Hôm nay,  

Nước Mỹ Đã Hết Thời

15/08/202010:59:00(Xem: 9116)

 

Thắng Đỗ lược dịch từ nguyên tác tiếng Anh “The Unraveling of America” (Hoa Kỳ Tuột Chỉ)” của Wade Davis, nhà nhân chủng học người Canada, đăng trên tạp chí Rolling Stone, ngày 6 tháng 8, 2020.

**

Trong lịch sử, các đại dịch đã từng là bước ngoặt quan trọng cho loài người. Vào Thế kỷ 14, dịch hạch gọi là Tử thần Đen đã giết phân nửa dân số Châu Âu, dẫn đến sự thiếu hụt lao động trầm trọng. Cuộc nổi loạn của nông dân năm 1381 đánh dấu ngày tàn của chế độ phong kiến trên lục địa này.

Đại dịch Covid19 là một biến cố quan trọng của Thế kỷ 21 và là một đại họa kinh tế. Với nạn thất nghiệp cao ngất ngưởng, khi người ta phải chọn giữa sự sống còn sinh lý hay sinh nhai, chính phủ cũng như tư nhân hầu như bất lực.

Không thể chối cãi được là trong đại dịch này, hào quang của nước Mỹ đã biến mất. Khi hơn 2.000 người Mỹ chết mỗi ngày, nước Mỹ đã biến thành một “quốc gia thất bại”, không khác gì những xứ sở nghèo nàn của Phi châu hay Nam Mỹ, với một chính quyền tham nhũng và thiếu khả năng. 

Đây là lần đầu cộng đồng quốc tế cảm thấy phải trợ giúp Hoa Kỳ chống chọi với một tai họa. Nước Mỹ trước đây là đối tượng của những cảm xúc khác nhau: yêu và ghét, sợ và hy vọng, ghen tuông và khinh bỉ, nể phục và phẫn nộ. Nhưng giờ đây, thế giới có thêm một cảm xúc mới: thương hại. Hình ảnh nhân viên y tế Mỹ khắc khoải đợi các chuyến không vận mang tiếp liệu y tế từ Trung Quốc làm người ta nghĩ rằng lịch sử đang chuyển qua một kỷ nguyên Châu Á.

Chẳng có quốc gia nào nắm vị trí siêu cường mãi mãi: Bồ-đào-nha vào Thế kỷ 15, Tây-ban-nha Thế kỷ 16, Hòa-lan Thế kỷ 17, Pháp Thế kỷ 18 và Anh Thế kỷ 19. 

Sự trỗi dậy của Hoa Kỳ trong Thế kỷ 20 rất ngoạn mục. Khi Thế chiến Thứ Hai bùng nổ, quân đội Hoa Kỳ nhỏ hơn Bồ Đào Nha hay Bun-ga-ri. Chỉ trong vòng 4 năm, 18 triệu người Mỹ đã phục vụ trên các chiến trường khắp thế giới. Hàng triệu người khác làm việc trong các xưởng vũ khí để cung cấp cho mọi quốc gia Đồng minh. Khi Nhật chiếm 90 phần trăm nguồn cao-su, Mỹ cho giảm tốc độ tối đa của xe hơi xuống 35 dặm giờ để bánh xe bớt mòn, và trong vòng 3 năm, chế tạo một loại cao su nhân tạo để phục vụ chiến tranh. Trong bốn năm liền, các xưởng máy của Mỹ sản xuất mỗi 2 tiếng đồng hồ một chiếc máy bay oanh tạc B-24, mỗi hai ngày một tàu chiến. Toàn thể nước Đức Quốc xã không sản xuất nhiều chiến xa bằng chỉ một xưởng ở Mỹ.

Với 6 phần trăm đân số, Mỹ chiếm một nửa tổng sản lượng toàn cầu và sản xuất 93 phần trăm tổng số xe hơi thời hậu chiến,. Nhờ sức mạnh kinh tế, một người Mỹ với mức học vấn giới hạn có thể nuôi cả gia đình, tậu nhà, xe và có cuộc sống những dân tộc khác chỉ dám mơ ước. 

