Hôm nay,  

Trận Đói Năm Ất Dậu

25/01/200500:00:00(Xem: 15558)
Cách đây 60 năm, một tai họa kinh hoàng đổ xuống các tỉnh Bắc phần và Bắc Trung phần của Việt Nam. Đó là trận đói năm Ất Dậu khiến hàng triệu người thiệt mạng. Chính phủ nào gây nạn đói này"
Diễn đàn Kinh tế của RFA sẽ mở lại hồ sơ thảm khốc này qua phần trao đổi sau đây cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa do Việt Long thực hiện.
Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, trên diễn đàn này, ông hay đưa ra những dự đoán về kinh tế trong tương lai. Kỳ này, chúng tôi xin đề nghị ông trở về quá khứ để mở lại một hồ sơ u ám của 60 năm về trước là trận đói năm Ất Dậu tại miền Bắc Việt Nam.
-- Thưa vâng, một hồ sơ u ám mà dư luận thế giới ít biết và nhiều thế hệ người Việt có khi lại đã quên. Và nói về chuyện dự báo thì một trường hợp tương tự vẫn có thể xảy ra trong thế kỷ 21 này, nếu ta theo dõi những gì đang xảy ra tại Trung Quốc. Đó là chưa nói đến dịch cúm gia cầm nay đã tái phát ngay tại Việt Nam với tốc độ rất đáng e ngại.
Hỏi: Ta chỉ còn hai tuần nữa là sẽ ăn Tết Ất Dậu. Chúng tôi không muốn vào đầu năm lại nói về chuyện u buồn của quá khứ nên mới yêu cầu đề tài trên vào tuần này. Xin ông trước hết cho biết kích thước của thảm kịch, cụ thể là số tử vong của trận đói.
-- Chỉ một sự kiện này cũng đủ cho thấy kích thước của thảm kịch vì các chính quyền hay giới chức liên hệ đến tình hình Việt Nam vào thời ấy không thống nhất được số tử vong trực tiếp của trận đói, chưa nói đến hậu quả gián tiếp về nhân mạng, thí dụ như dịch bệnh. Mà lúc đó thì các chính quyền liên hệ thực ra lại có rất nhiều, chúng ta có người Pháp, người Nhật, và mấy chính quyền của người Việt. Nói vắn tắt thì trận đói xảy ra từ tháng 10 năm 1944 đến tháng Sáu năm 1945, nặng nhất là ở các tỉnh miền Bắc như Hải Dương, Kiến An, Nam Định, Ninh Bình và Thái Bình, và tại hai tỉnh miền Bắc Trung phần là Nghệ An và Hà Tĩnh. Duy nhất có một chính quyền có nỗ lực cứu đói là Chính phủ Trần Trọng Kim thì chính phủ này bị lật đổ bởi cuộc chính biến 19 tháng Tám năm 1945 và không kịp kiểm tra hay báo cáo tình hình tổn thất về nhân mạng.
Hỏi: Nghĩa là một trận đói lớn lao như vậy xảy ra mà mình không biết rõ về số tử vong"
-- Đấy là điều ai oán vì những kẻ có trách nhiệm sau đó bị quét sạch và những người còn lại thì lao vào một thảm kịch khác là chiến tranh. Về số tử vong thì tháng Năm, năm 1945, tức là bảy tháng sau khi trận đói bùng nổ tại miền Bắc, toà Khâm Sai tại Hà Nội ra lệnh các tỉnh miền Bắc phúc trình về tổn thất. Có 20 tỉnh báo cáo số người chết vì đói ngoài Bắc là hơn 380 ngàn, chết vì bệnh – mà không rõ bệnh gì – là hơn 20 ngàn, vị chi là 400 ngàn cho riêng miền Bắc. Qua tháng 10 năm đó, một giới chức quân sự Pháp tại Đông Dương là Tướng Mordant báo cáo là khoảng nửa triệu người chết. Toàn quyền Pháp Jean Decoux thì viết trong hồi ký của ông về thời cầm quyền tại Đông Dương – À la barre de l’Indochine – là có một triệu người miền Bắc chết đói. Phần mình, người Việt ước đoán là từ một đến hai triệu. Nhiều sử gia về sau nêu ra con số một triệu trong khi những người sinh sống tại miền Bắc khi đó thì thiên về con số hai triệu, là điều ông Hồ Chí Minh có nói đến trong bài tuyên ngôn Độc lập của Việt Minh ngày mùng hai tháng Chín năm 1945. Để thấy rõ tầm mức thiệt hại thì mình cần nhớ là khi đó dân số miền Bắc và miền Bắc Trung phần chỉ vỏn vẹn có 10 triệu người. Toàn quốc thì có thể là hơn 20 triệu. Một tai họa khiến cho từ 5 đến 10% dân số toàn quốc bị chết, mà lại chết vì đói, là điều đáng buồn.
