Hôm nay,  

Gò Muồng Ninh Hòa

11/07/201700:00:00(Xem: 7309)
Lâu lâu về lại Ninh Hòa mới thấy quê cũ thay đổi nhiều. Con đường thân quen Nguyễn Trường Tộ bên hông chùa Quãng Đông ngày xưa sình lầy nhỏ hẹp bây giờ mở rộng tráng nhựa bằng phẳng, xe máy chạy bon bon thẳng tới Tiên Du. Tiên Du bây giờ khác hẵn với ngày xa xưa, bây giờ ruộng lúa mênh mông, tiếng xe máy nổ vang thay cho tiếng í thá của đám trâu cày ruộng thời chiến. Chiều hôm đó ông anh lái xe đưa tôi đi thăm một người bà con ở Tiên Du. Trên đường về chợ Dinh, tôi đang mù mờ chưa biết đâu là đâu, bất ngờ tôi thấy ngọn tháp nhà thờ phản chiếu mặt trời sáng chói, tôi dục ông anh dừng xe tại ngả ba nhà thờ. Xuống xe, tôi chẩm rải rảo bước về hướng nhà thờ. Lãng vãng ngoài hàng rào, bị hàng cây um tùm che khuất nên không thấy hình bóng quen mắt ở bên trong. Mặc dầu nó vẫn còn rõ nét trong trí óc tôi nhưng cảnh cũ đã qua mấy mươi năm nó đã lui vào dĩ vãng lâu rồi. Nãn chí, tôi quay lại lên xe ngồi dục ông anh đi tiếp. Hai anh em đi đến đầu chợ Dinh ghé vô tiệm bà Năm kiếm chút nem nướng lót dạ trước khi về Xuân Hòa..

Chưa kịp ngồi xuống thì ông anh hỏi tôi "chú tìm gì zậy"?

"Tìm căn nhà của anh Pierre." Tôi vụt miệng trả lời.

Có lẽ câu trả lời của tôi quá bâng quơ khiến anh ngẫng ngơ. Thật ra câu hỏi của ông anh nhắc tôi nhớ lại một kỷ niệm xa xưa. Kể hết ra thì quá dài dòng, nhưng mùi tỏi thơm của nem nướng làm chột dạ. Nhìn chén nước chấm đặc sản nem Ninh Hòa mấy mươi năm tôi mới được nếm một lần, nó làm tôi xót cả ruột gan. Mấy lát khế nằm trên đĩa rau thơm làm tôi nhớ lại chuyện cũ nhiều hơn, tôi nghĩ mình ngồi đây lai rai mà kể chuyện Gò Muồng thì lý tưởng lắm.

blank
Gò Muồng Ninh Hoà/Mùa Xuân Paris.

Tôi nhớ ngày xưa từ đầu ngả ba đi ra nhà thờ Gò Muồng chừng trăm thước, bên tay trái sau hàng cây có một căn nhà lá, đó là nhà của anh Pierre. Anh Pierre ở đó với bà mẹ già, tôi gọi bà là Bà Nội, và hai đứa con gái nhỏ xinh xắng. Nhà không có ruộng đất, có mấy bụi chuối, vài cây ổi, một cây bưởi và một cây khế ngọt. Cây khế này ngộ thật, mùa nào cũng có trái ngọt liệm. Thường ngày bà nội hái khế, hái ổi nội nhờ người quen đem lên chợ Dinh bán đổi lấy gạo cho nội. Tôi và đám học trò từ trường Đức Trí thường rủ nhau xuống nhà mua khế mua ổi. Mỗi lần chúng tôi kéo tới nhà bị hai con chó cản đường sủa um xùm, anh Pierre la quát đuổi chúng đi. Nội và hai cháu gái vui mừng lăng xăng đi lấy cây sào, lấy cho cái rổ để đựng. Nội lựa cành nào có trái ngon chỉ cho chúng tôi hái. Hai em gái trắng trẻo trong bộ đồ bà ba, tóc bum bê mang đôi dép nhựt tung tăng chạy theo chân. Mỗi lần có trái rơi xuống đất, hai em nhanh nhẩu nhặc lên lấy tay phủi đất cho sạch bỏ vào rổ. Cả đám học trò ngước mặt lên ngọn cây tay hái miệng nhai, la inh ỏi thật là vui.

