Hôm nay,  

CHUYỆN TRẦU CAU

17/04/201910:00:00(Xem: 7016)

CHUYỆN TRẦU CAU
 

(Trình bày trong Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương

Tại Mississauga ngày 14-4-2019)

 

Trần Gia Phụng

 

Chuyện trầu cau là một cổ tích thời thượng cổ, rất quen thuộc với người Việt, được kể đi kể lại nhiều lần, có nhiều dị bản khác nhau, nên tốt nhứt là ôn lại chuyện trầu cau qua lời thuật đầu tiên trong sách Lĩnh Nam chích quái xuất hiện vào thế kỷ 15.

 

Lĩnh Nam chích quái là sách góp nhặt những chuyện quái đản ở vùng đất phía nam núi Ngũ Lĩnh, ý chỉ vùng cổ Việt.  Sách do một tác giả khuyết danh, hay có thể do Trần Thế Pháp soạn. (Không rõ năm sinh và năm mất của Trần Thế Pháp, chỉ biết ông là một quan chức trong tàng thư các.)  Sau đó, sách được Vũ Quỳnh (tiến sĩ Nho học năm 1478) và Kiều Phú (tiến sĩ Nho học năm 1475) hiệu chính. Sách tập hợp một số truyện cổ tích thần tiên của nước ta về đời Hùng Vương, như chuyện Bạch trĩ (trĩ trắng), Kim quy (rùa vàng), Tân lang (cau), Tây qua (quả dưa hấu)... Trước hết, xin lược truyện sự tích trầu cau

 

SỰ TÍCH CHUYỆN TRẦU CAU

 

Theo Lĩnh Nam chích quái, thời thượng cổ có hai anh em họ Cao là Cao Tân và Cao Lang rất giống nhau và rất thương yêu nhau.  Khoảng năm 17 và 18 tuổi, cha mẹ từ trần, hai anh em đến theo học đạo sĩ Lưu Huyền.  Đạo sĩ có người con gái khoảng cùng tuổi tên Liên.  Hai anh em đều thầm yêu cô Liên, muốn cưới làm vợ.  Cô gái biết được Cao Tân là anh, nên kết duyên cùng Cao Tân.   

 

Hai vợ chồng sống rất đầm ấm và hạnh phúc, nhưng người em là Cao Lang cảm thấy buồn rầu nên bỏ nhà ra đi, và qua đời bên một dòng suối sâu, hóa thành một cây cao (nhứt trụ kình thiên = một trụ chống trời).  Cao Tân ở nhà, thấy em ra đi lâu ngày, liền đi tìm và cuối cùng thất vọng, gieo mình chết bên dòng suối, hóa thành phiến đá.  Vợ Cao Tân đi tìm chồng, đến dòng sông, cũng buồn quá, gieo mình ôm lấy phiến đá mà chết, biến thành một dây leo quanh phiến đá. Ông bà họ Lưu đi tìm, tới đây quá đau xót, lập miếu thờ.

 

Về sau, một hôm vua Hùng đi tuần tra, dừng chân nghỉ mát ở trước miếu, thấy cây xanh lá tốt mọc bên khối đá, liền hỏi thăm người địa phương, mới biết được sự tích.  Nhà vua sai lấy trái cây, ăn chung với lá quấn quanh phiến đá, nhổ bọt lên phiến đá, thấy có màu sắc đỏ, mùi vị thơm tho.  Nhà vua sai nung đá thành vôi, ăn chung cùng trái cây và lá dây leo, mùi vị thơm ngon, môi đỏ, má hồng, biết là cây quý, liền mang về sử dụng.  Nước ta có tục ăn trầu cau từ đó. (Vũ Quỳnh – Kiều Phú, Lĩnh Nam chích quái, Hà Nội, Nxb. Văn Học, 1990, tt. 54-55.)

 

Chuyện trầu cau do Lĩnh Nam chích quái kể lại có bốn yếu tố đáng chú ý: 1) Thời tính câu chuyện. 2) Nhân vật trong chuyện. 3) Cây trái trong chuyện. 4) Tập tục ăn trầu.