Hỏi: Bây giờ, ta hãy nói về những nguyên nhân. Vì sao lại có một tai họa như vậy"
-- Trả lời câu hỏi này, có lẽ ta phải thận trọng gỡ cho ra một mớ bòng bong chằng chịt rất nhiều yếu tố. Nguyên nhân xa là sự tệ hại của chế độ thực dân Pháp tại Việt Nam, với những biện pháp cải cách kinh tế nhằm phục vụ chế độ và nhu cầu chiến tranh, vì Pháp khi đó đang lâm chiến và bị xâm chiếm. Nguyên nhân gần là các hậu quả về chiến tranh tại Đông Đương, vì hai rồi ba cường quốc liên hệ là Pháp, Nhật rồi cả Hoa Kỳ đã can thiệp vào Việt Nam và gây nhiều tai họa ảnh hưởng đến sinh hoạt kinh tế của người Việt. Đó là cái nhân, cái duyên là thiên tai gây mất mùa tại miền Bắc, là những biến động quân sự và chính trị dồn dập xảy ra khiến miền Bắc vốn dĩ đã thiếu gạo nên bị đói.
Hỏi: Ta hãy lần giở từng phần của mớ bòng bong ấy, xin ông nói về các nguyên nhân xa...
-- Sau vụ tổng khủng hoảng kinh tế năm 1930, Pháp lui về chính sách bảo hộ mậu dịch và muốn độc quyền khai thác Đông Dương theo đường lối rõ rệt là thực dân. Tức là toàn thể dân chúng Đông Dương cùng ra sức nâng cao giá trị kinh tế của khu vực, nhưng hưởng lợi thì chỉ có người Pháp, một thiểu số người Việt và người Hoa gần với Pháp hay một số dân chúng thành thị. Pháp nói đến công lao khai hoá và xây dựng hạ tầng, nhưng dân Việt ra sức tài trợ việc đó bằng sức lao động và sưu thuế, còn lợi lộc thì chỉ nước Pháp và một thiểu số bản xứ được hưởng. Hậu quả là trước Thế chiến II, Việt Nam vẫn là một xứ lạc hậu và nghèo đói so với nhiều xứ Á châu khác, kể cả các thuộc địa của Anh.
Hỏi: Và xứ sở nghèo đói ấy lại bị lôi cuốn vào chiến tranh phải không"

-- Vâng, khi Thế chiến II bùng nổ, Pháp bị yếu thế. Tại Đông Á, Nhật bắt đầu bành trướng và nhìn vào Đông Dương như đầu cầu tiến qua Nam Á và khống chế Trung Quốc. Giữa năm 1940, Pháp bị Đức chiếm và Nhật gây sức ép với Pháp rồi năm sau tiến vào Đông Dương. Tức là sau khi bị khai thác và vẫn còn nghèo túng, Việt Nam tuột dần vào nền kinh tế thời chiến, với việc Pháp và Nhật cố tranh giành quyền kiểm soát kinh tế. Người ta nói đến lý do là Nhật bắt dân ta trồng đay thay trồng gạo để phục vụ chiến tranh. Thực ra, Pháp tiến hành việc ấy từ trước, cụ thể là thu hẹp diện tích canh tác các hoa màu phụ như ngô, khoai, sắn, để trồng bông, đay gai hay cây kỹ nghệ. Khi thiếu gạo, dân ta còn ăn độn khoai sắn, loại lương thực hạng nhì đó cũng hết nên mới chết. Cụ thể là sản lượng gạo tại miền Bắc tăng không dịp với dân số vì diện tích canh tác bị thu hẹp. Và miền Bắc cần gạo trong Nam, sau khi gửi phân đạm vào Nam....
Hỏi: Và chiến tranh phá vỡ thế hỗ tương ấy, ta đang tiến đến các nguyên nhân gần...
