Hôm nay,  

Công Hay Tội?

01/09/202018:36:00(Xem: 6765)

Khi tìm hiểu công hay tội của một nhân vật lịch sử, người ta thường xét hoạt động hay công việc của người đó đóng góp như thế nào cho đất nước, dân tộc.  Vậy thử áp dụng nguyên tắc nầy để đánh giá Hồ Chí Minh là người có công hay có tội trước lịch  sử Việt Nam?


1.- DU NHẬP CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN


Hồ Chí Minh (HCM) là đảng viên đảng Cộng Sản Pháp năm 1920, đến Moscow và vào học Trường Đại học Lao động Cộng sản Phương Đông (Communist University of the Toilers of the East) năm 1923.  Cuối năm 1924, Liên Xô gởi HCM qua hoạt động ở Quảng Châu (Trung Hoa).  Năm 1930, vâng lệnh Liên Xô, HCM thành lập đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) tại Hồng Kông.  Sau vài tháng, do lệnh của Liên Xô, đảng CSVN đểi tên thành đảng Cộng Sản Đông Dương. Năm 1945, HCM cùng đảng CS cướp chính quyền và thành lập nhà nước CS đầu tiên ở Á Châu.  


Khi mới du nhập vào Việt Nam, chủ nghĩa CS được tuyên truyền là chủ nghĩa “TAM VÔ”, gồm có “vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo”.  Khi nói đến “tam vô” thì có vẻ mơ hồ.  Có lẽ cần nhìn vào hoạt động của đảng CS thì sẽ rõ ràng hơn tính năng của chủ nghĩa “tam vô” của CS.  


Do chủ trương vô gia đình, trong Cải cách ruộng đất (CCRĐ) ở Bắc Việt Nam đảng CS khuyến khích con tố cha, vợ chồng tố nhau, anh chị em tố nhau.  Riêng cuộc CCRĐ giai doạn 5 vào 1955-1956, CS giết hại hơn 170,000 người. (Đặng Phong, Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000, tập II: 1955-1975, Hà Nội, Nxb. Khoa Học Xã Hội, tr. 85), do đấu tố kiểu “vô gia đình”.


Chính HCM cũng hành xử một cách “vô gia đình”.  Trong di chúc trước khi chết, HCM viết : “…tôi để sẵn mấy lời nầy, phòng khi tôi đi gặp cụ Cac Mac, cụ Lênin…” (Ban Nghiên Cứu Lịch Sử Đảng Trung Ương, Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử và sự nghiệp, in lần thứ tư, có xem lại và bổ sung, Hà Nội: Nxb. Sự Thật, 1975, tr. 171.)  Sau khi chết, Hồ Chí Minh chỉ muốn đi gặp mấy ông tổ CS người Đức, người Nga, mà không nghĩ đến tổ tiên, cha mẹ, anh chị của mình bởi vỉ người CS “tam vô”.


Tổ quốc Việt Nam đã trải hơn hai ngàn năm thăng trầm, qua bao lần bị ngoại bang xâm lược, mà vẫn tồn tại, nên không thể có chuyện người Việt vô tổ quốc để tiến lên thế giới đại đồng.  Chỉ có tên CS Tố Hữu mới ca tụng Trung Cộng theo kiểu “vô tổ quốc”: “Bên ni biên giới là mình,/ Bên kia biên giới cũng tình anh em.” (Tố Hữu, “Đường sang nước bạn”.) (Nguồn: Thơ Tố Hữu, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2003.) 


Người Việt tin tưởng vào sự hiện hữu của linh hồn ngưới quá cố, từ thời lập quốc đã có tục thờ cúng ông bà.  Người Việt cho đến thế kỷ 20 theo bốn tôn giáo chính là Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo và Thiên Chú giáo, nên không chấp nhận vô thần.  Các tôn giáo đều có nhiều tín đồ.  Nhằm tranh giành quần chúng của các tôn giáo, nên CS chủ trương vô tôn giáo, tấn công, tàn phá chùa, nhà thờ, di tích lịch sử và giết hại, bắt giam, ngược đãi tu sĩ, tín đồ tôn giáo.   


