Hôm nay,  

Sổ Tay Thường Dân – Nón Cối

6/3/201808:25:00(View: 8502)

 Sổ Tay Thường Dân – Nón Cối


blank

Tặng bạn Phạm Ngọc Cương, ứng cử viên dân biểu hạ viện Ontario, Canada. (Tưởng Năng Tiến)

.

Cuối đời, Thanh Nam hay làm thơ và viết phiếm cho tờ Đất Mới – xuất bản từ Seattle, tiểu bang Washington. Ông phụ trách mục “Chuyện Quanh Bàn Nhậu,” và có “tha thiết” ngỏ ý mời tôi cộng tác.

Thưở ấy, những năm đầu của thập niên 80, tôi được coi là một “mầm non có văn nghệ có (rất) nhiều triển vọng” nên “được lời như cởi tấm lòng.” Tôi hăm hở gửi đến ông câu chuyện đầu tiên, ghi được quanh bàn nhậu:

Sau tháng 4 năm 1975 không lâu, bộ đội cũng như dân chúng hai miền Nam Bắc đều muốn giã từ nón tai bèo và nón cối. Đội mãi rồi cũng ớn. Đến một lúc - tự nhiên - cả nước cùng chợt nhận ra rằng cả hai loại nón (thổ tả) này trông xấu xí, quê mùa đến độ không còn ai chịu nổi nữa.

Trước tình trạng này, một vị Ủy Viên Trung Ương Đảng bèn có ý kiến rằng nón tai bèo thì cho đi luôn là phải, để lại không những đã bận mắt mà còn có thể làm cho đám Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam nổi giận (hay nổi loạn). Nhưng nón cối thì phải lưu giữ.


Lý do được nêu ra là Đảng ta hoàn toàn không có tương lai, buộc phải sống nhờ vào dĩ vãng (nói cách khác là phải ăn mày dĩ vãng) mà trong chuyện lễ lạc rầm rộ để tưởng niệm những chiến thắng xa xưa thì rất cần nón cối. Thiếu nó "cách mạng" sẽ mất đi vẻ truyền thống.

Từ đó, ở Việt Nam có Viện Lưu Trữ Nón Cối. Làm giám đốc cái viện này tất nhiên không có cơ hội xà xẻo, móc ngoặc hoặc tham nhũng nhưng được cái là an nhàn và (chắc chắn) an thân. Ai cũng tưởng vậy mà không phải vậy.

Một hôm, Cục Tình Báo Hải Ngoại bỗng phát hiện ra cả trăm ngàn cái nón cối đã bị mang ra nước ngoài, và được xử dụng thường xuyên trong những cộng đồng người Việt tị nạn. Thế là vị giám đốc bị đưa ra toà, với tội danh “hoạt động gián điệp, tạo điều kiện cho kẻ địch xâm nhập vào hàng ngũ Đảng …

Thiệt là oan ức. Sự thực, số nón cối thất thoát đã không rơi vào tay bất cứ một tổ chức nào tại hải ngoại mà đều được mua lại bởi những cửa hàng chuyên buôn bán những vật dụng dùng cho việc thủ dâm.

         - Đừng có giễu dở nha, cha nội. Trong vụ này nếu nghèo óc tưởng tượng và cần “tiếp thị” (visual aid) thì người ta mua báo Play Boy hay đồ lót của phụ nữ ở Secret’s Victoria chớ ai nhìn tới cái nón cối làm chi. Coi ghê thấy mẹ.

         - Nói như vậy là biết một mà không biết hai. Thủ dâm có tới hai kiểu chớ không phải một.

         -Thiệt vậy sao?