-- Vâng, là những nguyên nhân khiến dân ta vốn dĩ đã nghèo nay lại thiếu ăn trầm trọng. Nói chung thì miền Bắc có thể tạm đủ lương thực để cầm hơi, nhưng vì Việt Nam bị Nhật chiếm đóng và Đồng minh - chủ yếu là Hoa Kỳ - thường xuyên oanh tạc đường vận tải để tấn công quân Nhật nên gạo Nam hết ra Bắc, và than hay phân bón từ miền Bắc hết vào Nam. Hậu quả là sản lượng gạo trong Nam có sụt nhưng vẫn thừa và thóc còn bị Nhật đốt thay than để chạy xe lửa như nhiều người đã kể lại. Thực ra, lý do chính yếu là cả Pháp và Nhật đều ra sức vét gạo với chế độ cưỡng bách thu mua cho nhu cầu chiến tranh của họ trong khi bộ máy chính quyền của Pháp đã tan rã nên không đảm bảo được việc tiếp vận và phân phối. Nạn thiếu ăn biến thành nạn đói, manh nha từ đầu năm 1944.
Hỏi: Đã vậy, ta còn gặp các yếu tố thời cơ ông gọi là cái duyên của cái nhân đã có sẵn"
-- Thưa đúng vậy. Vì chiến tranh và sự tê liệt của guồng máy nhà nước, ta đã có nạn vật giá leo thang, nhất là giá lương thực. Thế rồi, miền Bắc lại bị hạn hán và côn trùng phá hoại khiến vụ Đông Xuân năm 1944 bị sụt khoảng 20%. Kế tiếp là lũ lụt lại xảy ra vào vụ Chiêm nên khủng hoảng bắt đầu bùng nổ. Thế rồi trong khi cả Pháp và Nhật cùng vét gạo thì một lực lượng khác là Việt Minh cũng tung ra thủ đoạn ấy. Điều này thì các văn kiện đảng về lịch sử đảng Cộng sản tất nhiên không nói đến. Trong cảnh đói kém triền miên khiến cho các làng xã hết còn bảo bọc được nhau như truyền thống, lực lượng nào có gạo thì hy vọng có dân. Về đại thể, chính quyền Pháp thời đó còn có chút cố gắng giới hạn để lo tiếp tế chứ khi Nhật đảo chính Pháp xong, vào tháng Ba năm 1945, họ không có biện pháp cấp cứu gì. Nỗ lực cứu đói của Chính phủ Trần Trọng Kim và cứu tế của một số người như bác sĩ Phan Quang Đán cùng các phong trào thanh niên thời ấy mới là điều đáng ghi nhớ.
Hỏi: Nếu tổng kết lại, ông cho rằng trận đói năm Ất Dậu bùng nổ vì là hậu quả của nhiều yếu tố trùng hợp, xảy ra một cách bất hạnh cho người Việt thời ấy"
-- Quả như thế. Thiên tai như hạn hán, lũ lụt hay côn trùng phá hoại mùa màng lẫn cả nạn giặc giã thì lịch sử Việt Nam thấy đã nhiều, nhưng chưa bao giờ khiến cả vạn hay cả triệu người chết đói. Nguyên do sâu xa là chế độ thực dân làm một xứ nông nghiệp lại thiếu lương thực. Tai họa chiến tranh trong một lãnh thổ mà chính quyền bị tê liệt là nguyên nhân gần. Kế tiếp mới là những tính toán chính trị bất nhân của các phe tham chiến. Ngần ấy yếu tố mới dẫn tới thảm kịch mà ngày nay có hỏi thế giới thì hầu hết đều không biết.
Hỏi: Và hậu quả sau đó ra sao, ông có thể rút kết luận gì"
-- Hậu quả gần là sự cáo chung của chế độ thực dân tại Việt Nam và cơ hội cho cuộc chính biến của Việt Minh ngày 19 tháng Tám năm 1945. Lúc đó, Nhật bại trận phải đầu hàng và rút quân, để lại một khoảng trống chính trị cho những hỗn loạn kế tiếp khi Thế chiến II kết thúc lại mở màn cho Chiến tranh lạnh, rồi Việt Nam lại bị lôi vào một cuộc chiến khác. Hậu quả xa là vì lương thực và nông nghiệp là chuyện sinh tử, người cộng sản mới đi tới giải pháp tai hại là cải cách ruộng đất khiến cả vạn người lại bị mất mạng nữa, rồi còn chủ trương hợp tác hoá nông nghiệp khiến cả triệu người bị đói... Mãi đến gần đây - từ 10 năm trở lại - dân ta mới hết bị cái đói ám ảnh...