Để duy trì vị trí thượng tôn, quân đội Hoa Kỳ hiện đóng tại 150 quốc gia trên thế giới. Sau thập niên 1970, trong khi Trung Quốc không có chiến tranh với quốc gia nào, Mỹ chưa có một ngày hòa bình. Tổng thống Jimmy Carter đã nhận xét rằng Mỹ là quốc gia hiếu chiến nhất hành tinh vì trong 242 năm từ khi lập quốc, chỉ được hưởng hòa bình trong vỏn vẹn 16 năm. 

Chính sách của Mỹ thiên về giảm thuế, nhất là cho người thu nhập cao và doanh nghiệp thay vì đầu tư để nâng cao chất lượng sống. Khi gặp cạnh tranh từ Châu Á, mô hình kinh tế Mỹ không còn vững nữa. Kỹ nghệ sản xuất dọn sang nước ngoài, tước đi công ăn việc làm của những người có trình độ học vấn thấp.

Người Mỹ bảo thủ hay tỏ ra nuối tiếc cái quá khứ vàng son hậu chiến, tuy thật ra quá khứ đó không tốt với mọi người. Người da màu, nhất là Da đen, không được chia sẻ sự thịnh vượng đó. 

Nhiều người cho rằng tăng thuế và phúc lợi xã hội đồng nghĩa với “cộng sản” nhưng nếu thế, thật ra kinh tế nước Mỹ của thập niên 1950 rất “cộng sản”. Mức thuế cho những người giàu nhất là 90 phần trăm. Lương trung bình của một chủ tịch công ty chỉ vào khoảng 20 lần lương một nhân viên trung cấp, so với 400 lần ngày nay, và còn cao hơn nữa nếu tính cả cổ phần và bổng lộc. Giới 1 phần trăm giàu nhất ở Mỹ sở hữu tài sản trị giá 30 ngàn tỉ Mỹ kim, trong khi phân nửa số dân ở dưới mức trung bình nợ nhiều hơn sở hữu. Ba người giàu nhất nước Mỹ có nhiều tiền hơn 160 triệu người đồng hương nghèo nhất. Tài sản của một gia đình Da đen chỉ  bằng 1/10 tài sản của một gia đình da trắng. Nếu không lãnh lương hai lần liên tiếp, đại đa số người Mỹ sẽ phá sản. Nước Mỹ giàu nhất hành tinh, nhưng người Mỹ sống như đu dây mà không có lưới an toàn đỡ bên dưới.

Đại dịch Covid19 bộc lộ những yếu kém của xã hội Mỹ. Một quốc gia từng sản xuất phi cơ chiến đấu hàng giờ một, nay thiếu khả năng làm khẩu trang hoặc dụng cụ quẹt hốc mũi để thử nghiệm bệnh dịch. Một quốc gia đã từng chinh phục bệnh đậu mùa và tê liệt, nay bị thế giới giễu cợt do có một tổng thống kêu gọi dân chúng uống thuốc sát trùng mà diệt vi-rút. Dân số Mỹ chiếm chỉ 4 phần trăm dân số thế giới, nhưng số người chết vì Covid19 chiếm hơn 20 phần trăm. Tỉ lệ người Mỹ chết vì dịch bằng 6 lần tỉ lệ toàn thế giới.

Sự thất bại không chối cãi được của Trump khiến thế giới quên đi cách xử lý yếu kém của Trung Quốc khi dịch mới bùng nổ và việc đàn áp phong trào dân chủ Hồng Kông. So với Mỹ, hầu như quốc gia nào cũng kiểm soát đại dịch tốt hơn, kể cả các xứ độc tài bậc nhất như Bắc Hàn, Trung Quốc, Việt Nam và Iran. Ayatollah Khomeni, lãnh tụ Iran, huênh hoang: “nước Mỹ đã bắt đầu quá trình tự hủy.”