         -Chớ sao, khi không có người bạn tình (sexual partner) bên cạnh mà có nhu cầu giải quyết những “bức xúc” sinh lý thì người ta mới nhìn vào (hoặc hình dung ra) một hình ảnh gợi dục nào đó để thủ dâm bằng tay. Còn khi muốn chống cộng quá cỡ mà dân làng Ba Đình Hà Nội ở quá xa, với không tới thì người ta dùng tới nón cối. Cứ chụp đại lên đầu bất cứ một thằng cha con mẹ nào đó, đang đứng sớ rớ ở kề bênhô hoán lên nó là cộng sảnrồi nhào vô đánh đấm túi bụi, chửi rủa xối xả cho nó …. đã (miệng). Đó là một hình thức “thủ dâm” để thoả mãn nhu cầu tâm lý!

Sau khi đọc xong, Thanh Nam xé mấy trang bản thảo làm tư và vứt vào sọt rác. Trông ông (bỗng) nghiêm và buồn thấy rõ:

-       Chụp mũ là một thảm kịch của chúng ta, không phải là một chuyện đùa. Nếu chú quan tâm đến vấn nạn này thì phải bỏ thời giờ suy nghĩ, tìm hiểu để viết một bài báo nghiêm chỉnh. Đâu phải chuyện gì cũng mang ra để cười giỡn được. Nói chú đừng tự ái chứ chuyện chú viết tôi cười … không nổi, nó chỉ khiến tôi buồn, và buồn ...muốn chết!

Rồi ông qua đời thật, không lâu, sau đó. Tôi ở lại hụt hẫng, thôi la cà quanh bàn nhậu nhưng vẫn uống lai rai, và (thường) uống mình ên. Đôi lúc, khi chuyếnh choáng, tôi vẫn nghĩ đến những câu thơ – đẫm nước mắt và hơi men –Thanh Nam viết lúc cuối đời, và món nợ về “thảm kịch chụp mũ” (vẫn) chưa thanh thỏa được với ông.

Có thời gian (ngăn ngắn) tôi làm xướng ngôn viên, trong một trại tị nạn, ở Thái Lan. Công việc hàng ngày chấm dứt đúng vào lúc 10 giờ tối, với thông báo cuối của ban phát thanh, như sau:
 
“Đồng hồ của phòng thông tin chúng tôi bây giờ là 10 giờ tối, xin mọi người vui lòng trở về lô lều của mình, và điều chỉnh mọi âm thanh vừa đủ nghe để khỏi làm phiền người bên cạnh, đang cần sự yên lặng để nghỉ ngơi. Kính chúc đồng bào một đêm an lành và ngon giấc.”

Tôi luôn luôn cảm thấy có đôi chút ngập ngừng ở câu nói cuối cùng. Vào thời điểm đó, suốt những năm dài của cả thập niên 1980, không ai trong số hàng triệu người Việt ở khắp những trại tị nạn Á Châu (kể cả những đứa bé thơ) có được một giấc ngủ bình thường – nói chi đến chuyện “an lành” hay “ngon giấc.” Những cơn ác mộng của những kẻ hốt hoảng, bồng bế dắt díu nhau bỏ chạy khỏi quê hương, đều gần giống như nhau: bị săn đuổi, bắt bớ, đánh đập, hãm hiếp, lạc lõng đói khát giữa biển trời bao la, hay bị chìm thuyền giữa đại dương giông bão …

Sau mộng mị, chúng tôi thường thức giấc giữa khuya – toát đẫm mồ hôi vì sợ hãi và mệt nhọc – nằm định thần một lát rồi … thở phào nhẹ nhõm khi nhận ra rằng mình đã thoát, và (chỉ) vừa trải qua một giấc mơ! Mộng dữ như thế thưa dần, với thời gian, rồi dứt hẳn nơi phần lớn những người tị nạn – nhất là sau khi cuộc sống của họ đã tạm ổn định nơi vùng đất mới.