 

THỜI TÍNH CÂU CHUYỆN

 

Chuyện trầu cau là cổ tích thời thượng cổ nước Việt, nhưng được kể lại lần đầu (sớm nhứt) trong sách Linh Nam chích quái, được viết năm nào thì không rõ, mà chỉ biết hai tác giả hiệu chính là Vũ Quỳnh và Kiều Phú thời vua Lê Thánh Tông, (trị vì 1460-1497).  Như thế, câu chuyện thời thượng cổ được truyền miệng và được kể lại lần đầu vào thế kỷ 15.

 

Cần chú ý thời thượng cổ, xã hội cổ Việt giống như các xã hội thượng cổ khác trên thế giới, là xã hội mẫu hệ (matriarchy), trong khi câu chuyện được hiệu chính vào thế kỷ 15 là thời Nho giáo phát triển ở nước ta, theo xã hội phụ hệ (patriarchy).  Hai xã hội nầy khác nhau ở điểm:  Một bên là mẫu hệ, người vợ làm chủ gia đình, có nhiều ưu quyền rộng rãi, có thể có nhiều chồng, và một bên là phụ hệ, ngược lại với mẫu hệ, người chồng làm chủ gia đình, có thể có nhiều vợ.

 

Sống trong thời đại Nho giáo thịnh trị, các tác giả đã hiệu chính câu chuyện cổ tích tình cảm lãng mạn trầu cau thời thượng cổ theo lăng kính Nho giáo, luân lý Nho giáo, anh em thương yêu và kính trọng nhau, tình cảm người em đối với chị dâu được giữ đúng khuôn phép, người vợ chung thủy với chồng… Tất cả đều đúng theo mẫu mực Nho gia.

 

NHÂN VẬT TRONG CHUYỆN

 

Chuyện trầu cau gồm ba nhân vật chính là hai anh em họ Cao và cô gái họ Lưu.  Câu chuyện xảy ra thời thượng cổ, đã được trình bày lại trong thời đại Nho giáo.  Nếu câu chuyện đơn giản là người anh lập gia đình và gia đình người anh đầm ấm hạnh phúc, thì tại sao người em lại buồn rầu đến nỗi bỏ nhà ra đi?  Phải chăng đây là chuyện tình tay ba giữa một người đàn bà và hai người đàn ông?  Nếu chuyện tình tay ba, một bà hai ông thì thì trái với luân lý Nho giáo, nên cần phải hiệu chính cho hợp với luân lý Nho giáo.  Ngoài ra, câu chuyện nầy có thể còn có những uẩn khúc tình cảm không được sách Lịch nam chích quái viết lại.   

 

Vì vậy, một câu hỏi có thể đặt ra là chuyện trầu cau xuất hiện từ thời thượng cổ là lúc xã hội cổ Việt còn là xã hội mẫu hệ, người phụ nữ có quyền có nhiều chồng, nên phải chăng mới có chuyện một bà hai ông, và phải chăng người em thiệt thòi trong tình cảm, ít được yêu thương hơn, nên buồn rầu bỏ nhà ra đi?

 

Trong dân gian Việt Nam có chuyện “Ông Táo” cũng gồm một bà hai ông.  Có tài liệu cho rằng đây là cổ tích ba vị thần Thổ công , Thổ địa, Thổ kỳ (Thần nhà, Thần đất, Thần bếp) của Trung Hoa, được Việt Nam hóa thành sự tích "một bà hai ông". 

 

Giả thiết chuyện “Ông Táo” là cổ tích ba người đàn ông Tàu (chỉ giả thiết mà thôi), nhưng tại sao khi chuyển qua cổ tích Việt (Việt hóa) thì lại biến thành một bà hai ông?  Một bà hai ông chính là hình ảnh mẫu hệ của xã hội cổ Việt.  Đặc biệt là vì chuyện một bà hai ông trái với luân lý phụ hệ Nho giáo, nên không có sách vở Nho gia hoặc tác giả cung đình nào viết lại, và cổ tích “Ông táo” chỉ được dân chúng truyền miệng mà thôi

 

