Hôm nay,  

Gò Muồng Ninh Hòa

11/07/201700:00:00(Xem: 7305)
Lâu lâu về lại Ninh Hòa mới thấy quê cũ thay đổi nhiều. Con đường thân quen Nguyễn Trường Tộ bên hông chùa Quãng Đông ngày xưa sình lầy nhỏ hẹp bây giờ mở rộng tráng nhựa bằng phẳng, xe máy chạy bon bon thẳng tới Tiên Du. Tiên Du bây giờ khác hẵn với ngày xa xưa, bây giờ ruộng lúa mênh mông, tiếng xe máy nổ vang thay cho tiếng í thá của đám trâu cày ruộng thời chiến. Chiều hôm đó ông anh lái xe đưa tôi đi thăm một người bà con ở Tiên Du. Trên đường về chợ Dinh, tôi đang mù mờ chưa biết đâu là đâu, bất ngờ tôi thấy ngọn tháp nhà thờ phản chiếu mặt trời sáng chói, tôi dục ông anh dừng xe tại ngả ba nhà thờ. Xuống xe, tôi chẩm rải rảo bước về hướng nhà thờ. Lãng vãng ngoài hàng rào, bị hàng cây um tùm che khuất nên không thấy hình bóng quen mắt ở bên trong. Mặc dầu nó vẫn còn rõ nét trong trí óc tôi nhưng cảnh cũ đã qua mấy mươi năm nó đã lui vào dĩ vãng lâu rồi. Nãn chí, tôi quay lại lên xe ngồi dục ông anh đi tiếp. Hai anh em đi đến đầu chợ Dinh ghé vô tiệm bà Năm kiếm chút nem nướng lót dạ trước khi về Xuân Hòa..

Chưa kịp ngồi xuống thì ông anh hỏi tôi "chú tìm gì zậy"?

"Tìm căn nhà của anh Pierre." Tôi vụt miệng trả lời.

Có lẽ câu trả lời của tôi quá bâng quơ khiến anh ngẫng ngơ. Thật ra câu hỏi của ông anh nhắc tôi nhớ lại một kỷ niệm xa xưa. Kể hết ra thì quá dài dòng, nhưng mùi tỏi thơm của nem nướng làm chột dạ. Nhìn chén nước chấm đặc sản nem Ninh Hòa mấy mươi năm tôi mới được nếm một lần, nó làm tôi xót cả ruột gan. Mấy lát khế nằm trên đĩa rau thơm làm tôi nhớ lại chuyện cũ nhiều hơn, tôi nghĩ mình ngồi đây lai rai mà kể chuyện Gò Muồng thì lý tưởng lắm.

blank
Gò Muồng Ninh Hoà/Mùa Xuân Paris.

Tôi nhớ ngày xưa từ đầu ngả ba đi ra nhà thờ Gò Muồng chừng trăm thước, bên tay trái sau hàng cây có một căn nhà lá, đó là nhà của anh Pierre. Anh Pierre ở đó với bà mẹ già, tôi gọi bà là Bà Nội, và hai đứa con gái nhỏ xinh xắng. Nhà không có ruộng đất, có mấy bụi chuối, vài cây ổi, một cây bưởi và một cây khế ngọt. Cây khế này ngộ thật, mùa nào cũng có trái ngọt liệm. Thường ngày bà nội hái khế, hái ổi nội nhờ người quen đem lên chợ Dinh bán đổi lấy gạo cho nội. Tôi và đám học trò từ trường Đức Trí thường rủ nhau xuống nhà mua khế mua ổi. Mỗi lần chúng tôi kéo tới nhà bị hai con chó cản đường sủa um xùm, anh Pierre la quát đuổi chúng đi. Nội và hai cháu gái vui mừng lăng xăng đi lấy cây sào, lấy cho cái rổ để đựng. Nội lựa cành nào có trái ngon chỉ cho chúng tôi hái. Hai em gái trắng trẻo trong bộ đồ bà ba, tóc bum bê mang đôi dép nhựt tung tăng chạy theo chân. Mỗi lần có trái rơi xuống đất, hai em nhanh nhẩu nhặc lên lấy tay phủi đất cho sạch bỏ vào rổ. Cả đám học trò ngước mặt lên ngọn cây tay hái miệng nhai, la inh ỏi thật là vui.