Như thế, chủ nghĩa CS do HCM du nhâp vào Việt Nam hoàn toàn đối nghịch với văn hóa dân tộc.  Chẳng những thế, chủ nghĩa CS cũng đi ngược lại với các nền văn hóa trên thế giới, nên Quốc hội của Hội đồng Âu Châu (Parliamentary Assembly of Council of Europe) trong phiên họp ngày 25-1-2006 tại Strasbourg (Pháp) đã đưa ra nghị quyết số 1481, lên án chủ nghĩa CS là tội ác chống nhân loại, và các chế độ toàn trị CS đã vi phạm nhân quyền tập thể.  Điều 2 của nghị quyết 1481 viết: “Những chế độ toàn trị cộng sản từng cai trị ở Trung và Đông Âu trong thế kỷ qua, và hiện vẫn còn cầm quyền ở vài nước trên thế giới, tất cả (không ngoại trừ) biểu thị chân tướng của sự vi phạm nhân quyền tập thể.


2.-  CẦU VIỆN TRUNG CỘNG


Người Việt vốn có tinh thần độc lập tự chủ, chống ngoại xâm.  Từ khi Pháp xâm lăng Việt Nam vào giữa thế kỷ 19, người Việt liên tục nổi lên chống Pháp, mà không cầu viện ngoại bang.  Trong khi đó, HCM và đảng CSVN cầu viện Trung Cộng để chống Pháp.  Người Pháp sinh sống ở miền ôn đới, không hợp phong thổ Việt, không ở lại Việt Nam vĩnh viễn, trước sau gì người Pháp cũng ra đi.  Sau thế chiến thứ hai, các nước trên thế giới dần dần giải thực một cách ôn hòa, chứ không dẫm máu, đau thương như Việt Nam.  


Trái lại, Trung Cộng rất hiếu chiến, chủ trương trường kỳ xâm lăng, và bành trướng lâu dài.  Khi HCM cầu viện Trung Cộng năm 1950, Trung Cộng giúp đỡ một cách hào phóng CSVN, không phải vô vị lợi mà theo lời Lưu Thiếu Kỳ thì Trung Cộng sẽ đòi lại sau khi CSVN thành công. (Qiang Zhai, China & the Vietnam Wars, 1950-1975, The University of Noth Carolina Press, 2000, tr. 19.)  Như thế có nghĩa là không có việc Trung Cộng cho không, biếu không; không có việc Trung Cộng viện trợ không hoàn lại, mà Trung Cộng giương bẫy nợ và đưa HCM cùng CSVN vào tròng của Trung Cộng ngay từ thời chiến tranh 1946-1954. Đó là chưa kể Trung Cộng ngầm xúi CSVN đánh nhau với Pháp để Trung Cộng hưởng lợi.


Hồ Chí Minh cầu viện Trung Cộng để chống Pháp để rồi CS quốc tế, Liên Xô và Trung Cộng thế chỗ của Pháp khống chế Việt Nam, thi như người xưa đã nói: “đuổi cọp cửa trước, rước sói cửa sau, để tai họa lại cho hậu thế.” (Cổ văn: “Ninh thụ vô công chi danh, bất khả đồ hữu công nhi tiền môn cự hổ, hậu môn tiến lang, dĩ di họa ư hậu thế”.  Tạm dịch nghĩa: “Thà không có công danh, không thể mưu đồ lập công mà đuổi hổ cửa trước, rước sói cửa sau, để tai họa lại cho hậu thế.”)  Còn Phan Châu Trinh thì đã viết một cách đơn giản cho HCM: ““quốc dân đồng bào vẫn nguyên là cái lưng con ngựa, chỉ thay người cỡi mà thôi.” (Ngô Văn, Việt Nam 1920-1945, Amirillo, TX: Nxb. Chuông Rè, 2000, tt. 39-40.)


3.-  GIẢI PHÓNG DÂN TỘC?


Đảng Cộng Sản, những tác giả CS và những người thiên cộng thường ca tụng HCM là kẻ đã có công “gỉải phóng dân tộc”.  Theo nghĩa tầm nguyên, “giải” là mở ra, “phóng” là thả ra, buông ra, không ràng buộc.  Như thế, giải phóng là đưa một đối tượng từ tình trạng bị giam hãm kềm kẹp đến trình trạng được thoát ly, tự do, tức từ chỗ xấu đến chỗ tốt hơn.  Ngang đây, có hai vấn đề cần đặt ra: 1) HCM và đảng CS giải phóng ai? 2) Đối tượng mà HCM và đảng CS nói rằng được CS giải phóng có thật sự được thoát gông cùm nô lệ hay ngược lại là bị đưa vào tròng nô lệ mới?