Nhà văn Anh Nate White phát biểu mỉa mai, “thế giới lúc nào cũng có người ngu và người ác. Nhưng ít khi có người vửa ngu vừa ác, hoặc vừa ác vừa ngu đến (như ở Mỹ).”

Trump là hiện tượng, chứ không phải nguyên nhân của sự suy thoái của Mỹ. Kỳ lạ thay, người Mỹ khi soi gương không thấy được họ đang tuột dốc như thế nào. Nước Mỹ được đã xuống hạng 45 về tự do báo chí. Một quốc gia do người di dân xây dựng lại cố xây một bức tường vừa tốn kém vừa không hiệu quả để ngăn các di dân khác, thay vì đầu tư vào cách dịch vụ xã hội như bảo hiểm y tế toàn quốc. 

Chủ nghĩa cá nhân của người Mỹ đã giết chết tinh thần cộng đồng khi chẳng ai cần giúp ai điều gì. Người ta giành giật nhau mọi thứ từ giáo dục, gia cư, thực phẩm đến y tế. Những quyền lợi mà các quốc gia tân tiến khác mặc nhiên cho là căn bản như bảo hiểm y tế toàn quốc, giáo dục bình đẳng, an sinh xã hội, ở Mỹ người ta cho đó chỉ biểu lộ sự yếu đuối.

Hãy nhìn vào nước láng giềng Canada. Đây chẳng phải là thiên đàng gì, nhưng họ đối phó với các vấn đề tốt hơn Mỹ nhiều lần, kể cả đại dịch Covid19. Vancouver, Canada, với phân nửa dân số là gốc Châu Á và hàng chục chuyến bay mỗi ngày đến từ vùng này, chỉ cách Seattle của Mỹ 3 giờ lái xe. Lẽ ra Vancouver phải bị nhiễm dịch nặng, nhưng hệ thống y tế đã đối phó rất hữu hiệu. Tỉ lệ số người được thử nghiệm tại đây cao gấp 5 lần ở Seattle trong khi tỉ lệ người chết chỉ bằng phân nửa. Hiện nay, trong khi những ca dịch đang tăng vọt ở Mỹ, toàn tiểu bang British Columbia, Canada chỉ có 5 người nằm bệnh viện do Covid19.

Cấu trúc xã hội là lý do chính cho sự khác biệt giữa Canada và Mỹ. Ở Canada, không có nhiều cách biệt giàu nghèo như ở Mỹ, và các hệ thống công phục vụ tất cả mọi người thay vì chỉ giới có quyền và tiền. Một người bán hàng ở chợ và gia đình của họ được phục vụ tại cùng bệnh viện với cùng tiêu chuẩn như gia đình của Thủ tướng. Con họ đi học cùng con bạn, cho dù bạn có bao nhiêu tiền đi nữa. Sự chia sẻ này tạo ra cảm thông và tin tưởng vào các hệ thống chính quyền. Khi đại dịch xảy ra, người dân tuân thủ theo những khuyến cáo dựa trên khoa học của nhà nước, và không có cảnh “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” như Mỹ.

Văn minh tiến bộ của một quốc gia không dựa trên số tài sản của một nhóm nhỏ, mà tùy vào quan hệ cộng đồng và sự hợp tác giữa mọi người để theo đuổi mục đích chung. Đây không phải là chuyện tả hay hữu, mà là chất lượng đời sống. Người Phần Lan sống lâu hơn người Mỹ và ít tử vong ít hơn khi sinh nở. Người Đan Mạch có thu nhập ngang với người Mỹ, nhưng họ làm việc 20 phần trăm ít hơn. Thuế của họ cao hơn khoảng 19 phần trăm, nhưng bù lại, họ được bảo hiểm y tế miễn phí, học vấn từ mẫu giáo đến đại học miễn phí, và cơ hội cho mọi người vươn lên trong một nền kinh tế thịnh vượng. Nạn nghèo khó, vô gia cư, tội phạm và cách biệt giàu nghèo đều thấp hơn ở Mỹ nhiều. Một công nhân trung bình được trả lương cao hơn, đối xử tôn trọng hơn và có bảo hiểm y tế, hưu trí, nghỉ dài hạn khi sinh nở và sáu tuần nghỉ lễ mỗi năm. Do đó, người Đan Mạch thích làm việc; 80 phần trăm số người 64 tuổi vẫn làm việc, một tỉ lệ cao hơn Mỹ nhiều.