Ba tôi kể rằng anh Pierre là người Tây lai, lúc còn trẻ, anh làm cho sở hỏa xa Nha Trang, anh làm việc với nhóm chuyên viên Pháp xây đường hầm xe lửa đèo Rù Rì và đèo Ruột Tượng giữa Ninh Hòa và Nha Trang. Sau khi hoàn tất hai cái hầm thì anh bị đau mắt, không chữa được khiến anh mù cả hai mắt, anh phải nghỉ việc. Bà nội đem cả gia đình anh về sống trong căn nhà lá ở Gò Muồng với bà. Trong căn nhà mái tranh lụp xụp tăm tối, cả gia đình năm người sống nhờ vào cây khế, cây ổi và bụi chuối, cuộc sống quá khó khăn nên vợ anh ra đi biền biệt bỏ lại hai đưa con gái xinh xắng chưa đến tuổi đi học.

Anh Pierre người cao lớn, mũi cao tóc nâu nước da sáng sủa, tướng mạo trí thức. Anh nói tiếng Việt, tiếng Pháp rất hoạt bát, anh được nhiều người trong thị trấn thương mến. Hai cô con gái da cũng trắng, mũi cũng cao, mặt mày lai Tây giống như cha. Cô lớn thì tôi không nhớ tên nhưng tên của cô nhỏ thì tôi vẫn nhớ tên là Janet.

Bạn bè của anh Pierre ở chung quanh phố chợ Dinh người nào cũng mến anh. Lâu lâu Janet dẫn cha lên phố để anh có dịp thăm bạn bè. Tôi còn nhớ vào ngày đẹp trời, Janet đội cái mủ vải vành to che nắng, hai cha con từ Gò Muồng dắt nhau lên phố chợ. Lên đến ngả ba dốc Xóm Rượu, hai cha con quẹo trái ghé vào nhà tôi trước tiên. Anh Pierre và ba tôi gặp nhau rất tâm đắc, hai người nói chuyện Việt Minh và tình hình chiến sự Đông Dương. Tôi và Janet nói chuyện con nít một hồi rồi từ giã. Từ nhà tôi Janet lại nắm tay đưa cha tiếp nối hành trình: trên đường Võ Tánh lên nhà máy nước đá Liên Thành, ghé vào thăm hai anh em Cúc Tùng và Cúc Bình, rồi đi đến nhà anh Trúc chuyên bán đồ gốm, sau đó lên nhà chú Chín Mụn trước đồn G.I bây giờ là chợ mới Ninh Hòa. Quẹo qua bên trái hai người vượt qua nhà máy đèn qua Cầu Trạm thăm anh Yến tiệm giày Đức Hưng, thăm anh Tưng chủ xe đò Hương Giang. Hai cha con quay ra phố chợ thăm hết bà con chung quanh chợ, cuối cùng anh ghé vô tiệm cafe Đại A đầu đường Nguyễn Trường Tộ thăm bác hai Khiền. Bác hai pha cho ly cà phê đá ngồi hỷ hả với anh. Bác hai cũng không quên biếu cho Janet cái bánh bao nhân thịt, hai cha con ăn uống xong dắt nhau đi thẳng một lèo trở về lại Gò Muồng.

blank
Gò Muồng Ninh Hoà/Mùa Xuân Paris.

Sau khi chiến tranh Việt Pháp chấm dứt năm 1954, kinh tế quận Ninh Hòa xuống dốc thê thảm, tôi phải đi xa tìm lẽ sống nên không còn gặp anh Pierre và Jannet nữa. Một hôm em tôi vào Saigon thăm tôi và cho biết bà nội của Janet đã chết, ông cha nhà thờ Gò Muồng liên lạc với tòa đại sứ Pháp ở Saigon nhờ giúp đỡ. Họ đưa hai chị em Janet qua Pháp. Anh Pierre thì họ đưa vô nhà dưỡng lão Thị Nghè Saigon. Nghĩ mà buồn cho anh Pierre, khi bà mẹ còn sống cả gia đình nhờ vào cây khế cây ổi sống quanh quần với nhau thế mà vui, khi nội chết mỗi người bị tách biệt một phương trời.

