Hôm nay,  

Trung Quốc Hạ Cánh

01/02/200500:00:00(Xem: 15981)
Cục Thống kê Trung Quốc cho biết đà tăng trưởng Hoa Lục tăng bất ngờ trong quý bốn, quy ra toàn năm là 9,5%, tức kinh tế Trung Quốc chưa giảm tốc độ tăng trưởng như dự tính. Hậu quả ra sao"
Diễn đàn Kinh tế Đài RFA tìm hiểu về sự kiện ấy cùng những hậu quả có thể xảy ra trong thời gian tới trong cuộc phỏng vấn sau đây với kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa do Việt Long thực hiện.
Hỏi: Thưa ông, trên diễn đàn này, ông nhiều lần dự báo Trung Quốc sẽ khó hãm đà tăng trưởng và kinh tế nóng máy sẽ gặp rủi ro hạ cánh nặng nề, thậm chí hạ cánh tan tành. Hôm Thứ Ba 25 tuần qua, Cục Thống kê Quốc gia của Trung Quốc cho biết là tốc độ tăng trưởng trong quý bốn đã gia tăng bất ngờ, quy ra toàn năm là 9,5% so với 9,1% của quý ba. Đây có phải là dấu hiệu về nguy cơ hạ cánh nặng nề hay chưa"
-- Thưa vâng, tuần qua khi ta trao đổi về những nguyên do của trận đói năm Ất Dậu 1945 tại Việt Nam thì Cục Thống kê Trung Quốc báo cáo là tốc độ tăng trưởng sản xuất của quý bốn (QIV) không giảm mà còn lên tới 9,5% quy ra toàn năm. Điều đó có nghĩa là các biện pháp hạ nhiệt kinh tế ban hành từ cuối tháng Tư năm ngoái đã không đạt yêu cầu. Ngoài tin ấy thì ta còn nên để ý đến một biến cố khác là hôm 24, Ngân hàng Hoàng gia Scotland đã công bố kết quả thăm dò ý kiến của giới chỉ huy 65 ngân hàng trung ương trên thế giới, theo đó có tới 70% các ngân hàng trung ương dự tính sẽ giảm tỷ lệ tồn trữ Mỹ kim trong khối dự trữ ngoại tệ của họ. Biến cố thứ hai này sở dĩ đáng chú ý vì sẽ tác động vào kinh tế Trung Quốc, khiến nguy cơ hạ cánh tan tành sẽ dễ xảy ra trong năm nay, và từ Hoa Lục sẽ lan ra các nước Đông Á trong năm tới. Trong khi dịch cúm gia cầm đang lây lan tại Việt Nam với tốc độ đáng ngại, thì hai biến cố kinh tế kể trên có thể báo hiệu nhiều sóng gió cho Việt Nam trong năm Ất Dậu này.
Hỏi: Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu những sự kiện ấy. Trước hết là về đà tăng trưởng của kinh tế Trung Quốc và khả năng kềm hãm của giới lãnh đạo Bắc Kinh. Câu hỏi đầu tiên thưa ông, vì sao sản xuất tăng mạnh lại là điều đáng ngại" Bình thường thì ai cũng muốn ăn nên làm ra, khi sản xuất gia tăng thì người ta phải mừng chứ sao lại lo ngại"
-- Thưa đúng vậy, nhưng nói chung thì khi kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao như thế, vật giá có thể tăng mạnh hơn và sẽ gây nguy cơ lạm phát. Dùng khái niệm vật lý, ta so sánh điều ấy với hiện tượng nóng máy và có nhu cầu phải “hạ nhiệt” để giữ được một tốc độ hài hòa giữa tăng trưởng và vật giá. Riêng về hoàn cảnh Trung Quốc thì ta chú ý đến hai vấn đề. Thứ nhất, lạm phát trong một xứ có khả năng điều tiết kinh tế thấp thì dễ gây khủng hoảng và ở một xứ độc tài thì dễ dẫn tới động loạn chính trị, đó là một nguyên do gây ra vụ thảm sát Thiên an môn năm 1989 mà ta nhắc đến hai tuần trước khi cựu Tổng bí thư Triệu Tử Dương tạ thế. Thứ hai và nghiêm trọng không kém là phẩm chất tăng trưởng của Trung Quốc thực ra rất kém. Ta đang gặp hiện tượng gọi là bong bóng đầu tư trong rất nhiều lãnh vực. Trái bóng được thổi phồng không cơ sở thì có ngày sẽ vỡ, khủng hoảng sẽ bùng nổ. Nhật Bản từng bị hiện tượng ấy từ năm 1990 và kinh tế suy sụp qua bốn đợt suy trầm giờ này chưa thoát khỏi. Hoa Kỳ cũng bị hiện tượng bể bóng đầu tư như thế trong năm 2000 nên năm sau mới bị suy trầm.