Ba tôi kể rằng anh Pierre là người Tây lai, lúc còn trẻ, anh làm cho sở hỏa xa Nha Trang, anh làm việc với nhóm chuyên viên Pháp xây đường hầm xe lửa đèo Rù Rì và đèo Ruột Tượng giữa Ninh Hòa và Nha Trang. Sau khi hoàn tất hai cái hầm thì anh bị đau mắt, không chữa được khiến anh mù cả hai mắt, anh phải nghỉ việc. Bà nội đem cả gia đình anh về sống trong căn nhà lá ở Gò Muồng với bà. Trong căn nhà mái tranh lụp xụp tăm tối, cả gia đình năm người sống nhờ vào cây khế, cây ổi và bụi chuối, cuộc sống quá khó khăn nên vợ anh ra đi biền biệt bỏ lại hai đưa con gái xinh xắng chưa đến tuổi đi học.

Anh Pierre người cao lớn, mũi cao tóc nâu nước da sáng sủa, tướng mạo trí thức. Anh nói tiếng Việt, tiếng Pháp rất hoạt bát, anh được nhiều người trong thị trấn thương mến. Hai cô con gái da cũng trắng, mũi cũng cao, mặt mày lai Tây giống như cha. Cô lớn thì tôi không nhớ tên nhưng tên của cô nhỏ thì tôi vẫn nhớ tên là Janet.

Bạn bè của anh Pierre ở chung quanh phố chợ Dinh người nào cũng mến anh. Lâu lâu Janet dẫn cha lên phố để anh có dịp thăm bạn bè. Tôi còn nhớ vào ngày đẹp trời, Janet đội cái mủ vải vành to che nắng, hai cha con từ Gò Muồng dắt nhau lên phố chợ. Lên đến ngả ba dốc Xóm Rượu, hai cha con quẹo trái ghé vào nhà tôi trước tiên. Anh Pierre và ba tôi gặp nhau rất tâm đắc, hai người nói chuyện Việt Minh và tình hình chiến sự Đông Dương. Tôi và Janet nói chuyện con nít một hồi rồi từ giã. Từ nhà tôi Janet lại nắm tay đưa cha tiếp nối hành trình: trên đường Võ Tánh lên nhà máy nước đá Liên Thành, ghé vào thăm hai anh em Cúc Tùng và Cúc Bình, rồi đi đến nhà anh Trúc chuyên bán đồ gốm, sau đó lên nhà chú Chín Mụn trước đồn G.I bây giờ là chợ mới Ninh Hòa. Quẹo qua bên trái hai người vượt qua nhà máy đèn qua Cầu Trạm thăm anh Yến tiệm giày Đức Hưng, thăm anh Tưng chủ xe đò Hương Giang. Hai cha con quay ra phố chợ thăm hết bà con chung quanh chợ, cuối cùng anh ghé vô tiệm cafe Đại A đầu đường Nguyễn Trường Tộ thăm bác hai Khiền. Bác hai pha cho ly cà phê đá ngồi hỷ hả với anh. Bác hai cũng không quên biếu cho Janet cái bánh bao nhân thịt, hai cha con ăn uống xong dắt nhau đi thẳng một lèo trở về lại Gò Muồng.

blank
Gò Muồng Ninh Hoà/Mùa Xuân Paris.

Sau khi chiến tranh Việt Pháp chấm dứt năm 1954, kinh tế quận Ninh Hòa xuống dốc thê thảm, tôi phải đi xa tìm lẽ sống nên không còn gặp anh Pierre và Jannet nữa. Một hôm em tôi vào Saigon thăm tôi và cho biết bà nội của Janet đã chết, ông cha nhà thờ Gò Muồng liên lạc với tòa đại sứ Pháp ở Saigon nhờ giúp đỡ. Họ đưa hai chị em Janet qua Pháp. Anh Pierre thì họ đưa vô nhà dưỡng lão Thị Nghè Saigon. Nghĩ mà buồn cho anh Pierre, khi bà mẹ còn sống cả gia đình nhờ vào cây khế cây ổi sống quanh quần với nhau thế mà vui, khi nội chết mỗi người bị tách biệt một phương trời.