Một buổi sáng chủ Nhựt, chúng tôi đi tìm anh Pierre, chúng tôi ghé chợ mua ít bánh kẹo, lên chiếc xa lam chạy thẳng đến cầu Thị Nghè. Nhà dưỡng lão nằm bên tay trái đầu cầu. Thập niên sáu mươi Saigon rất lộn xộn, đảo chánh liên miên, bên ngoài viện dưỡng lão xe cộ ồn ào nhưng bên trong thì rất yên tịnh lạ thường. Chúng tôi đứng trong trung tâm dưỡng lão mà không biết vì nó là ngôi nhà rộng thênh thang, những chiếc giường cá nhân được bố trí ngay hàng thẳng lối, mền gối và đồ dùng cá nhân sắp xếp trên đầu giường của mỗi người. Tôi đảo mắt một vòng để tìm anh Pierre. Thấy có người nằm trên giừơng, vài người đứng trước đầu giường ngơ ngát. Ông nào cũng thui thủi mặt buồn hiu. Từ xa tôi thấy anh Pierre ngồi trên giường, anh cúi đầu hai mắt sâu thẳm của anh nhìn mông lung trông thật thảm thương. Tôi vội vàng bước đến gần, kêu tên anh. Anh giựt mình quay lưng thật lẹ miệng hỏi lớn " ai zị?" Quá xúc động, tôi xưng tên và kêu anh một lần nữa khiến anh ngạc nhiên mừng rỡ. Anh dơ hai tay ôm chặc lấy tôi thật thắm thiết.


Câu hỏi đầu tiên của tôi khi gặp anh là hai đứa nhỏ đâu? Anh nói "Sau khi bà già mất, cha nhà thờ báo cho tòa Đại Sứ Pháp ở Saigon biết, họ cho người ra Gò Muồng gặp anh, họ nói họ sẽ làm thủ tục để đưa hai đứa nhỏ qua Pháp. Mấy tháng sau họ đến một lần nữa họ đưa hai chị em Janet qua Pháp." Anh nói tiếp, "Hai đứa nó được một gia đình ngươi Pháp ở Paris nhận làm con nuôi. Hai đứa nó được vô trường học, phần anh vì mù hết cả hai mắt nên họ chưa cho đi. Họ nói anh phải chờ cho đến khi hai đứa lớn lên, lấy quốc tịch Pháp và đi làm có lợi tức, lúc đó tụi nó có thể bảo lảnh anh qua Pháp theo diện đoàn tụ. Anh cho biết hai chị em của Janet có gởi thơ và quà đến Tòa Đại Sứ Pháp nhờ họ trao lại cho anh. Vào những dịp lễ Noel hay Tết, tòa Đại Sứ Pháp có mang quà đến ủy lạo. Qua những lần thăm viếng anh cho biết con gái lớn mới làm đám cưới, Jannet thì chưa muốn lập gia đình. Janet nhận được học bổng đi học bên London Anh Quốc. Mừng cho hai chị em Jannet thoát khỏi cuộc đời bỉ cực nhưng cũng buồn cho anh Pierre vì chưa đoàn tụ với hai con. Thập niên sáu mươi đất nước nhiều tao loạn và thời gian không ngừng trôi qua. Cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt, gây ra nhiều cuộc chia ly, tôi theo giòng đời trôi dạt phương xa không còn gặp anh nữa.

Trong lần đầu tiên chúng tôi trở lại Saigon, chúng tôi đến Thị Nghè tìm anh Pierre, thật là ngỡ ngàn, cảnh vật nơi đây đã hòan toàn thay đổi. Tôi hỏi thăm về anh, nhưng không một ai biết cái viện dưỡng lão bây giờ ở đâu. Thật không ngờ cái lần thăm anh Pierre năm xưa đó là lần gặp gỡ cuối cùng giữa chúng tôi. Thầm mong anh đã được đoàn tụ với hai con bên Paris.

blank
Gò Muồng Ninh Hoà/Mùa Xuân Paris.

Sau tháng Tư 1975 thời cuộc đưa đẩy người Ninh Hòa tản mạn đi nhiều nơi trên thế giới, mấy bạn già định cư bên Âu Châu kêu réo nên tôi làm một chuyến đi Âu Châu để tìm hiểu cuôc sống của họ ra sao và biết đâu tôi có thể gặp lại anh Pierre và hai chị em Janet bên Paris Pháp Quốc.