Khi cướp được chính quyền và ra mắt chính phủ tại Hà Nội ngày 2-9-1945, HCM đưa ra các lời thề quyết liệt chống Pháp nếu Pháp trở lại Việt Nam, nhưng khi Pháp tái chiếm Nam Kỳ, tiến ra Trung Kỳ, rồi đe dọa Bắc Kỳ, thì HCM sợ bị Pháp lật đổ, nên bỏ qua lời thề ng ày 2-9, ký với Pháp hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 tại Hà Nội, thừa nhận việc Pháp đem quân vào Việt Nam.  Để chắc chắn hơn, HCM qua Pháp ký Tam ước (Modus Vivendi) ngày 14-9-1946 tại Paris, để cho Pháp tái lập các hoạt động của Pháp trên toàn cõi Việt Nam. Như thế có nghĩa là HCM không chống Pháp, mà thỏa hiệp với Pháp để duy trì quyền lực.


Quân Pháp đến Hà Nội càng ngày càng đông, đòi kiểm soát an ninh Hà Nội.  Nếu để cho Pháp kiểm soát an ninh Hà Nội, thì sinh mạng HCM và lãnh đạo đảng CS nằm trong tay Pháp, nên HCM triệu tập hội nghị trung ương đảng CS tại Vạn Phúc (Hà Đông) trong hai ngày 18 và 19-12-1946, quyết định bất ngờ tấn công Pháp. (Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Hà Nội: Nxb. Quân Đội Nhân Dân, 2004, tt. 503-504) để có lý do chính đáng trốn khỏi Hà Nội.  


Cướp được chính quyền thì đảng CS chủ trương độc tôn quyền lực.  Khi Pháp trở lại Việt Nam thì CS thỏa hiệp với Pháp để giữ vững quyền lực, không chống Pháp.  Khi bị Pháp áp lực nặng nề và có thể bị Pháp tiêu diệt, đảng CS mới quyết định tuyên chiến với Pháp và chuyển gánh nặng chiến tranh lên vai dân tộc, vì sự sống còn của HCM và đảng CS, chứ không phải để giải phóng dân tộc.    


Hiệp định Genève ngày 20-7-1954 chia hai Việt Nam ở sông Bến Hải, ngang vĩ tuyến 17.  Bắc Việt Nam (BVN) theo chế độ CS.  Nam Việt Nam (NVN) theo chế độ Cộng Hòa.  Trước khi ký hiệp định Genève, tại hội nghị Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ ngày 3 đến 5-7-1954, Châu Ân Lai đã khuyên HCM chôn giấu võ khí và lưu cán bộ, quân đội ở lại NVN để tiếp tục cuộc chiến.  Hồ Chí Minh liền thi hành kế hoạch nầy, nghĩa là HCM và CSVN chủ ý sẽ tiếp tục tấn công NVN, còn việc HCM va BVN đưa ra hai khầu hiệu “Giải phóng miền Nam” và “Chống Mỹ cứu nước” chỉ là hai chiệu bài để my dân và phỉnh gạt dư luận thế giới mà thôi.


Năm 1954 và năm 1975, thành công xong, Hồ Chí Minh và CS đã áp đặt miền BVN (1954) và sau đó NVN (1975) dưới chế độ CS, độc tài đảng trị, toàn trị, theo chính sách kinh tế chỉ huy, làm cho dân chúng Việt Nam càng ngày càng cùng khổ.  Do đó, không thể nói HCM và đảng CS đã giải phóng đất nước, giải phóng dân tộc, mà phải nói là HCM và đảng CS đã nô lệ hóa đất nước trong gông cùm cộng sản.


4.-  CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC?


Để có lý do gây chiến, xâm lăng Nam Việt Nam sau năm 1954, HCM và CSVN cầu viện các nước CS để thực hiện chiêu bài “chống Mỹ cứu nước”.  Sau thế chiến thứ hai, Liên Xô chiếm các nước Đông Âu, Trung Cộng chiếm Tân Cương, Tây Tạng.  Ngược lại, tuy chiến thắng Đức, Nhật Bản, Nam Hàn, nhưng Hoa Kỳ không chiếm các nước nầy, mà trao trả độc lập và giúp các nước nầy phục hưng kinh tế nhanh chóng, tiến bộ vượt bậc, nghĩa là Hoa Kỳ chủ trương giúp các nước khác trên thế giới cùng phát triển với Hoa Kỳ.  Chính bản thân diện tích nước Hoa Kỳ quá rộng, dân số chưa đủ để canh tác cho hết đất của Hoa Kỳ.  Hàng năm, Hoa Kỳ còn cho nhiều người ngoại quốc nhập cư, thì Hoa Kỳ cần gì phải xâm lăng nước khác như Trung Cộng bị nạn nhân mãn mãn tính.