Tiến trình bình thường này, tiếc thay, không xẩy ra cho tất cả mọi người. Với số người còn lại, thỉnh thoảng, họ vẫn cứ tiếp tục bị mộng mị và những hồi ức hãi hùng theo đuổi. Một số ít hơn nữa thì sống hoàn toàn bình thường và an lành một thời gian, rồi bỗng dưng lại bị ám ảnh bởi những cơn ác mộng hay những hồi tưởng về những kinh nghiệm khủng khiếp mà họ đã trải qua.

Trường hợp sau, có tên gọi là hội chứng PTSD (Post Traumatic Stress Disorder) With Delay Onset. Theo DSM - IV - TR (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorder, Fourth Edition. Text Revision. Washington, DC, American Psychiatric Association, 2000 - cẩm nang của khoa Tâm Thần Học) thì dù “phát chậm” (delay) hay không, Hậu Chấn Thương Tâm Lý đều có nguyên nhân từ những biến cố kinh hoàng – ngoài sức chịu đựng bình thường của con người – thường xẩy ra nơi chiến trận, hay khi chúng ta là nạn nhân của sự bạo hành, hãm hiếp, cướp bóc, tù đầy, khủng bố, tra tấn …

Ngoài ác mộng và những hồi tưởng như thật, DSM - IV - TR cũng liệt kê đến những hội chứng khác nữa của PTSD như: nghi ngại thái quá, bất an, lãnh đạm (hypervigilance, sense of foreshortened future, feelings of detachment from others, sđd, trang 468).

Có đến mười phần trăm dân số Việt Nam (hay hơn nữa) đã trải qua cảnh vượt biên, tù đầy – hoặc cả hai. Số còn lại, nếu không bị thương tích hay tai họa gây ra do bom đạn trong thời chiến, đều phải chịu dựng những kinh nghiệm sống (rất) bất thường khác dưới chế độ cộng sản: cải cách ruộng đất, kiểm thảo, đấu tố, vượt tuyến, di cư, di tản, đổi tiền, kiểm kê tài sản, thi hành nghĩa vụ lao động, đi kinh tế mới … Dân Việt, ở thời đại này, có vô số “cơ hội” để mắc chứng Hậu Chấn Thương Tâm Lý!

Đôi lúc, tôi trộm nghĩ dân tộc mình đang bị “PTSD tập thể”. Nếu không, làm sao giải thích được sự nghi ngại thái quá (hypervigilance) của cả một cộng đồng như vậy – ở hải ngoại. Trong ánh mắt của chúng ta, tha nhân (dường như) ai cũng đang đội cái nón cối trên đầu, hay có vẻ như đang dấu một cái đuôi hay một cái gì đó sau lưng.

Thái độ e ngại dè dặt này – có thể – khiến cho một số người “yên tâm” hơn nhưng (chắc chắn) không làm cho chúng ta vững mạnh hơn, nếu chưa muốn nói là ngược lại.

Tưởng Năng Tiến

   