Chuyến bay của tôi đáp xuống phi trường Charles de Gaulle International Paris lúc chín giờ sáng. Đang lây quây tìm hành lý, loa phát thanh lên tiếng cho biết đây là chuyến bay cuối cùng hôm nay và phi trường này bị đóng cửa vì bụi núi lữa từ Iceland bay phủ khắp bầu trời Âu Châu. Từ đây không một chiếc máy bay nào được bay đi và bay đến. Hằng ngàn chuyến bay theo sau chuyến bay của tôi phải chuyển hướng qua các phi trường bên Liên Bang Sô Viết. Chỉ trong một ngày mấy chục ngàn hành khách chen nhau chật hết cã các phi trường trên tòan thể Âu Châu nằm chờ cho bụi núi lữa tan đi. Tôi may mắn thoát nạn được anh chị bạn đến đón đưa về nhà.

Sau một đếm ngủ mệt nhoài, tôi được anh Nam và chị Minh đưa lên xe lữa đi vô thủ đô Paris. Từ Res De La Gare ở Montigny xe chạy qua ga Franconville nơi chị Nguyển Thị Tri người Xóm Rượu ở. Xe vượt qua mấy chặn xe điện ngầm qua mấy đường hầm khiến tôi mù mờ không biết đâu là đâu. Đến lúc chị Minh dục tôi ra khỏi xe điện, leo lên hai ba cầu thang máy, tôi bước lên trung tâm thành phố Paris, thủ đô của nước Cộng Hòa Pháp Quốc.


Paris nước Pháp? cái nước mà ngày xưa tôi gọi là Tây, họ đô hộ nước tôi một trăm năm, những ngày đó lính Tây Lê Dương đi lùng xét các làng xóm hảm hiếp đàn bà con gái, bao nhiêu thanh niên bị lính Tây giết hại đem xác chôn thành những nấm mộ hoang trên Gò Quít. Bao nhiêu thanh niên ở quê tôi bị Tây cầm tù mỗi ngày bị dẫn đi qua lại trước nhà tôi. Tất cả kỷ niệm quá khứ đau buồn tôi vẫn còn nhớ, nhưng hôm nay, buổi sáng này, tôi đang đứng giữa khung trời Paris, dưới ánh nắng Xuân mai tất cả những cái đó đã biến mất trong tôi.

Ôi Paris! thành phố này sao mà đẹp thế! Người đi dập dìu, thong dong dưói nắng Xuân. Bốn bề đầy rẫy dinh thự nguy nga lộng lẫy, kiến trúc rất mỹ thuật chen lấn bởi những hàng cây đậm màu đầy hoa khoe sắc. Du thuyền đầy khách tấp nập trên sông Seine, trước mặt là ngọn tháp Eiffelle hiên ngang hùng vĩ, những chiếc xe mui trần chở đầy du khách tham quan thành phố vui cười hớn hở. Mùa Xuân Paris nắng gắt nhưng gió bắc cực thổi về lạnh tê tái. Hằng ngàn người từ khắp nơi trên thế giới sắp hàng đứng dưới chân tháp Eiffelle chờ đến phiên mình được lên đỉnh tháp xem toàn cảnh thành phố Paris huy hoàng. Hai bên đại lộ Champs Elysées Khải Hoàn Môn có nhiều cửa hàng danh tiếng đông khách chen vai mua sắm. Quận 13 của Paris năm 1954 chánh phủ Pháp lập trại tỵ nạn cho người Việt Miên Lào nay là vùng đất vàng, là khu vực thương mại sầm uất của người Á-Châu. Super Market và nhiều cửa hàng của người Việt Miên Lào mua bán, khách ra vô nườm nượp. Các nhà hàng với hình ảnh thực đơn với các món ăn thuần túy dân tộc Việt Miên Lào trình bày trước cửa tiệm thấy mà vui.