Trong lịch sử có hai trường hợp được ghi nhận có thể là vết tích của xã hội mẫu hệ ở nước ta là Hai Bà Trưng và bà Triệu.  Hai Bà Trưng khởi nghĩa năm 40, có một dàn tướng lãnh vây quanh toàn là phụ nữ.  Tại sao chỉ có nữ tướng mà không có nam tướng?  Còn Bà Triệu tên là Triệu Thị Trinh khởi nghĩa cùng anh là Triệu Quốc Đạt năm 248, nhưng bà Triệu là người chỉ huy chứ không phải là Triệu Quốc Đạt.  Điểm đặc biệt là hai bộ chính sử Đại Việt sử ký toàn thư (thế kỷ 15) và Khâm định Việt sử thông giám cương mục (thế kỷ 19) thời Nho giáo, viết chuyện Triệu Thị Trinh mà không đề cập đến Triệu Quốc Đạt.  Phải chăng vì các sử gia Nho giáo cho rằng anh trai sao lại dưới sự chỉ huy của em gái, nên không nhắc đến Triệu Quốc Đạt.  Sử gia Trần Trọng Kim thời tân học dựa vào các tài liệu khác để viết thêm chi tiết về Triệu Quốc Đạt.

 

Tuy nhiên, đây chỉ là những nghi vấn, cũng như chuyện trầu cau cũng chỉ là nghi vấn về bóng dáng một xã hội mẫu hệ thời xa xưa.  Chỉ khi nào tìm ra được những tài liệu cụ thể mới có thể có kết luận về những nghi vấn đặt ra trên đây mà thôi.

 

CÂY TRÁI TRONG CHUYỆN

 

Cây cau và dây trầu là cây trái chính trong chuyện.  Trầu cau có thể nói là hai loại cây song sinh rất phổ thông ở nước ta.  Ngoài Việt Nam, trầu cau được trồng nhiều ở Phi Luật Tân, Thái Lan, Mã Lai, Indonesia, nam Ấn Độ, Tích Lan (Sri Lanka). Trầu cau cũng có mặt ở các nước miền đông Phi Châu. (Encyclopaedia Britannica, mục "betel", và World Book Millennium, vần B, tập 2, nxb. World Book, Inc., Chicago, 2000, mục "betel".)

 

Nói chung, trầu cau có mặt ở các nước nằm tại vùng nhiệt đới ẩm, giữa xích đạo và hạ chí tuyến (tức từ vĩ tuyến 0 độ đến 23,27 độ bắc).  Ở những nước nầy cũng có tập tục ăn trầu cau.  Vì vậy ở Toronto (Canada), xứ đa văn hóa, chúng ta gặp nhiều người Indonesian, Mã Lai, Ấn Độ … ăn trầu.

 

Đặc biệt càng về phía nam, nghĩa là càng nắng nóng và mưa nhiều, thì trầu cau càng ngon và càng phong phú, nên ở Việt Nam, nhiều người thường buôn trầu cau từ miền nam ra miền bắc.  Ở miền Nam, vùng trầu cau nổi tiếng nhất là 18 thôn vườn trầu ở Gia Định.

 

Trong tiếng Việt, chữ "trầu" chúng ta nói và viết ngày nay xuất xứ từ chữ "b'lâu" trong tiếng Việt cổ.  Còn chữ "cau", trong tiếng Mường cũng gọi là “cau”, trong tiếng Mon thì gọi là “p-kau” (Nguyễn Hy Vọng, Từ điển nguồn gốc tiếng Việt, California: Nxb. Đất Việt, quyển I, 2012, tr.69.)  Chúng ta còn gọi bẹ cau là mo nang.  Trong tiếng Mường “nang” = cau; còn trong tiếng Rhade, “m-nang” = cau. (Nguyễn Hy Vọng, sđd. tr. 1147.)  Bẹ cau hay mo nang tức mo cau ở nông thôn thường dùng làm quạt. (Thằng Bờm có cái quạt mo...) 

 

Một người Trung Hoa đã từng du lịch cổ Việt vào thế kỷ thứ 6, tên là Lịch Đạo Nguyên, tác giả sách Thuỷ kinh chú, cho rằng ở nước ta chỉ có cây cau là đáng xem hơn cả. (Nguyễn Ngọc Chương, Trầu cau Việt điện thư, Nxb. TpHCM, 1997, tr. 35.)