Hỏi: Câu hỏi cuối, vào đầu chương trình ông có nói là một biến cố tương tự vẫn có thể xảy ra tại Hoa Lục. Vì sao lại như vậy"
-- Trung Quốc có một tỷ ba trăm triệu dân, trong số này, gần 900 triệu là nông dân nghèo và bất mãn. Một vụ khủng hoảng kinh tế vẫn có thể xảy ra và vì hệ thống chính trị lạc hậu với ách độc tài, khủng hoảng bùng nổ tất nhiên sẽ lan qua chính trị và đánh xập bộ máy nhà nước. Trong trường hợp ấy, nhiều người có thể chết đói mà thế giới vẫn không biết để can thiệp hay cấp cứu. Ngay tại Bắc Kinh, tháng Sáu năm 1989, quân đội đã tàn sát cả ngàn người tại quảng trường Thiên an môn mà thế giới chưa biết đích xác số nạn nhân. Vì vậy, nhiều tỉnh, huyện hay xã ấp sẽ có người chết đói mà mình không biết. Cũng như đã không biết là khoảng 65 triệu cho một dân số gần 500 triệu đã chết vì cuộc cách mạng của Mao Trạch Đông.

Tinh thần lãnh đạo là khả năng định hướng, truyền cảm hứng và tạo ảnh hưởng để tập hợp con người cùng hướng tới một tầm nhìn mới và đạt được mục tiêu chung. Một nhà lãnh đạo có tinh thần lãnh đạo mạnh mẽ thường thể hiện qua các năng lực chủ yếu như: định hướng tương lai, xây dựng tầm nhìn và chiến lược dài hạn; tạo động lực để khơi dậy năng lực, ý chí và sự bền bỉ của tập thể; tinh thần trách nhiệm trước các quyết định và hệ quả; nêu gương hành động nhất quán với lời nói, trở thành chuẩn mực cho tập thể và khả năng thích ứng khi bối cảnh thay đổi.
Theo dõi vũ đài chính trị Mỹ, có lẽ ai cũng dễ dàng nhận ra những khoảnh khắc mà người ta không biết gọi là gì cho đúng. Nó không hẳn là phản bội, cũng không hoàn toàn là đầu hàng, mà nó giống như một sự tan rã, một ánh chớp vụt tắt trước mắt mọi người. Và cái điều đó, để lại trong lòng những người còn đủ kiên nhẫn để quan tâm đến bề mặt của hệ thống chính quyền, cảm thấy thất vọng.
Sau khi được bầu làm Chủ Tịch Nước, TBT Tô Lâm dõng dạt đưa ra chỉ tiêu phát triển kinh tế 10% mỗi năm. Dĩ nhiên đây là một khẩu hiệu nặng tính tuyên truyền, hơn là sách lược kinh tế được hoạch định nghiêm chỉnh. CSVN là một đảng CSTQ tí hon, từ khi mới thành lập đưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, đến thời của Tô Lâm. Nền kinh tế VN cũng là phiên bản mô hình TQ, tuy sinh sau đẻ muộn vì giới lãnh đạo CSVN kém trí tuệ hơn giới lãnh đạo CSTQ. Hệ lụy tự nhiên là Việt Nam kém phát triển hơn TQ nhiều thập niên và GDP đầu người chỉ bằng khoảng 1/3 TQ.
Cho đến giờ này, chỉ là phỏng đoán! Christopher Hale, chủ nhân của trang báo đặc biệt Letters from Leo, đã liên lạc với đài CBS vào Thứ Hai tuần này với một câu hỏi duy nhất: Liệu Stephen Colbert có khép lại chương trình The Late Show tối Thứ Năm tuần này với một cuộc phỏng vấn Đức Giáo Hoàng Leo XIV, vị Giáo Hoàng người Mỹ đầu tiên hay không? CBS từ chối trả lời.