Một buổi sáng chủ Nhựt, chúng tôi đi tìm anh Pierre, chúng tôi ghé chợ mua ít bánh kẹo, lên chiếc xa lam chạy thẳng đến cầu Thị Nghè. Nhà dưỡng lão nằm bên tay trái đầu cầu. Thập niên sáu mươi Saigon rất lộn xộn, đảo chánh liên miên, bên ngoài viện dưỡng lão xe cộ ồn ào nhưng bên trong thì rất yên tịnh lạ thường. Chúng tôi đứng trong trung tâm dưỡng lão mà không biết vì nó là ngôi nhà rộng thênh thang, những chiếc giường cá nhân được bố trí ngay hàng thẳng lối, mền gối và đồ dùng cá nhân sắp xếp trên đầu giường của mỗi người. Tôi đảo mắt một vòng để tìm anh Pierre. Thấy có người nằm trên giừơng, vài người đứng trước đầu giường ngơ ngát. Ông nào cũng thui thủi mặt buồn hiu. Từ xa tôi thấy anh Pierre ngồi trên giường, anh cúi đầu hai mắt sâu thẳm của anh nhìn mông lung trông thật thảm thương. Tôi vội vàng bước đến gần, kêu tên anh. Anh giựt mình quay lưng thật lẹ miệng hỏi lớn " ai zị?" Quá xúc động, tôi xưng tên và kêu anh một lần nữa khiến anh ngạc nhiên mừng rỡ. Anh dơ hai tay ôm chặc lấy tôi thật thắm thiết.


Câu hỏi đầu tiên của tôi khi gặp anh là hai đứa nhỏ đâu? Anh nói "Sau khi bà già mất, cha nhà thờ báo cho tòa Đại Sứ Pháp ở Saigon biết, họ cho người ra Gò Muồng gặp anh, họ nói họ sẽ làm thủ tục để đưa hai đứa nhỏ qua Pháp. Mấy tháng sau họ đến một lần nữa họ đưa hai chị em Janet qua Pháp." Anh nói tiếp, "Hai đứa nó được một gia đình ngươi Pháp ở Paris nhận làm con nuôi. Hai đứa nó được vô trường học, phần anh vì mù hết cả hai mắt nên họ chưa cho đi. Họ nói anh phải chờ cho đến khi hai đứa lớn lên, lấy quốc tịch Pháp và đi làm có lợi tức, lúc đó tụi nó có thể bảo lảnh anh qua Pháp theo diện đoàn tụ. Anh cho biết hai chị em của Janet có gởi thơ và quà đến Tòa Đại Sứ Pháp nhờ họ trao lại cho anh. Vào những dịp lễ Noel hay Tết, tòa Đại Sứ Pháp có mang quà đến ủy lạo. Qua những lần thăm viếng anh cho biết con gái lớn mới làm đám cưới, Jannet thì chưa muốn lập gia đình. Janet nhận được học bổng đi học bên London Anh Quốc. Mừng cho hai chị em Jannet thoát khỏi cuộc đời bỉ cực nhưng cũng buồn cho anh Pierre vì chưa đoàn tụ với hai con. Thập niên sáu mươi đất nước nhiều tao loạn và thời gian không ngừng trôi qua. Cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt, gây ra nhiều cuộc chia ly, tôi theo giòng đời trôi dạt phương xa không còn gặp anh nữa.

Trong lần đầu tiên chúng tôi trở lại Saigon, chúng tôi đến Thị Nghè tìm anh Pierre, thật là ngỡ ngàn, cảnh vật nơi đây đã hòan toàn thay đổi. Tôi hỏi thăm về anh, nhưng không một ai biết cái viện dưỡng lão bây giờ ở đâu. Thật không ngờ cái lần thăm anh Pierre năm xưa đó là lần gặp gỡ cuối cùng giữa chúng tôi. Thầm mong anh đã được đoàn tụ với hai con bên Paris.

blank
Gò Muồng Ninh Hoà/Mùa Xuân Paris.

Sau tháng Tư 1975 thời cuộc đưa đẩy người Ninh Hòa tản mạn đi nhiều nơi trên thế giới, mấy bạn già định cư bên Âu Châu kêu réo nên tôi làm một chuyến đi Âu Châu để tìm hiểu cuôc sống của họ ra sao và biết đâu tôi có thể gặp lại anh Pierre và hai chị em Janet bên Paris Pháp Quốc.

Chuyến bay của tôi đáp xuống phi trường Charles de Gaulle International Paris lúc chín giờ sáng. Đang lây quây tìm hành lý, loa phát thanh lên tiếng cho biết đây là chuyến bay cuối cùng hôm nay và phi trường này bị đóng cửa vì bụi núi lữa từ Iceland bay phủ khắp bầu trời Âu Châu. Từ đây không một chiếc máy bay nào được bay đi và bay đến. Hằng ngàn chuyến bay theo sau chuyến bay của tôi phải chuyển hướng qua các phi trường bên Liên Bang Sô Viết. Chỉ trong một ngày mấy chục ngàn hành khách chen nhau chật hết cã các phi trường trên tòan thể Âu Châu nằm chờ cho bụi núi lữa tan đi. Tôi may mắn thoát nạn được anh chị bạn đến đón đưa về nhà.