 

Tại sao giữa rừng cây lá cổ Việt, đối với người Tàu, chỉ có cây cau là đáng xem?  Phải chăng vì hình dáng phương phi mỹ miều: "Đầu rồng, đuôi phụng le te, / Mùa xuân ấp trứng, mùa hè nở con" (Ca dao).  Thật ra, lý do đơn giản mà người Tàu ca tụng cây cau có thể vì Trung Hoa cũng như các nước ôn đới khác không có cây cau. (Dễ thấy nhất là Canada, Hoa Kỳ không có cây cau.)

 

Một chứng liệu khác về trầu cau liên quan đến phía nam miền Trung Việt Nam ngày nay.  Trước thế kỷ 17 vùng nầy là nước Chiêm Thành.  Khi mới được thành lập vào thế kỷ thứ 2, Chiêm Thành có hai thị tộc chính là thị tộc cây Cau (Kramukavamca) ở phía nam và thị tộc cây Dừa (Narikelavamca) ở phía bắc.  (Dohamide và Dorohiem, Chiêm Thành lược sử, Sài Gòn 1965, tt. 21-22.)  Có người kể rằng trong phẩm vật trên bàn thờ cúng tế của bà chúa “Thềm”, vị công chúa cuối cùng của Chiêm Thành trước năm 1975 ở Phan Rí (tỉnh Bình Thuận) có một bộ trầu cau bằng vàng ròng.

 

Cây cau trở thành vật tổ của một thị tộc bản địa từ thời cổ sử, chứng tỏ cây cau đã hiện diện lâu đời trước khi có người bản địa, nên người bản địa mới tôn thờ cây cau thành vật tổ.

 

TẬP TỤC ĂN TRẦU

 

Theo sách Lĩnh Nam chích quái, tập tục người Việt ăn trầu cau bắt đầu từ thời Hùng Vương và dần dần trở thành một phong tục trong sinh hoạt của người Việt.  

 

Gặp nhau thăm hỏi, thì mời ăn miếng trầu.  “Miếng trầu là đầu câu chuyện.”  Trong những cuộc gặp mặt, hội hè, lễ nghi của người Việt, quan trọng nhất là lễ cưới hỏi.  “Trầu nầy trầu tính trầu tình / Trầu nhân trầu nghĩa, trầu mình cưới ta.”  Hoặc tiếc nuối một mối duyên lỡ thì.  “Ba đồng một mớ trầu cay/ Sao anh không giạm  những ngày còn không?” 

 

Vấn đề người Việt đưa trầu cau vào lễ nghi tế tự từ khi nào thì rất khó xác định.  Sách gia phả tại đền thờ Ngô Quyền, làng Đằng Hải, Hải Phòng, có viết rằng bà mẹ nằm mơ thấy cây cau rồi sinh ra Ngô Quyền. (Nguyễn Ngọc Chương, sđd. tt. 36, 323.)  Ngô Quyền là người đã đánh tan quân Nam Hán năm 938 tại sông Bạch Đằng, giành độc lập cho nước ta và xưng vương vào mùa xuân năm Kỷ Hợi 939 ở Cổ Loa, cách đây đúng 1080 năm. (Năm nay, 2019 cũng là năm Kỷ Hợi.)

 

Ngày xưa, khi sinh con quý (quý tử), theo các điển tích bói toán, người ta thường viết rằng bà mẹ nằm mơ thấy thần nhân, tiên thánh, mặt trời, mặt trăng, hoặc thấy rồng vàng.  Đàng nầy, gia đình nhà Ngô lại viết rằng trước khi sinh đại quý tử, Ngô thị nằm mơ thấy cây cau.  Giải thích rằng nằm mơ thấy cây cau mà sinh quý tử, có nghĩa là lúc đó cây cau đã trở thành một vật thiêng, tuy không phải là vật tổ.  Như thế cây cau đã giữ một vị thế rất tôn kính trong đời sống tâm linh của người Việt.  Có thể lúc đó trầu cau đã được dùng trong lễ nghi tế tự.