Hỏi: Hai xứ ấy không bị khủng hoảng chính trị, vì sao hoàn cảnh Trung Quốc lại khác"
-- Chủ yếu là do chủ trương giới lãnh đạo Hoa Lục gọi là “kinh tế thị trường theo màu sắc Trung Quốc”, hay nói theo màu sắc Hà Nội, là “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đó là kinh tế thị trường bị hạn chế bởi một đảng độc tài và một khu vực nhà nước mục nát, với doanh nghiệp nhà nước được ngân hàng cũng của nhà nước tài trợ bằng thủ thuật ngân sách hay tiết kiệm của dân để khu vực nhà nước giữ vị trí thống trị. Dân Hoa Lục chắt bóp để dành và ký thác đến 30% lợi tức của họ vào các ngân hàng quốc doanh. Các ngân hàng này làm chủ đến 90% tổng số tín dụng và lại thực tế cho vay theo diện chính sách, để tài trợ doanh nghiệp nhà nước với lãi suất hạ, điều kiện ưu đãi, bất kể tới rủi ro tín dụng. Mà doanh nghiệp nhà nước thì kinh doanh kém, lỗ lã kinh niên và để lại núi nợ khó đòi hoặc sẽ mất. Thực tế thì nhà nước lấy tiền dân đi trợ cấp doanh nghiệp của mình mà khi có tiền dễ dàng như vậy, các doanh nghiệp nhà nước phóng tay đầu tư bất kể lời lãi hay rủi ro, trái bóng đầu tư vì vậy dễ căng phồng và sẽ bể. Khi hệ thống ấy sụp đổ thì dân chúng mất tiền. Chưa nói đến 900 triệu nông dân bất mãn, có 250 triệu người đang gặp nguy cơ phá sản như vậy, thì làm gì khủng hoảng chẳng dễ bùng nổ"
Hỏi: Nhưng khi gặp nguy cơ ấy, chính quyền Bắc Kinh tất nhiên phải có biện pháp chứ"
-- Nhưng quá thô và quá trễ. Đầu năm ngoái, người ta đã nói tới nguy cơ nóng máy kinh tế, qua tháng Ba, Bắc Kinh mới đưa ra biện pháp là đồng loạt đông lạnh hệ thống tín dụng, tức là cấm cho vay tiền trong nhiều tháng liền. Biện pháp thô thiển ấy thiếu công hiệu và lượng đầu tư tiếp tục gia tăng và lại gia tăng trong các khu vực kém hiệu năng, là hoàn cảnh hôm nay. Đã vậy, chính quyền vẫn chưa có phản ứng dứt khoát và còn có xu hướng nghe ngóng chờ đợi, trong khi giới đầu tư quốc tế bắt đầu chột dạ nghi ngờ sự kỳ diệu kinh tế của xứ này. Lý do chậm lụt và thiếu tinh tế trong cách đối phó thì kể ra rất nhiều...

Hỏi: Vâng, xin ông giải thích cho vì sao lại có khả năng ứng phó kém cỏi như vậy.
-- Về nguyên tắc, khi gặp nguy cơ nóng máy như vậy, các chính quyền nói chung đều phải nâng lãi suất ngân hàng hay gia tăng mức dự trữ pháp định của ngân hàng để giảm bớt khối lượng tín dụng bơm vào kinh tế. Đồng thời, người ta cũng phải có biện pháp hạn chế đầu tư trong những ngành đang bị quá tải, thí dụ tại Trung Quốc là gia cư địa ốc, xi măng, sắt thép và xe hơi chẳng hạn. Nhưng, vì hệ thống ngân hàng lạc hậu và bộ máy quản lý thô sơ, Trung Quốc không thể điều tiết tín dụng bằng loại khí cụ định phẩm như thế, tức là bằng cách điều chỉnh lãi suất hay dự trữ pháp định mà thiên về giải pháp hành chính. Nhưng mỗi doanh nghiệp nhà nước lại là một thế lực trì hoãn hay tránh né các biện pháp hành chính này. Đã vậy, bên ngoài Hoa Lục, kinh tế thế giới cũng có xoay chuyển và hậu quả sẽ là sức ép rất lớn dội vào trong. Cụ thể là lãi suất tại Hoa Kỳ đã và còn tăng nên sẽ ảnh hưởng đến kinh tế Trung Quốc từ giữa năm nay trở đi.