Hệ thống luật quốc tế đang đối diện với những thách thức chưa từng có trong lịch sử cận đại. Luật quốc tế vốn đặt ra các nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực giữa các quốc gia, cấm tiến hành chiến tranh xâm lược và thiết lập hệ thống an ninh tập thể như một phần nối tiếp của các biện pháp chính trị.
Nếu ai chưa hiểu Tổng thống Donald Trump với những hành động và lời nói “khác lạ” thường xuyên vượt qua lòng tự trọng và khả năng tri thức dành cho cương vị một nguyên thủ quốc gia, nhất là một quốc gia lãnh tụ trong thế giới tự do dân chủ, thì câu hỏi là: thực sự ông muốn gì? Ông muốn trở thành đệ nhất nhân trong cả ba khát vọng: ông không chỉ muốn trở thành người giàu nhất, mà còn muốn là vị tổng thống quyền uy bậc nhất, người dám làm những điều mà các tổng thống tiền nhiệm né tránh, và là cái tên được lịch sử ghi ở hàng đầu. Ái tình và của cải chỉ là hai trong ba mục tiêu; mục tiêu còn lại là quyền lực tạo danh vọng, và cả ba đều phải đứng đầu.
Trong thế giới báo chí truyền hình, 60 Minutes là một trong số ít chương trình mang nặng lịch sử. Suốt hàng thập niên, 60 Minutes là tiêu chuẩn vàng của báo chí điều tra, nơi kim phút của trách nhiệm luôn tích… tích… không ngừng để hướng về sự thật. Suốt 58 năm qua, tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ tròn là biểu tượng dễ nhận ra nhất của một nền báo chí Hoa Kỳ. Chiếc đồng hồ bấm giờ mở đầu mỗi tập 60 Minutes – tích, tắc, tích – chưa bao giờ chỉ là hình ảnh minh họa. Theo thời gian, nó là một lời giao ước. Nó nói với khán giả rằng trong một giờ đồng hồ của tối Chủ Nhật, người Mỹ được biết sự thật. Quyền lực phải trả lời câu hỏi và chiếc đồng hồ do những người làm báo giữ nhịp sẽ không vì quyền lợi của bất kỳ ai mà dừng lại.
Cuối tuần qua, trong khi tôi đang nghe ca sĩ Thương Linh hát ở Coffee Factory, một độc giả đến hỏi: “Này, chị viết để làm gì? Bây giờ còn ai đọc những bài bình luận nhức đầu nữa không?” Tôi đã suy nghĩ về câu hỏi ấy. Không phải để thôi viết. Cũng không phải để tránh né suy luận. Nhưng đôi khi, trước một số sự kiện, chỉ cần ghi lại sự việc. Ngày nào. Ở đâu. Chuyện gì. Ai nói. Nói nguyên văn thế nào. Có lẽ anh ta có lý, có những lúc người viết nên “bớt viết”.Trong nhiều năm qua, tổng thống Donald Trump nhiều lần dùng lời lẽ miệt thị các nữ phóng viên ngay trước ống kính. Nhiệm kỳ đầu đã vậy. Sang nhiệm kỳ hai, những cảnh ấy không chỉ trở lại mà còn thô hơn, lỗ mãng hơn, và gần như thành thói quen không thể thiếu trong các buổi họp báo, phỏng vấn, hay bất cứ khi nào có máy quay phim và có phụ nữ cầm micro hay cầm bút làm việc.
Có một cách đọc về nhiệm kỳ thứ hai của Donald Trump càng lúc càng khó bác bỏ: ông biến chính chức vụ tổng thống thành phương tiện làm giàu lớn nhất đời mình, mà không phải âm mưu vụng về với tài liệu mật, chỉ bằng chính lời nói của tổng thống. Một câu dọa chiến tranh, một lời hăm dọa thuế quan, một tuyên bố ngừng bắn hay một dòng đăng mạng xã hội đều có thể làm thị trường Hoa Kỳ và thế giới chao đảo gần như tức thì. Với nhóm nhỏ biết trước thời điểm và nội dung lời nói, những con sóng ấy lại có thể tiên đoán, mà tiên đoán được thì kiếm lời hợp pháp, miễn không để lại dấu vết nối thẳng về ông. Đây không phải lời buộc tội đã được chứng minh trước tòa: chưa có bản án, cũng chưa có bằng chứng công khai về một đường dây giao dịch phối hợp. Nhưng một luận đề chỉ cần một cấu trúc động cơ rõ ràng, một chuỗi sự kiện trùng khớp, và một môi trường pháp lý cho phép hành vi ấy diễn ra mà gần như không sợ bị trừng phạt. Cả ba đều đang hiện diện.
