay thằng bé chỉ có ngón tay để bú, ngón tay bây giờ sưng nở lên, không còn đút vừa vô miệng nó nữa. Thiệt là khủng khiếp! Chính Mikali cũng lùi lại vì sợ hải. "Mẹ ơi!" một người đàn bà kêu lên, "đây là một con dơi hút máu, quả thiệt rồi, một con dơi hút máu! Có sữa, tôi cũng không dám cho nó bú đâu." "Chính là một kẻ phản Chúa!" một người nữa nói trong khi làm dấu thánh giá. "Đúng là con của tụi Thổ rồi!" Một bà già xọm chập choạng đến. "Hu, hu!" bà kêu thét lên khi thấy thằng nhỏ. "Quỷ dữ đây mà!' Rồi quay về phía Mikali bà la mắng: "Đi! Đi ra khỏi chỗ nầy ngay, đồ ôn hoàng dịch lệ xui xẻo, đừng có héo lánh tới chỗ nầy nữa nha. Mầy đem tai vạ tới cho tụi tao đó!" Rồi thì tất cả bọn xúm lại đuổi xô, đe dọa nó. Mắt nó nhòe nhoẹt, nó ra đi, mang theo đứa nhỏ vẫn còn bị cơn đói hành hạ.

Không thể làm gì được hết, đứa nhỏ đã bị kết án tử bằng cách bỏ đói rồi. Chính Mikali cũng cảm thấy vô cùng cô đơn và tuyệt vọng. Một luồng hơi lạnh chạy dài trên sóng lưng khi nó nghĩ tới đang mang trên lưng mình một con quái vật. Nó ngã vật xuống trên bóng mát của một căn lều. Trời vẫn còn quá ấm. Khung cảnh trãi rộng ra trước mắt nó là một giải đất rộng, khô cằn, đầy dẫy rác rếnh. Còi trưa kêu lên từ đâu đây. Tiếng còi gợi nó nhớ rằng mình không ăn gì hết từ hôm trước lận. Phải lỏn ra ngoài phố, quanh mấy quán cà-phê ngoài đường, bóc trộm mấy miếng bánh mì họ ăn dỡ dang còn lại trên dĩa mới được; hay là lục lọi trong mấy cái thùng rác kiếm món gì mà chó chưa ăn. Thình thình nó cảm thấy cuộc đời sao mà đầy những kinh hoàng, nó đưa tay lên che mặt, khóc trong nỗi tuyệt vọng vô bờ. Khi nó ngước mặt lên, một người đàn ông đang đứng trước mặt nó, ngó xuống. Nó nhận ra đây là người Tàu thường đến trại bán mấy thứ trang sức rẽ tiền làm bằng giấy hay là những thứ lẩm cẩm để đeo tay, chỉ thấy chú bán mà không thấy ai mua. Thường thường người ta trêu chọc chú vì màu da và đôi mắt xếch của chú, bọn nhỏ hát ghẹo: "Cắc chú ba tàu thằng nào cũng như thằng nấy, thằng nào láng cháng đuổi cha nó đi về Tàu..." Mikali thấy chú nhìn xuống nó trìu mến, môi mấp máy như muốn nói điều gì. Rồi thì chú nói: 'Đừng khóc, đừng khóc chú bé..." Rồi rụt rè nói thêm: 'Đi theo tôi...." Mikali chỉ có thể trả lời bằng cái lắc đầu; nó muốn chạy trốn. Nó từng nghe biết bao nhiêu là chuyện kinh khủng về sự tàn ác của người phương Đông rồi! Ở trại nó còn nghe cả những chuyện như họ có thói --- giống người Do Thái--- đi bắt cóc trẻ con Công giáo về giết để uống máu! Nhưng người đàn ông kia vẫn đứng đó, không nhúc nhích. Vì vậy trong lúc quá tuyệt vọng, Mikali đã đi theo ông ta. Còn chuyện xấu xa tồi tệ nào hơn nữa có thể xảy ra cho nó chứ? Nó đi mà run rẩy, yếu nhớt, gần té với thằng nhỏ trên lưng. Người Tàu đến gần nó, ẳm giùm nó đứa nhỏ, ôm vào lòng, trìu mến. Họ qua nhiều khu đất trống, rồi thì rẽ vô con lộ nhỏ dẫn đến một cái lều gỗ có vườn rau nhỏ bao quanh. Ông ta ngừng trước cửa, vổ tay hai cái. Có tiếng bước chân nhè nhẹ bên trong, một người nhỏ thó bước ra mở cửa. Nhìn thấy ông ta, khuôn mặt người đàn bà rạng rỡ lên, một nụ cười hạnh phúc nở ra. Bà ta chào họ, đơn giản. Khi Mikali đứng chôn chân ở đó, bối rối thì người Tàu nói với nó: 'Vô đi chứ; đừng ngại ngùng gì hết. Đây là vợ của tôi." Mikali đi vô trong, phòng rộng hơn mình tưởng, chia ra ở giửa bằng một tấm bình phong giấy màu. Mọi chỗ đều sạch sẽ ngăn nắp, dầu rằng có vẽ bần hàn. Trong một góc nhà, nó thấy một cái nôi mây. "Đây là con tôi," thiếu phụ nói trong khi duyên dáng nghiêng đầu về một bên, cười với nó. "Con tôi rất nhỏ, đẹp lắm; đến đây coi." Mikali đến gần, thầm thán phục. Một đứa nhỏ bụ bẩm, nước da không đen như mẹ nó, đang ngủ thanh bình, được đắp bằng một tấm vải có những thêu móc vàng, giống như một tiểu vương gia. Rồi thì người chồng kêu vợ lại, mời vợ ngồi xuống chiếu, không nói lời nào, ông để lên đùi nàng đứa nhỏ đang chết đói rồi cúi đầu thật sâu trước vợ. Người đàn bà ngạc nhiên, khum xuống kéo tấm vải che đứa nhỏ ra. Hiện ra trước mặt nàng đầy đủ tất cả bộ xương kinh khủng của nó. Nàng kêu lên-- một tiếng kêu thương hại tuyệt cùng-- rồi ẳm đứa nhỏ xiết vào chỗ trái tim, cho nó bú. Với một cử chỉ dung dị, bình thường, nàng kéo vạt áo phủ bộ vú căng sửa, đứa trẻ đáng thương, háo đói đang bú chùn chụt ở đó.