Vào cái đêm thất bại đó, Thomas Massie đã nói với đám đông những người ủng hộ một điều mà suốt nhiều năm qua, chẳng ai trong đảng của ông dám nói to thành lời: "Nếu nhánh lập pháp lúc nào cũng bỏ phiếu theo ý tổng thống, thì quả thực chúng ta đang có một vị vua.”
Tưởng đâu chuyện tổng thống Donald Trump kiện Sở Thuế đòi 10 tỉ đô là màn “thay trời hành đạo”, đòi bồi thường cho vụ hồ sơ thuế bị IRS làm lộ. Dè đâu chỉ là màn mượn đầu heo IRS để nấu nồi cháo gần 1,8 tỉ rồi dọn ra cho phe mình xì xụp.
Trong bối cảnh Hoa Kỳ hiện đang bị chia rẽ sâu sắc bởi chính trị nội bộ, làm phật ý các đồng minh, và một lần nữa lại bị cuốn vào cuộc chiến tại Vùng Vịnh Ba Tư, đây dường như là thời điểm thuận lợi để Trung Quốc nắm lấy vai trò lãnh đạo toàn cầu. Tuy nhiên, Bắc Kinh lại tránh việc tận dụng những xung đột này bằng cách đưa ra một lập trường công khai mạnh mẽ. Thay vì đối đầu với Hoa Kỳ thông qua việc bảo vệ Iran—một đối tác chiến lược lâu năm trong khu vực—Trung Quốc chỉ cung cấp sự hỗ trợ gián tiếp và phần lớn vẫn đứng ngoài cuộc.
Theo những tài liệu bán chính thống, đặc biệt một bài nghiên cứu tựa đề Jester của tác giả Kivak, Rebeccad đăng trên trang học thuật EBSCO, câu "Gã hề là người duy nhất được phép chế giễu nhà vua" gần như là đúng trong truyền thống cung đình châu Âu thời Trung Cổ và Phục Hưng. Họ sử dụng tài hóm hỉnh, bài hát, câu đố hoặc tiểu phẩm để “móc” vua chúa, chỉ ra các sai lầm hoặc chính sách sai lầm của vua mà không bị trừng phạt. Nước Mỹ, xứ sở tự hào là nền cộng hòa không vua, vô hình trung đã trao vai trò đó cho truyền hình đêm khuya. Và trong suốt hơn một thập niên, có lẽ không ai cầm thứ vũ khí ấy với độ chính xác cao, căm phẫn và duyên dáng bi thương hơn Stephen Colbert.
Cô tự nhủ, cũng chưa đến nỗi nào. Anh la hét, chửi mắng, nhưng chưa hẳn đánh cô. Anh sỉ nhục người khác, nhưng vì cô hiểu và yêu anh, cô tin mình sẽ không bị đối xử như thế. Hồi mới quen anh, cô có việc làm, đủ ăn đủ xài. Bây giờ, móc túi không đủ tiền đổ xăng, cô cũng không một lần oán anh. Bị anh dụ ngọt, gạt hết lần này tới lần khác, cô ôm khư khư vào lòng cái lần đầu hiếm hoi anh cho cô cảm giác mình được bảo vệ, bênh vực. Chỉ một cái ôm, một câu nói “mình em hiểu anh thôi” là đủ vốn liếng để cô tự nuôi sống mối “tình anh với em” dài tập trong đầu.
Diversity, Equity, Inclusion — viết tắt DEI — dịch nôm là “Đa dạng, Công bằng, Hòa nhập”, là một khái niệm đã trải qua nhiều chặng lịch sử ở Hoa Kỳ. Sau phong trào dân quyền thập niên 1960, trọng tâm là “cơ hội bình đẳng”: chấm dứt phân biệt chủng tộc, mở cánh cửa trường học và công sở cho người da màu. Về sau, với chính sách “affirmative action”, chính quyền, đại học và doanh nghiệp chủ động nâng đỡ các nhóm thiểu số, không chỉ để bù đắp bất công lịch sử, mà còn để điều chỉnh cơ cấu nhân sự cho tương xứng với diện mạo dân số mới: một lực lượng lao động đa sắc tộc, đa văn hóa cần có mặt trong vị trí chuyên môn, quản trị và phục vụ công cộng. Những chương trình ấy vì thế vừa đáp ứng yêu cầu công bằng, vừa phục vụ nhu cầu thực tế của một xã hội ngày càng đa dạng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.