Hỏi: Và như vậy, chúng ta đang nói đến hiệu ứng của đồng đô la Mỹ phải không"
-- Thưa vâng. Hoa Kỳ đã hạ lãi suất đến mức cực thấp trong nhiều năm liền để đối phó với suy trầm kinh tế sau nạn bể bóng đầu tư năm 2000 và khủng bố năm 2001. Nay kinh tế đã hồi phục và tăng trưởng mạnh nên từ tháng Sáu năm ngoái, hệ thống ngân hàng trung ương Mỹ đã nâng lãi suất và sẽ còn nâng tiếp trong suốt năm nay. Khi lãi suất Mỹ tăng thì tư bản từ các nơi khác sẽ lại chảy về Mỹ vì có cơ hội kiếm lời cao hơn, vì tín dụng cao giá hơn. Giới đầu tư quốc tế đang hoài nghi về thành quả sinh lời tại Hoa Lục sẽ rút tiền đem về Mỹ cùng với nạn tẩu tán tài sản và chuyên ngân lậu của quan chức Trung Quốc; hai yếu tố ấy sẽ là cái duyên của một cái nhân có sẵn và châm ngòi cho khủng hoảng. Khi nào lãi suất liên ngân hàng tại Mỹ vượt quá 5% thì ta có thể thấy hiện tượng vỡ bờ.
Hỏi: Nhưng thưa ông, ở trên, ông có nói đến việc nhiều ngân hàng trung ương trên thế giới đang trù tính giảm bớt tỷ lệ của tiền Mỹ trong khối dự trữ ngoại tệ của họ. Điều đó sẽ ảnh hưởng ra sao đến việc hạ cánh an toàn hay tan tành tại Trung Quốc"
-- Chúng ta đang tiếp cận một vấn đề phức tạp mà lãnh đạo và truyền thông Việt Nam có khi không nhìn ra, hoặc diễn dịch theo cảm quan của mình, là thế giới tẩy chay tiền Mỹ, mà rút kết luận sai lầm. Hoa Kỳ bị hai loại khiếm hụt song hành là nhập siêu khoảng 650 tỷ và bội chi ngân sách hơn 500 tỷ Mỹ kim một năm. Điều đó khiến tiền Mỹ đã bị mất giá và sẽ còn bị mất giá. Nhưng, đồng Mỹ kim lại là một ngoại tệ chính của thế giới và nhiều nước tàng trữ tài sản của mình dưới dạng đô la thay vì vàng hay đồng Euro của Âu châu, hoặc đồng Yen của Nhật hay đồng bảng Anh, Phật lăng Thụy Sĩ. Khi đô la mất giá thì tài sản mình bị hao hụt, các nước sợ lỗ nên đổi dần qua ngoại tệ khác. Vì vậy tỷ trọng của Mỹ kim trong khối dự trữ ngoại tệ các nước đang giảm dần, từ 66% trong bốn năm qua, hoặc 67% cuối năm 2001 nay chỉ còn khoảng 64%. Trong bốn tháng cuối năm ngoái, người ta đã thăm dò ý kiến của 65 nhân vật điều hành các ngân hàng nhà nước và được biết là 70% dự tính sẽ còn bán Mỹ kim để mua ngoại tệ khác hầu khỏi bị hao hụt tài sản. Hiện tượng này không đáng ngạc nhiên mà chỉ báo hiệu là Mỹ kim sẽ còn sụt giá và các nước có ác cảm với Hoa Kỳ sẽ chỉ ồn ào nói đến thế lực suy sụp của đô la.