 

Năm 990, Tống Thái Tông, vua Trung Hoa cử hai sứ giả (Tống Cảo và Vương Thế Tắc làm chánh phó sứ), sang nước ta.  Khi trở về, Tống Cảo thuật lại rằng: "Lê Hoàn cầm cương ngựa, cùng sứ giả cùng đi, rồi lấy trầu mời trên mình ngựa, đấy là phong tục mời khách rất quý..." (Nhất Thanh Vũ Văn Khiếu, Đất lề quê thói (Phong tục Việt Nam), Sài Gòn: Cơ sở ấn loát Đường Sáng, 1970, tr. 149.  Tác giả nầy trích dẫn sách bằng chữ Nho là Văn hiến thông khảo, khuyết danh.)

 

Tiếp đón sứ giả Trung Hoa là việc ngoại giao quan trọng; thế mà miếng trầu đã được đưa vào nghi thức tiếp đón sứ giả, đủ thấy lúc bấy giờ trầu cau đã giữ một vị thế quan trọng trong sinh hoạt triều đình.

 

Một câu chuyện khác được chính sử nước ta kể lại cũng chứng tỏ cau trầu có mặt trong sinh hoạt cung đình khá sớm.  Đó là khi Trần Thủ Độ đưa cháu là Trần Cảnh vào triều hầu vua Lý Chiêu Hoàng (trị vì 1224-1225); Lý Chiêu Hoàng dùng khăn trầu (khăn đậy khay trầu) ném vào người để trêu Trần Cảnh.  Trần Cảnh thuật lại với Thủ Độ.  Thủ Độ cho rằng Chiêu Hoàng đã ưa thích Trần Cảnh nên đóng cửa cung, làm lễ thành hôn cho hai người năm 1225.  Sau đó Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng tức Trần Thái Tông (trị vì 1226-1258), lập ra nhà Trần (1226-1400). (Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch của Nxb, Khoa học Xã hội, tập 1, Hà Nội, 1993, tt. 339-340.)

 

KẾT LUẬN

 

Tóm lại, chuyện trầu cau có những điểm đặc biệt thật đáng chú ý:  Thứ nhứt là chuyện trầu cau nhắc lại dấu vết xã hội mẫu hệ cổ Việt trước khi bị Trung Hoa xâm lăng.  Thứ hai, Trung Hoa không có cây cau và dây trầu.  Thứ ba, tập tục ăn trầu cau là tập tục của người vùng nhiệt đới, ở những nước nằm về phía nam nước Trung Hoa.  Người Trung Hoa học theo tập tục nhai trầu cau của người Việt và người Trung Hoa phải nhập cảng cau khô của người Việt. (Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục [thế kỷ 18], Hà Nội: bản dịch của Nxb. Khoa học Xã hội, 1977, tt. 234, 337.)

 

Tất cả những yếu tố về thời gian, về nhân vật, về cây cau dây trầu, về tập tục trong cổ tích trầu cau là những chứng liệu rõ nét góp phần vào kho tàng sử liệu Việt, khẳng định rằng trước khi người Trung Hoa (chủng Mông Cổ) và nền văn hóa Trung Hoa tràn vào cổ Việt, thì tại đây đã có một nền văn hóa bản địa, với lễ nghi tập tục riêng biệt. 

 

Như thế “Chuyện trầu cau” là cổ tích thuần túy của người Việt, một dân tộc luôn luôn chống lại quân bành trướng xâm lược từ phương Bắc, duy trì nền độc lập và nét đặc thù văn hóa Việt Nam.