Nhiều người Mỹ vào năm 2016 đặt sự giận dữ và thù hằn cá nhân trên những quan tâm về đất nước và thế giới. Họ bỏ phiếu cho một người với khả năng duy nhất là biểu lộ thù hằn giùm cho họ bằng cách tấn công bất cứ ai họ cho là kẻ thù.

Chúng ta không có lý do để vui mừng khi Mỹ nhường ngôi lãnh đạo cho Trung Quốc, một quốc gia đầy rẫy thành tích về vi phạm nhân quyền. Trớ trêu thay, chính Donald Trump đã khen ngợi việc Trung Quốc bỏ tù và tra tấn người Duy Ngô Nhĩ (Uyghurs) là “việc rất cần phải làm.” Trump cũng phát biểu là đại dịch, như “một phép là, rồi nó sẽ biến mất.” Lẽ ra ông nên sử dụng câu này để miêu tả tương lai của Mỹ. 


Thắng Đỗ, thành viên Hội đồng Quản trị của PIVOT (Hội Người Mỹ Gốc Việt Cấp Tiến), gửi bài từ San Jose.



Dĩ nhiên, mỗi người Mỹ hôm nay sẽ có cách riêng để hiểu và thể hiện lòng yêu nước của mình. Lễ Độc Lập năm nay còn đánh dấu cột mốc 250 năm ngày một bản Tuyên ngôn đặt nền cho nước Mỹ ra đời – vì vậy, hai chữ “lòng yêu nước” lại trở thành khẩu hiệu đầu môi. Nhưng giữa pháo bông và diễu hành, giữa những lá cờ bay trên sân vận động và những đứa trẻ từ chối hát quốc ca, người Mỹ nói chung, và người Mỹ gốc Việt nói riêng thật sự nghĩ gì về lòng ái quốc?
Ngày 4 Tháng Bảy năm nay, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tròn 250 tuổi. Đó là một con số thiêng liêng. Một phần tư thiên niên kỷ. Người Mỹ nào cũng hiểu rằng ngày 4 Tháng Bảy mang ý nghĩa lớn lao hơn nhiều so với cá nhân của mỗi người, ở một góc độ nào đó. Đó là dịp để tôn vinh nền dân chủ và vai trò công dân – ai cũng bình đẳng trong nền dân chủ ấy. George Washington thấu hiểu sâu sắc điều này. Trong bản di chúc của mình, ông tự mô tả bản thân là “một công dân Hoa Kỳ, và từng là tổng thống của quốc gia này.” Ông trân trọng danh phận công dân Mỹ, một danh xưng mà chính ông cùng các nhà cách mạng Mỹ khác đã góp phần tạo dựng, và coi trọng vị thế đó hơn cả vinh dự nhất thời của chức vụ tổng thống. Trong Tuyên Ngôn Độc Lập, Abraham Lincoln từng nói rằng mọi quan điểm chính trị của ông đều "bắt nguồn từ những tư tưởng được thể hiện trong Tuyên Ngôn Độc Lập.” Ông tin tưởng tuyệt đối sứ mệnh của nước Mỹ là trút bỏ "gánh nặng khỏi đôi vai mọi người.”
Trong chính trị đương đại, có hai mô hình dân chủ chân chính. Đó là tổng thống chế như tại Hoa Kỳ và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Hoa Kỳ như Brasil, Argentina, hay quốc hội chế (hoặc đại nghị chế) tại Anh Quốc và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Anh Quốc như Canada, Úc.
Cách đây mười năm, ngày 23 tháng 6 năm 2016, với khẩu hiệu chủ đạo “Người dân phải giành lại quyền kiểm soát”, phe vận động Brexit đã muốn giành lại quyền tự chủ mà theo họ đã bị Liên minh châu Âu (EU) tước đoạt, đồng thời kiểm soát chặt chẽ hơn biên giới của nước Anh...