Ngày 2/4/2026, “trái cam” Pam Bondi thật sự “rơi khỏi cành công lý.” Donald Trump sa thải nữ bộ trưởng tư pháp, trao chìa khóa Bộ Tư Pháp (DOJ) – một trong những định chế quyền lực nhất đất nước này – cho người luật sư riêng của mình. Người đàn ông từng ngồi bên cạnh Trump trong phòng xử án, chứng kiến thân chủ bị kết tội 34 tội danh hình sự mà vẫn bước ra khỏi tòa với đầu ngẩng cao, giờ đây là quan chức hành pháp cao nhất của Hoa Kỳ. Đó là Todd Blanche. Và kể từ ngày nhậm chức đến nay, ông ta đã không ngừng chứng minh rằng những người hoài nghi về ông đã nhìn đúng.
Cuộc bầu cử quốc hội Nga dự kiến diễn ra vào tháng 9/2026. Nhìn chung, các chuyên gia về nội chính Nga không kỳ vọng sẽ có thay đổi mang tính đột phá trong cơ cấu quyền lực quốc gia. Tổng thống Vladimir Putin vẫn đang nắm giữ vị trí trung tâm quyền lực tại Điện Kremlin. Thực tế cho thấy Vladimir Putin, nay đã 73 tuổi và đã cầm quyền 26 năm, đang đối mặt với sự suy giảm nhất định trong mức độ ủng hộ của công chúng. Bản thân ông từ lâu cũng hiểu rằng vấn đề người kế nhiệm là điều không thể tránh khỏi và cần được chuẩn bị.
Chuyến thăm viếng Bắc Kinh của Tổng Thống Donald Trump đã kết thúc cách đây hai tuần. Mọi sự tương đối đã lắng đọng. Đây là lúc thuận tiện để tổng kết chuyến đi lịch sử này.
Trong tiếng Việt có một dấu nhỏ xíu gọi là dấu mũ. Nó nằm trên đầu một số chữ cái, trông giống như một mái nhà tí hon. Khi chữ "o" đội dấu mũ, nó trở thành "ô". Khi chữ "công" có dấu mũ, nó là công lý. Khi mất dấu mũ, nó thành "cong", bị vẹo, bị bẻ, bị uốn cho lệch đi. Vừa qua, tại Hoa Kỳ, có một sự việc xảy ra khiến tôi nghĩ rất nhiều về dấu mũ này. Cụ thể là về việc mất nó. Câu chuyện như sau. Năm 2024, ông Donald Trump, hết nhiệm kỳ một, lúc đó chưa làm Tổng thống nhiệm kỳ hai, đệ đơn kiện Sở Thuế vụ Hoa Kỳ, đòi 10 tỷ đô la tiền bồi thường. Lý do là vì một nhân viên IRS tên Charles Littlejohn đã làm rò rỉ 15 năm tờ khai thuế của ông cho báo The New York Times và ProPublica. Nhờ vụ rò rỉ đó mà cả nước Mỹ biết rằng trong các năm 2016 và 2017, ông Trump đóng thuế liên bang vỏn vẹn 750 đô la mỗi năm. Bảy trăm năm mươi đô la. Một người làm việc tại quán McDonald's có thể đóng nhiều hơn thế.
Người Mỹ có một huyền thoại rất ưa kể về chính mình, rằng mảnh đất này từ buổi đầu lập quốc là “xứ sở của di dân”. Huyền thoại ấy khởi đi từ những con tàu cập bến New York cuối thế kỷ 19 - với những gia đình nghèo khổ bỏ Âu châu sang tìm một khởi đầu mới; với những toán thợ người Hoa sang đãi vàng, đào núi, đặt đường rầy xe lửa xuyên lục địa; với các các đợt người tị nạn châu Âu sau hai cuộc Thế chiến; với thuyền nhân Đông Dương sau 1975; rồi đến những đoàn người Trung Mỹ lầm lũi băng sa mạc mang theo con nhỏ. Ở mỗi khúc quanh, di dân vừa là nạn nhân của chiến tranh, độc tài, nghèo đói, vừa là lực lượng xây nên những con đường, nhà máy, khu phố, trường đại học của Hợp Chủng Quốc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.