(Dịch theo bản tiếng Anh)

Hệ thống luật quốc tế đang đối diện với những thách thức chưa từng có trong lịch sử cận đại. Luật quốc tế vốn đặt ra các nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực giữa các quốc gia, cấm tiến hành chiến tranh xâm lược và thiết lập hệ thống an ninh tập thể như một phần nối tiếp của các biện pháp chính trị.
Nếu ai chưa hiểu Tổng thống Donald Trump với những hành động và lời nói “khác lạ” thường xuyên vượt qua lòng tự trọng và khả năng tri thức dành cho cương vị một nguyên thủ quốc gia, nhất là một quốc gia lãnh tụ trong thế giới tự do dân chủ, thì câu hỏi là: thực sự ông muốn gì? Ông muốn trở thành đệ nhất nhân trong cả ba khát vọng: ông không chỉ muốn trở thành người giàu nhất, mà còn muốn là vị tổng thống quyền uy bậc nhất, người dám làm những điều mà các tổng thống tiền nhiệm né tránh, và là cái tên được lịch sử ghi ở hàng đầu. Ái tình và của cải chỉ là hai trong ba mục tiêu; mục tiêu còn lại là quyền lực tạo danh vọng, và cả ba đều phải đứng đầu.
Trong thế giới báo chí truyền hình, 60 Minutes là một trong số ít chương trình mang nặng lịch sử. Suốt hàng thập niên, 60 Minutes là tiêu chuẩn vàng của báo chí điều tra, nơi kim phút của trách nhiệm luôn tích… tích… không ngừng để hướng về sự thật. Suốt 58 năm qua, tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ tròn là biểu tượng dễ nhận ra nhất của một nền báo chí Hoa Kỳ. Chiếc đồng hồ bấm giờ mở đầu mỗi tập 60 Minutes – tích, tắc, tích – chưa bao giờ chỉ là hình ảnh minh họa. Theo thời gian, nó là một lời giao ước. Nó nói với khán giả rằng trong một giờ đồng hồ của tối Chủ Nhật, người Mỹ được biết sự thật. Quyền lực phải trả lời câu hỏi và chiếc đồng hồ do những người làm báo giữ nhịp sẽ không vì quyền lợi của bất kỳ ai mà dừng lại.
Cuối tuần qua, trong khi tôi đang nghe ca sĩ Thương Linh hát ở Coffee Factory, một độc giả đến hỏi: “Này, chị viết để làm gì? Bây giờ còn ai đọc những bài bình luận nhức đầu nữa không?” Tôi đã suy nghĩ về câu hỏi ấy. Không phải để thôi viết. Cũng không phải để tránh né suy luận. Nhưng đôi khi, trước một số sự kiện, chỉ cần ghi lại sự việc. Ngày nào. Ở đâu. Chuyện gì. Ai nói. Nói nguyên văn thế nào. Có lẽ anh ta có lý, có những lúc người viết nên “bớt viết”.Trong nhiều năm qua, tổng thống Donald Trump nhiều lần dùng lời lẽ miệt thị các nữ phóng viên ngay trước ống kính. Nhiệm kỳ đầu đã vậy. Sang nhiệm kỳ hai, những cảnh ấy không chỉ trở lại mà còn thô hơn, lỗ mãng hơn, và gần như thành thói quen không thể thiếu trong các buổi họp báo, phỏng vấn, hay bất cứ khi nào có máy quay phim và có phụ nữ cầm micro hay cầm bút làm việc.