Sự khác biệt giữa chủ nghĩa xã hội dân chủ và chủ nghĩa cộng sản là một hệ thống giữ gìn dân chủ và một hệ thống hủy diệt dân chủ. Chủ nghĩa cộng sản, như đã thực sự được dựng lên trong suốt thế kỷ 20, nghĩa là sự cai trị độc đảng, việc xóa bỏ sở hữu tư nhân, một nền kinh tế chỉ huy, và sự trấn áp bất đồng chính kiến cùng tôn giáo. Chủ nghĩa xã hội dân chủ nghĩa là thắng cử, mở rộng nhà nước phúc lợi, và chấp nhận – theo đúng định nghĩa – rằng bạn có thể bị phế truất bằng lá phiếu. Cái thứ nhất chấm dứt dân chủ, cái thứ hai phụ thuộc vào dân chủ. Toàn bộ ý nghĩa của chữ dân chủ, được thêm vào một cách có chủ ý từ một thế kỷ trước, chính là để đánh dấu bức tường ngăn cách đó.
Trong một cuộc hỏi đáp về thỏa thuận Iran, Tổng thống Donald Trump được hỏi một câu rất căn bản: ông có đưa văn kiện này ra Quốc hội hay không? Câu trả lời: “Chưa từng nghĩ tới. Nhưng sẽ làm.” Chính vế đầu mới đáng nói.Trong một nền dân chủ hiến định, Quốc hội không phải là điều “nghĩ tới sau”. Nhất là với những quyết định liên quan đến chiến tranh, hòa bình và đối ngoại — những lĩnh vực mà Hiến pháp không trao trọn cho một cá nhân.
Phó Tổng thống Hoa Kỳ JD Vance hôm nay Chủ nhật đến Thụy Sĩ để mở màn vòng thương thuyết với các giới chức cao cấp của Iran, với kỳ vọng nối dài một thỏa ước đình chiến hãy còn mong manh, nhằm chặn lại cuộc chiến đang làm đảo lộn trật tự Trung Đông. Cuộc họp bốn bên giữa Hoa Kỳ, Iran, Pakistan và Qatar tại Geneva được xem như cơ hội hiếm hoi để cứu vãn hòa bình trên giấy, trong khi ngoài chiến trường, tiếng súng và những toan tính quyền lực vẫn chưa chịu lắng. Trong khi giới thương thuyết ngồi lại ở Geneva, những con số dưới đây cho thấy cái giá thực sự của cuộc chiến đối với các bên tham chiến, với cả vùng, và với phần còn lại của thế giới.
Năm 1948, trên đảo Jura, Scotland, George Orwell viết lời sau đây trong kiệt tác 1984: “Cho dù anh có viết ‘ĐẢ ĐẢO ANH CẢ’ hay không viết, cũng chẳng thay đổi được gì. Cho dù anh có tiếp tục ghi chép, hay bỏ dở cuốn nhật ký, cũng chẳng thay đổi được gì. Cảnh sát Tư Tưởng sớm muộn gì cũng sẽ tóm anh…”
Từ lâu, giới lãnh đạo Nga vẫn tự hào rằng nước này tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong đời sống chính trị quốc tế. Niềm tin đó dựa trên những lý do như vị thế thành viên thường trực tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, tư cách cường quốc hạt nhân và ảnh hưởng đáng kể đối với các nước thuộc Xô Viết cũ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, thực tế chuyển biến đã làm lung lay các kỳ vọng đó...
Nếu đến hôm nay người ta vẫn phải thí điểm những “phường xã hội chủ nghĩa”, thì điều đó chính là bằng chứng rõ ràng nhất rằng công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam chưa từng đạt được mục tiêu đã đề ra. Lịch sử có thể khoan dung với những sai lầm. Nhưng lịch sử sẽ không tha thứ cho việc kéo dài một sai lầm suốt nhiều thế hệ mà vẫn từ chối thừa nhận nó.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.