Sau một đếm ngủ mệt nhoài, tôi được anh Nam và chị Minh đưa lên xe lữa đi vô thủ đô Paris. Từ Res De La Gare ở Montigny xe chạy qua ga Franconville nơi chị Nguyển Thị Tri người Xóm Rượu ở. Xe vượt qua mấy chặn xe điện ngầm qua mấy đường hầm khiến tôi mù mờ không biết đâu là đâu. Đến lúc chị Minh dục tôi ra khỏi xe điện, leo lên hai ba cầu thang máy, tôi bước lên trung tâm thành phố Paris, thủ đô của nước Cộng Hòa Pháp Quốc.


Paris nước Pháp? cái nước mà ngày xưa tôi gọi là Tây, họ đô hộ nước tôi một trăm năm, những ngày đó lính Tây Lê Dương đi lùng xét các làng xóm hảm hiếp đàn bà con gái, bao nhiêu thanh niên bị lính Tây giết hại đem xác chôn thành những nấm mộ hoang trên Gò Quít. Bao nhiêu thanh niên ở quê tôi bị Tây cầm tù mỗi ngày bị dẫn đi qua lại trước nhà tôi. Tất cả kỷ niệm quá khứ đau buồn tôi vẫn còn nhớ, nhưng hôm nay, buổi sáng này, tôi đang đứng giữa khung trời Paris, dưới ánh nắng Xuân mai tất cả những cái đó đã biến mất trong tôi.

Ôi Paris! thành phố này sao mà đẹp thế! Người đi dập dìu, thong dong dưói nắng Xuân. Bốn bề đầy rẫy dinh thự nguy nga lộng lẫy, kiến trúc rất mỹ thuật chen lấn bởi những hàng cây đậm màu đầy hoa khoe sắc. Du thuyền đầy khách tấp nập trên sông Seine, trước mặt là ngọn tháp Eiffelle hiên ngang hùng vĩ, những chiếc xe mui trần chở đầy du khách tham quan thành phố vui cười hớn hở. Mùa Xuân Paris nắng gắt nhưng gió bắc cực thổi về lạnh tê tái. Hằng ngàn người từ khắp nơi trên thế giới sắp hàng đứng dưới chân tháp Eiffelle chờ đến phiên mình được lên đỉnh tháp xem toàn cảnh thành phố Paris huy hoàng. Hai bên đại lộ Champs Elysées Khải Hoàn Môn có nhiều cửa hàng danh tiếng đông khách chen vai mua sắm. Quận 13 của Paris năm 1954 chánh phủ Pháp lập trại tỵ nạn cho người Việt Miên Lào nay là vùng đất vàng, là khu vực thương mại sầm uất của người Á-Châu. Super Market và nhiều cửa hàng của người Việt Miên Lào mua bán, khách ra vô nườm nượp. Các nhà hàng với hình ảnh thực đơn với các món ăn thuần túy dân tộc Việt Miên Lào trình bày trước cửa tiệm thấy mà vui.

Paris nổi tiếng với danh hiệu Thành Phố Của Tình Yêu thật không ngoa. Paris thật quyến rũ khiến tôi quên hết những tàn tích hung ác của Tây Lê Dương ngày xưa. Tôi đang mê mẩn chụp hình lia lịa, bỗng một cô gái trẻ người Đông Âu xinh đẹp đầu đội khăn Burka bước đến, miệng cô nở nụ cười thân thiện muốn trào nước mắt. Cô đưa tôi một mảnh giấy nhỏ. Tôi mở ra xem thấy những lời than vang buồn tẽ, tôi trả lại tờ giấy kèm món quà nhỏ. Nhìn cô nàng chậm rải bước đi mà lòng đầy luyến tiếc, ước gì cô là Janet người bạn năm xưa tôi đang tìm trong giây phút này. Giữa trời Xuân Paris Thành Phố của Tình Yêu mà thấy lòng bơ vơ. Tôi vẩn biết đời người không tránh khỏi cái sinh ly tử biệt. Trái đất tuy tròn nhưng nó bao la quá nên mình không gặp nhau được. Tôi cất bước tiếp tục khám phá Paris mà lòng đầy thương nhớ về Gò Muồng và người xưa.