Hỏi: Nhưng, điều ấy ảnh hưởng gì tới Trung Quốc hay Đông Á nói chung"
-- Có ảnh hưởng rất lớn vì điều mà chúng ta từng nói nhiều lần trên diễn đàn này là thế phân công lao động thiếu lành mạnh ở hai bờ Thái bình dương. Hoa Kỳ thì tiết kiệm ít mà tiêu xài nhiều nên là đầu máy nhập khẩu cho kinh tế Á châu, trong khi các nước Đông Á thì xài ít tiết kiệm nhiều, cứ thắt lưng buộc bụng để xuất khẩu qua Mỹ. Được thặng dư mậu dịch với Hoa Kỳ, tức là thu rất nhiều Mỹ kim về nhà, họ làm gì với đồng bạc ấy" Họ tái đầu tư vào Mỹ, như mua cổ phiếu hay trái phiếu Hoa Kỳ. Nôm na là bán hàng cho Mỹ lấy tiền về đem qua cho Mỹ vay lại. Các khoản cho vay ấy được bút toán trong dự trữ tài sản ngoại tệ là tiền Mỹ. Trung Quốc là nước đứng đầu trong địa hạt ấy qua chiến lược xuất khẩu tối đa vào Mỹ với giá tối thiểu. Để giữ lợi thế cạnh tranh, tiền Mỹ sụt chừng nào thì đồng nhân dân tệ của họ sụt theo chừng ấy hầu hàng hoá Trung Quốc vẫn cứ rẻ thối. Nhìn trên bề mặt thì có vẻ là hay vì Trung Quốc nay đang là một chủ nợ của Mỹ.
Hỏi: Nhưng khi Mỹ kim mất giá thì chủ nợ mất tiền, có phải như vậy không"
-- Đúng như vậy và nếu sợ tiền Mỹ sụt giá mà bán tháo ra để mua ngoại tệ khác, như các ngân hàng trung ương dự tính, thì tiền Mỹ càng sụt mau là điều ta còn thấy trong năm tới. Trong khi ấy, kinh tế Trung Quốc lại đang bị nguy cơ khủng hoảng, lãi suất Mỹ lại cứ tiếp tục tăng và kinh tế Mỹ lại có những cơ hội đầu tư hấp dẫn hơn Hoa Lục, tư bản sẽ rời Hoa Lục chảy ngược về Mỹ và xuất khẩu của Trung Quốc sẽ sa sút. Ngần ấy biến động sẽ nuôi dưỡng nhau trong một vòng luẩn quẩn gọi là biện chứng và doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc sẽ sụp đổ, kéo theo hệ thống ngân hàng. Chúng ta có thể thấy điều này từ giữa năm nay trở đi, qua đến năm tới, khủng hoảng kinh tế có thể lan vào chính trị....

Tinh thần lãnh đạo là khả năng định hướng, truyền cảm hứng và tạo ảnh hưởng để tập hợp con người cùng hướng tới một tầm nhìn mới và đạt được mục tiêu chung. Một nhà lãnh đạo có tinh thần lãnh đạo mạnh mẽ thường thể hiện qua các năng lực chủ yếu như: định hướng tương lai, xây dựng tầm nhìn và chiến lược dài hạn; tạo động lực để khơi dậy năng lực, ý chí và sự bền bỉ của tập thể; tinh thần trách nhiệm trước các quyết định và hệ quả; nêu gương hành động nhất quán với lời nói, trở thành chuẩn mực cho tập thể và khả năng thích ứng khi bối cảnh thay đổi.
Theo dõi vũ đài chính trị Mỹ, có lẽ ai cũng dễ dàng nhận ra những khoảnh khắc mà người ta không biết gọi là gì cho đúng. Nó không hẳn là phản bội, cũng không hoàn toàn là đầu hàng, mà nó giống như một sự tan rã, một ánh chớp vụt tắt trước mắt mọi người. Và cái điều đó, để lại trong lòng những người còn đủ kiên nhẫn để quan tâm đến bề mặt của hệ thống chính quyền, cảm thấy thất vọng.
Sau khi được bầu làm Chủ Tịch Nước, TBT Tô Lâm dõng dạt đưa ra chỉ tiêu phát triển kinh tế 10% mỗi năm. Dĩ nhiên đây là một khẩu hiệu nặng tính tuyên truyền, hơn là sách lược kinh tế được hoạch định nghiêm chỉnh. CSVN là một đảng CSTQ tí hon, từ khi mới thành lập đưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, đến thời của Tô Lâm. Nền kinh tế VN cũng là phiên bản mô hình TQ, tuy sinh sau đẻ muộn vì giới lãnh đạo CSVN kém trí tuệ hơn giới lãnh đạo CSTQ. Hệ lụy tự nhiên là Việt Nam kém phát triển hơn TQ nhiều thập niên và GDP đầu người chỉ bằng khoảng 1/3 TQ.
Cho đến giờ này, chỉ là phỏng đoán! Christopher Hale, chủ nhân của trang báo đặc biệt Letters from Leo, đã liên lạc với đài CBS vào Thứ Hai tuần này với một câu hỏi duy nhất: Liệu Stephen Colbert có khép lại chương trình The Late Show tối Thứ Năm tuần này với một cuộc phỏng vấn Đức Giáo Hoàng Leo XIV, vị Giáo Hoàng người Mỹ đầu tiên hay không? CBS từ chối trả lời.