 

TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, 14-4-2019)


 
 
 

Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
Có lẽ không bao giờ Melania Trump, người từng là Melanija Knavs, rồi Melania Knauss, trước khi trở thành Đệ Nhất Phu Nhân Melania Trump, tưởng tượng được là sẽ có ngày đó. Ngày bà điều hợp một hội nghị thượng đỉnh giáo dục toàn cầu, và nói về… giáo dục. Vì sao thì, chẳng cần phải nói rõ. Có những chuyện khi người ta đã muốn che giấu, thì nếu có đưa ra bằng chứng, họ cũng có trăm ngàn cách phản biện. Huống chi, đó là Melania Trump. Nhưng có một điều, không nói không được. Nghĩ là nói giùm bà đệ nhất phu nhân, cũng được. Hay trừu tượng hơn, nói giùm nhân loại vậy. Đó là, bà đã mạnh dạn, dũng cảm, đứng trước toàn thế giới, và nói về…Plato.
Giữa một thế giới đã quá quen với những lời ngụy biện, câu nói của Đức Giáo hoàng Leo XIV trong Thánh lễ Chúa Nhật Lễ Lá tại Quảng trường Thánh Phêrô vang lên như một sự thật không thể né tránh: “Chúa Giêsu là Vua Hòa Bình, không ai có thể nhân danh Ngài để biện minh cho chiến tranh.” Đó không chỉ là một câu trong bài giảng lễ. Đó là tiếng nói của lương tri, cất lên đúng lúc chiến tranh lan rộng, khi thế giới bị kéo vào những xung đột dữ dội, ngôn ngữ quyền lực trở nên thô bạo, và nhân tính bị thử thách đến tận cùng.
Từ thương trường bước vào chính trường, Donald Trump mang theo cùng một thứ nhãn hiệu: tên ông. Trong thời làm ăn, đó là thương hiệu. Nó in lên cao ốc, chai rượu, thịt bít-tết. Đó là lối tiếp thị của một nhà buôn, ồn ào nhưng vẫn còn nằm trong khuôn khổ tư doanh. Nhưng khi người mang thương hiệu ấy đã thành nguyên thủ quốc gia, câu chuyện đổi tính chất. Nó không còn là quảng cáo nữa. Nó là dấu hiệu về quyền lực và về cách người cầm quyền nhìn quốc gia. Trong nhiệm kỳ thứ hai, tên Trump không chỉ là chữ trên tài sản riêng. Nó bước vào cơ quan công quyền: tòa nhà liên bang mang tên ông, băng-rôn treo mặt ông, chương trình của chính phủ in chữ ký ông, phi trường đổi sang tên ông. Tên một người đang dần đi vào các biểu tượng của quốc gia. Đó là điều mà một nền cộng hòa phải cảnh giác.
Ngày 15 tháng 3 vừa qua, có một sự trùng hợp mà giới quan sát viên quốc tế ít chú ý. Đó là bầu cử quốc hội diễn ra cùng một lúc tại 2 quốc gia cộng sản. Đó là Việt Nam và Triều Tiên. Kết quả hoàn toàn tương đồng và không ngoài dự đoán là đảng CSVN chiếm được 482/500 ghế ( tức 96,47%),Ứng viên độc lập: 18 ghế, Tỷ lệ cử tri đi bầu: 99,7% . Đảng Lao Động Triều Tiên chiếm được 99,93% cử tri bỏ phiếu ủng hộ ứng viên do Đảng Lao Động và các tổ chức liên minh đề cử. Đảng chiếm toàn bộ 687/687 ghế và Tỷ lệ cử tri đi bầu là 99,99%. TT Putin của LB Nga đã chính thức gửi điện mừng tới Kim Jong Un sau bầu cử Triều Tiên, không biết Putin có chúc mừng TBT Tô Lâm hay chưa? Cũng không có thông tin chính thức rằng TBT Tô Lâm của đảng CSVN và TBT Kim Jung Un của đảng Lao Động Triều Tiên, đã có chúc mừng nhau về 2 cuộc chiến thắng “vang dội và vẻ vang” của 2 đảng CS anh em này hay chưa?
Hàng loạt kênh truyền thông và các hãng thông tấn đưa lên đầu trang báo cú ngã ngựa giữa dòng của Bộ Trưởng Tư Pháp Pam Bondi. Đối với một chính quyền, sa thải người đứng đầu Bộ Tư Pháp (DOJ) đương nhiệm là quyết định không nhỏ. Những lý do để các lãnh đạo quốc gia phải thay nội các thường là khi người đó phạm trọng tội không thể dung thứ, qua đời, hoặc chính họ từ nhiệm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.