Quý vị nào biết được Janet và câu chuyện này, xin vui lòng email về địa chỉ email: [email protected]

Đường Bình

Bản tin có tựa đề "Trump Eyes 250 Pardons to Celebrate America's 250th Birthday" trên tờ Wall Street Journal hôm nay, thứ Tư, 13/5, là một dòng chữ không thể bỏ qua. Nó không phải là một niềm vui để san sẻ với người được ân xá. Nó là câu chuyện về công lý hay công bằng. Nó là một câu chuyện về quyền lực, về tiền bạc, và về ai được gì trong thế giới của chúng ta. Nó là một câu chuyện mà chúng ta, những người đã đang bị chính quyền lừa dối, những người đã mất tiền của mình vào các tượng đài, phòng khiêu vũ, các chuyến đi đánh golf hàng tuần, cần phải chú ý đến.
Vào ngày 28/4/2026, một sự kiện hiếm hoi đã diễn ra bên trong Quốc Hội Hoa Kỳ. Vua Charles III của Vương quốc Anh đã có bài diễn văn trước phiên họp lưỡng viện Quốc Hội, trở thành vị quân vương Anh thứ hai trong lịch sử làm điều này. Vua Charles III mở đầu bài diễn văn bằng sự hài hước và khiêm tốn, sự kết hợp mà những người quyền lực hiếm khi làm được. Ông thừa nhận mối căng thẳng lịch sử giữa Anh và Mỹ, rồi cười nhẹ khi nhắc rằng ông là hậu duệ đời thứ sáu của Vua George III, vị quân vương mà các nhà sáng lập Hoa Kỳ đã nổi dậy chống lại.
Chủ Nhật đối với tôi là một thứ giao kèo âm thầm với chính mình. Đó là ngày ráng thu mình trong bốn bức tường nhà, không hội hè, không sự vụ, không để thiên hạ lôi đi đâu. Buổi sáng cà-phê với chính mình, rồi ra vườn lom khom nhổ cỏ, tưới rau, ngó xem có thêm cái chồi non lá mới nào. Rồi trở vào bàn mở computer gõ bài cho mục “Trước Thời Cuộc” mỗi tuần. Sáng nay cũng vậy, chỉ khác ở chỗ khi màn hình sáng lên, tôi thấy cái đầu mình… đuối. Không phải vì hết chuyện để nói. Thời buổi này đề tài dư thừa. Chỉ là cái đầu dường như do dự, ngần ngại. Nó muốn quay trở ra vườn hơn là bước vào cái thế giới bất an đang chờ trên màn hình.
Ngày 29–4–2026, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ ban hành một phán quyết được coi là bước ngoặt, cho phép thu hẹp quyền lực lá phiếu của các nhóm thiểu số tại Hoa Kỳ, khi tuyên bố một đơn vị bầu cử đa số da đen ở Louisiana là “gerrymander vi hiến” và đồng thời thay đổi cách hiểu Đạo Luật Quyền Bầu Cử (Voting Rights Act – VRA). Với tỷ số 6–3, đa số bảo thủ trong tòa cho rằng bang Louisiana đã vi phạm luật khi vẽ thêm đơn vị quốc hội thứ nhì có đa số cử tri da đen. Thẩm phán Samuel Alito, viết thay cho đa số, khẳng định tòa vẫn duy trì một trụ cột của Đạo Luật Quyền Bầu Cử là điều khoản 2, vốn cấm mọi “thực hành hay thủ tục bầu cử mang tính kỳ thị dựa vào chủng tộc, màu da hoặc các nhóm thiểu số ngôn ngữ” được liệt kê trong đạo luật.
Trong thời gian gần đây, khi có dịp đi tham quan ở vùng quê của Maryland, Virginia, và Pennsylvania, tôi nhận ra một điều mà một số sách báo đã mô tả. Đó là cảnh nông dân Mỹ bỏ hoang ruộng đồng mà không trồng trọt hoa mầu trong năm 2026.
Từ năm 1946 trở đi, tình hình chính trị Việt Nam bước vào một giai đoạn vô cùng khó khăn và phức tạp. Chính quyền Cách mạng vừa mới thành lập phải đối mặt với nhiệm vụ bảo vệ nền độc lập dân tộc và đồng thời xây dựng đất nước. Miền Bắc đang chịu nạn đói hoành hành, ngân khố quốc gia kiệt quệ, trình độ dân trí thấp với hơn 90% dân số mù chữ. Tất cả những vấn đề này đòi hỏi phải được giải quyết khẩn cấp...