Vào cái đêm thất bại đó, Thomas Massie đã nói với đám đông những người ủng hộ một điều mà suốt nhiều năm qua, chẳng ai trong đảng của ông dám nói to thành lời: "Nếu nhánh lập pháp lúc nào cũng bỏ phiếu theo ý tổng thống, thì quả thực chúng ta đang có một vị vua.”
Tưởng đâu chuyện tổng thống Donald Trump kiện Sở Thuế đòi 10 tỉ đô là màn “thay trời hành đạo”, đòi bồi thường cho vụ hồ sơ thuế bị IRS làm lộ. Dè đâu chỉ là màn mượn đầu heo IRS để nấu nồi cháo gần 1,8 tỉ rồi dọn ra cho phe mình xì xụp.
Trong bối cảnh Hoa Kỳ hiện đang bị chia rẽ sâu sắc bởi chính trị nội bộ, làm phật ý các đồng minh, và một lần nữa lại bị cuốn vào cuộc chiến tại Vùng Vịnh Ba Tư, đây dường như là thời điểm thuận lợi để Trung Quốc nắm lấy vai trò lãnh đạo toàn cầu. Tuy nhiên, Bắc Kinh lại tránh việc tận dụng những xung đột này bằng cách đưa ra một lập trường công khai mạnh mẽ. Thay vì đối đầu với Hoa Kỳ thông qua việc bảo vệ Iran—một đối tác chiến lược lâu năm trong khu vực—Trung Quốc chỉ cung cấp sự hỗ trợ gián tiếp và phần lớn vẫn đứng ngoài cuộc.
Theo những tài liệu bán chính thống, đặc biệt một bài nghiên cứu tựa đề Jester của tác giả Kivak, Rebeccad đăng trên trang học thuật EBSCO, câu "Gã hề là người duy nhất được phép chế giễu nhà vua" gần như là đúng trong truyền thống cung đình châu Âu thời Trung Cổ và Phục Hưng. Họ sử dụng tài hóm hỉnh, bài hát, câu đố hoặc tiểu phẩm để “móc” vua chúa, chỉ ra các sai lầm hoặc chính sách sai lầm của vua mà không bị trừng phạt. Nước Mỹ, xứ sở tự hào là nền cộng hòa không vua, vô hình trung đã trao vai trò đó cho truyền hình đêm khuya. Và trong suốt hơn một thập niên, có lẽ không ai cầm thứ vũ khí ấy với độ chính xác cao, căm phẫn và duyên dáng bi thương hơn Stephen Colbert.
Cô tự nhủ, cũng chưa đến nỗi nào. Anh la hét, chửi mắng, nhưng chưa hẳn đánh cô. Anh sỉ nhục người khác, nhưng vì cô hiểu và yêu anh, cô tin mình sẽ không bị đối xử như thế. Hồi mới quen anh, cô có việc làm, đủ ăn đủ xài. Bây giờ, móc túi không đủ tiền đổ xăng, cô cũng không một lần oán anh. Bị anh dụ ngọt, gạt hết lần này tới lần khác, cô ôm khư khư vào lòng cái lần đầu hiếm hoi anh cho cô cảm giác mình được bảo vệ, bênh vực. Chỉ một cái ôm, một câu nói “mình em hiểu anh thôi” là đủ vốn liếng để cô tự nuôi sống mối “tình anh với em” dài tập trong đầu.
Diversity, Equity, Inclusion — viết tắt DEI — dịch nôm là “Đa dạng, Công bằng, Hòa nhập”, là một khái niệm đã trải qua nhiều chặng lịch sử ở Hoa Kỳ. Sau phong trào dân quyền thập niên 1960, trọng tâm là “cơ hội bình đẳng”: chấm dứt phân biệt chủng tộc, mở cánh cửa trường học và công sở cho người da màu. Về sau, với chính sách “affirmative action”, chính quyền, đại học và doanh nghiệp chủ động nâng đỡ các nhóm thiểu số, không chỉ để bù đắp bất công lịch sử, mà còn để điều chỉnh cơ cấu nhân sự cho tương xứng với diện mạo dân số mới: một lực lượng lao động đa sắc tộc, đa văn hóa cần có mặt trong vị trí chuyên môn, quản trị và phục vụ công cộng. Những chương trình ấy vì thế vừa đáp ứng yêu cầu công bằng, vừa phục vụ nhu cầu thực tế của một xã hội ngày càng đa dạng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.