Có một cách đọc về nhiệm kỳ thứ hai của Donald Trump càng lúc càng khó bác bỏ: ông biến chính chức vụ tổng thống thành phương tiện làm giàu lớn nhất đời mình, mà không phải âm mưu vụng về với tài liệu mật, chỉ bằng chính lời nói của tổng thống. Một câu dọa chiến tranh, một lời hăm dọa thuế quan, một tuyên bố ngừng bắn hay một dòng đăng mạng xã hội đều có thể làm thị trường Hoa Kỳ và thế giới chao đảo gần như tức thì. Với nhóm nhỏ biết trước thời điểm và nội dung lời nói, những con sóng ấy lại có thể tiên đoán, mà tiên đoán được thì kiếm lời hợp pháp, miễn không để lại dấu vết nối thẳng về ông. Đây không phải lời buộc tội đã được chứng minh trước tòa: chưa có bản án, cũng chưa có bằng chứng công khai về một đường dây giao dịch phối hợp. Nhưng một luận đề chỉ cần một cấu trúc động cơ rõ ràng, một chuỗi sự kiện trùng khớp, và một môi trường pháp lý cho phép hành vi ấy diễn ra mà gần như không sợ bị trừng phạt. Cả ba đều đang hiện diện.
Ngày 2/4/2026, “trái cam” Pam Bondi thật sự “rơi khỏi cành công lý.” Donald Trump sa thải nữ bộ trưởng tư pháp, trao chìa khóa Bộ Tư Pháp (DOJ) – một trong những định chế quyền lực nhất đất nước này – cho người luật sư riêng của mình. Người đàn ông từng ngồi bên cạnh Trump trong phòng xử án, chứng kiến thân chủ bị kết tội 34 tội danh hình sự mà vẫn bước ra khỏi tòa với đầu ngẩng cao, giờ đây là quan chức hành pháp cao nhất của Hoa Kỳ. Đó là Todd Blanche. Và kể từ ngày nhậm chức đến nay, ông ta đã không ngừng chứng minh rằng những người hoài nghi về ông đã nhìn đúng.
Cuộc bầu cử quốc hội Nga dự kiến diễn ra vào tháng 9/2026. Nhìn chung, các chuyên gia về nội chính Nga không kỳ vọng sẽ có thay đổi mang tính đột phá trong cơ cấu quyền lực quốc gia. Tổng thống Vladimir Putin vẫn đang nắm giữ vị trí trung tâm quyền lực tại Điện Kremlin. Thực tế cho thấy Vladimir Putin, nay đã 73 tuổi và đã cầm quyền 26 năm, đang đối mặt với sự suy giảm nhất định trong mức độ ủng hộ của công chúng. Bản thân ông từ lâu cũng hiểu rằng vấn đề người kế nhiệm là điều không thể tránh khỏi và cần được chuẩn bị.
Chuyến thăm viếng Bắc Kinh của Tổng Thống Donald Trump đã kết thúc cách đây hai tuần. Mọi sự tương đối đã lắng đọng. Đây là lúc thuận tiện để tổng kết chuyến đi lịch sử này.
Trong tiếng Việt có một dấu nhỏ xíu gọi là dấu mũ. Nó nằm trên đầu một số chữ cái, trông giống như một mái nhà tí hon. Khi chữ "o" đội dấu mũ, nó trở thành "ô". Khi chữ "công" có dấu mũ, nó là công lý. Khi mất dấu mũ, nó thành "cong", bị vẹo, bị bẻ, bị uốn cho lệch đi. Vừa qua, tại Hoa Kỳ, có một sự việc xảy ra khiến tôi nghĩ rất nhiều về dấu mũ này. Cụ thể là về việc mất nó. Câu chuyện như sau. Năm 2024, ông Donald Trump, hết nhiệm kỳ một, lúc đó chưa làm Tổng thống nhiệm kỳ hai, đệ đơn kiện Sở Thuế vụ Hoa Kỳ, đòi 10 tỷ đô la tiền bồi thường. Lý do là vì một nhân viên IRS tên Charles Littlejohn đã làm rò rỉ 15 năm tờ khai thuế của ông cho báo The New York Times và ProPublica. Nhờ vụ rò rỉ đó mà cả nước Mỹ biết rằng trong các năm 2016 và 2017, ông Trump đóng thuế liên bang vỏn vẹn 750 đô la mỗi năm. Bảy trăm năm mươi đô la. Một người làm việc tại quán McDonald's có thể đóng nhiều hơn thế.
Người Mỹ có một huyền thoại rất ưa kể về chính mình, rằng mảnh đất này từ buổi đầu lập quốc là “xứ sở của di dân”. Huyền thoại ấy khởi đi từ những con tàu cập bến New York cuối thế kỷ 19 - với những gia đình nghèo khổ bỏ Âu châu sang tìm một khởi đầu mới; với những toán thợ người Hoa sang đãi vàng, đào núi, đặt đường rầy xe lửa xuyên lục địa; với các các đợt người tị nạn châu Âu sau hai cuộc Thế chiến; với thuyền nhân Đông Dương sau 1975; rồi đến những đoàn người Trung Mỹ lầm lũi băng sa mạc mang theo con nhỏ. Ở mỗi khúc quanh, di dân vừa là nạn nhân của chiến tranh, độc tài, nghèo đói, vừa là lực lượng xây nên những con đường, nhà máy, khu phố, trường đại học của Hợp Chủng Quốc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.