Nàng nhắm mắt. Thở thật sâu, thật chậm. Hai bàn tay nắm chặt. Nàng cảm giác hai thái dương đang giựt run bần bật. Những sợi gân xanh đang đổ dồn hết ra ngoài da thịt. Nàng cố tự trấn an. Ôi, lạy Chúa tôi. Người đã dạy những lúc như thế nào phải làm sao? Nàng không nhớ. Lâu lắm rồi, nàng có cầm đến cuốn Kinh Thánh đâu mà nhớ. Nàng tự nhủ, “lâu đến nỗi chắc Chúa cũng bỏ mình đi rồi.” Nàng không thể giữ bình tĩnh được nữa. Những năm tháng im lặng, nhẫn nhịn, chịu đựng. Tất cả phải chấm dứt. Chấm dứt ngay hôm nay. Nàng đã làm theo tất cả những gì họ muốn. Họ muốn nàng nói, nàng không im lặng. Họ muốn nàng im lặng, nàng không bao giờ nói. Họ muốn nàng nói gì, nàng đọc đúng kịch bản. Bây giờ, họ muốn nàng giận? Được, thì nàng sẽ giận. Cơn giận của nàng lúc này sẽ thêm phần rùng rợn
Trong một thế giới nhiều bất trắc, những điều quen thuộc thường đem lại cảm giác yên ổn. Tại một quán cháo bình dân ở Hồng Kông, thực khách có thể trả tiền bằng đô-la Hồng Kông, bằng đồng nhân dân tệ, hoặc bằng đồng e-CNY, tức đồng nhân dân tệ kỹ thuật số do Ngân hàng Trung ương Trung Quốc phát hành. Dù người quản lý quán cho biết chưa từng thấy ai thật sự dùng đồng e-CNY để trả tiền, hiện đã có hơn 5,000 cơ sở tại Hồng Kông chấp nhận loại tiền mới này.
Trong lời phát biểu về Phật Giáo và Dân Chủ tại Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn vào tháng 4 năm 1993, đức Đạt Lai Lạt Ma nói rằng, “Bạo lực, dù được sử dụng mạnh bạo cách nào cũng không bao giờ khuất phục được khát vọng căn bản của con người đối với tự do.”Quả thật vậy, nếu không có tự do thì con người trở thành nô lệ. Chính vì thế, từ ngàn xưa, con người đã không ngừng đi tìm và tranh đấu cho tự do: tự do để thoát khỏi sự nô lệ bản năng của thú tính; tự do để giải thoát mọi khổ đau từ thân xác đến tinh thần; tự do để giải phóng mọi áp bức từ các thế lực hà chính. Nửa thế kỷ trước, người Việt Nam cũng đã liều chết để vượt biên hay vượt biển đi tìm tự do. May mắn thay cho những người còn sống sót đã đến được các nước tự do trên thế giới, trong đó có Hoa Kỳ, một đất nước mà những người tị nạn và những kẻ di dân xem là biểu tượng sáng chói của tự do. Người viết bài này cũng nằm trong số những người có được may mắn ấy, may mắn thoát khỏi nhà tù lớn để đến một đất nước tự do.
Thông minh! Sáng tạo! Máu lửa! Nghệ thuật! Vui nhộn! Thẩm mỹ... Rất nhiều tính từ để có thể mô tả về các phim Lego Movie do trí tuệ nhân tạo (AI) làm ra đang phủ đầy các mạng xã hội TikTok, X, Instagram, Bluesky hơn tháng qua. Chủ nhân của những video này là nhóm Explosive Media, chưa đến 10 thanh niên ở độ tuổi đôi mươi, từ Iran. Mỗi video của Explosive Media đón nhận hàng triệu lượt xem cùng vô số bình luận. Các danh khoản mạng xã hội của chính phủ Iran chia sẻ lại. Nhóm biểu tình "No Kings" ở Hoa Kỳ sử dụng để phản đối chiến tranh. Thông điệp chính trị truyền tải trong các video này mang tính trực diện và đậm chất hoạt hình – đúng tính chất là những nhân vật Lego vuông vức nhưng sống động và đầy cá tính.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.