Paris nổi tiếng với danh hiệu Thành Phố Của Tình Yêu thật không ngoa. Paris thật quyến rũ khiến tôi quên hết những tàn tích hung ác của Tây Lê Dương ngày xưa. Tôi đang mê mẩn chụp hình lia lịa, bỗng một cô gái trẻ người Đông Âu xinh đẹp đầu đội khăn Burka bước đến, miệng cô nở nụ cười thân thiện muốn trào nước mắt. Cô đưa tôi một mảnh giấy nhỏ. Tôi mở ra xem thấy những lời than vang buồn tẽ, tôi trả lại tờ giấy kèm món quà nhỏ. Nhìn cô nàng chậm rải bước đi mà lòng đầy luyến tiếc, ước gì cô là Janet người bạn năm xưa tôi đang tìm trong giây phút này. Giữa trời Xuân Paris Thành Phố của Tình Yêu mà thấy lòng bơ vơ. Tôi vẩn biết đời người không tránh khỏi cái sinh ly tử biệt. Trái đất tuy tròn nhưng nó bao la quá nên mình không gặp nhau được. Tôi cất bước tiếp tục khám phá Paris mà lòng đầy thương nhớ về Gò Muồng và người xưa.

Quý vị nào biết được Janet và câu chuyện này, xin vui lòng email về địa chỉ email: [email protected]

Đường Bình

Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
Từ thương trường bước vào chính trường, Donald Trump mang theo cùng một thứ nhãn hiệu: tên ông. Trong thời làm ăn, đó là thương hiệu. Nó in lên cao ốc, chai rượu, thịt bít-tết. Đó là lối tiếp thị của một nhà buôn, ồn ào nhưng vẫn còn nằm trong khuôn khổ tư doanh. Nhưng khi người mang thương hiệu ấy đã thành nguyên thủ quốc gia, câu chuyện đổi tính chất. Nó không còn là quảng cáo nữa. Nó là dấu hiệu về quyền lực và về cách người cầm quyền nhìn quốc gia. Trong nhiệm kỳ thứ hai, tên Trump không chỉ là chữ trên tài sản riêng. Nó bước vào cơ quan công quyền: tòa nhà liên bang mang tên ông, băng-rôn treo mặt ông, chương trình của chính phủ in chữ ký ông, phi trường đổi sang tên ông. Tên một người đang dần đi vào các biểu tượng của quốc gia. Đó là điều mà một nền cộng hòa phải cảnh giác.
Ngày 15 tháng 3 vừa qua, có một sự trùng hợp mà giới quan sát viên quốc tế ít chú ý. Đó là bầu cử quốc hội diễn ra cùng một lúc tại 2 quốc gia cộng sản. Đó là Việt Nam và Triều Tiên. Kết quả hoàn toàn tương đồng và không ngoài dự đoán là đảng CSVN chiếm được 482/500 ghế ( tức 96,47%),Ứng viên độc lập: 18 ghế, Tỷ lệ cử tri đi bầu: 99,7% . Đảng Lao Động Triều Tiên chiếm được 99,93% cử tri bỏ phiếu ủng hộ ứng viên do Đảng Lao Động và các tổ chức liên minh đề cử. Đảng chiếm toàn bộ 687/687 ghế và Tỷ lệ cử tri đi bầu là 99,99%. TT Putin của LB Nga đã chính thức gửi điện mừng tới Kim Jong Un sau bầu cử Triều Tiên, không biết Putin có chúc mừng TBT Tô Lâm hay chưa? Cũng không có thông tin chính thức rằng TBT Tô Lâm của đảng CSVN và TBT Kim Jung Un của đảng Lao Động Triều Tiên, đã có chúc mừng nhau về 2 cuộc chiến thắng “vang dội và vẻ vang” của 2 đảng CS anh em này hay chưa?
Hàng loạt kênh truyền thông và các hãng thông tấn đưa lên đầu trang báo cú ngã ngựa giữa dòng của Bộ Trưởng Tư Pháp Pam Bondi. Đối với một chính quyền, sa thải người đứng đầu Bộ Tư Pháp (DOJ) đương nhiệm là quyết định không nhỏ. Những lý do để các lãnh đạo quốc gia phải thay nội các thường là khi người đó phạm trọng tội không thể dung thứ, qua đời, hoặc chính họ từ nhiệm.
Người Mỹ đang cảm nhận một điều quan trọng: những giới hạn từng giữ quyền lực trong khuôn khổ dân chủ đang bị chọc thủng. Cuộc xuống đường lần này, vì thế, không đơn thuần là phản ứng chính trị, mà là phản xạ tự vệ của một số đông dân chúng nhìn thấy trật tự hiến định bắt đầu bị xê dịch.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.