Hồ Chí Minh và các lãnh tụ đảng Lao Động dư biết những điều trên đầy, nhưng vì vâng lệnh Châu Ân Lai tại hội nghị Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Hoa) từ 3 đến 5-7-1954, nên HCM đưa ra chủ trương “chống Mỹ cứu nước” ngay trước khi hiệp định Genève được ký kết ngày 20-7-1954.  


Hoa Kỳ đến Nam Việt Nam vì chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ, giúp đỡ Nam Việt Nam tái thiết sau năm 1954, , nhằm chống lại sự bành trướng của CS chứHoa Kỳ không có tham vọng đất đai.  Nhờ thế, Nam Việt Nam phồn thịnh nhanh chóng hơn các nước Đông Nam Á.    Khi Hoa Kỳ thay đổi chiến lược, bắt tay với Trung Cộng, Hoa Kỳ nhanh chóng rút hết quân về nước.   


Còn HCM cầu viện Trung Cộng, rước 320,000 quân Tàu vào trấn giữ miền bắc sông Hồng, thì ngày nay Việt Nam phải gánh nỗi khổ Trung Cộng, mất đất (Hoàng Sa, Nam Quan), mất biển (10,000 Km2 Vịnh Bắc Việt), và Biển Đông bị Trung Cộng đe dọa triền miên.  Đó là kết quả kế hoạch “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc”. (Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày, Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tr. 422ct. Nguyễn Mạnh Cầm, ngoại trưởng CSVN (1991 đến 2000), tiết lộ lời của Lê Duẩn trong cuộc phỏng vấn của đài BBC ngày 24-1-2013.


KẾT LUẬN: HỒ CHÍ MINH = TỘI ĐỒ DÂN TỘC


Qua những hoạt động trên đây, thì HCM là một đảng viện CS Pháp, vâng lệnh Liên Xô và Trung Cộng, thành lập đảng CS Việt Nam, phá hoại nền văn hóa dân tộc, bành trướng chủ nghĩa CS ở Đông Nam Á, và chủ động gây ra hai cuộc chiến liên tiếp từ 1946 dến 1975.  Theo thống kê của tạp chí Polska Times (Thời Báo Ba Lan) ngày 5-3-2013, trong 24 năm cầm quyền (1945-1969), HCM đã gây ra cái chết của 1,7 triệu người dân Việt.  


Như thế, cân nhắc những hoạt động và việc làm cu thể của Hồ Chí Minh, thì Hồ Chí Minh chỉ có công với cộng sản quốc tế, với Liên Xô, với Trung Cộng.  Ngược lại Hồ Chí Minh là kẻ có tội với đất nước Việt Nam, và Hồ Chí Minh là TỘI ĐỒ số 1 của dân tộc Việt Nam từ xưa tới nay, gây nhiều tội ác nhứt trong lịch sử Việt Nam.  Không chối cãi vào đâu được.


TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, 01-09-2020)



Tinh thần lãnh đạo là khả năng định hướng, truyền cảm hứng và tạo ảnh hưởng để tập hợp con người cùng hướng tới một tầm nhìn mới và đạt được mục tiêu chung. Một nhà lãnh đạo có tinh thần lãnh đạo mạnh mẽ thường thể hiện qua các năng lực chủ yếu như: định hướng tương lai, xây dựng tầm nhìn và chiến lược dài hạn; tạo động lực để khơi dậy năng lực, ý chí và sự bền bỉ của tập thể; tinh thần trách nhiệm trước các quyết định và hệ quả; nêu gương hành động nhất quán với lời nói, trở thành chuẩn mực cho tập thể và khả năng thích ứng khi bối cảnh thay đổi.
Theo dõi vũ đài chính trị Mỹ, có lẽ ai cũng dễ dàng nhận ra những khoảnh khắc mà người ta không biết gọi là gì cho đúng. Nó không hẳn là phản bội, cũng không hoàn toàn là đầu hàng, mà nó giống như một sự tan rã, một ánh chớp vụt tắt trước mắt mọi người. Và cái điều đó, để lại trong lòng những người còn đủ kiên nhẫn để quan tâm đến bề mặt của hệ thống chính quyền, cảm thấy thất vọng.
Sau khi được bầu làm Chủ Tịch Nước, TBT Tô Lâm dõng dạt đưa ra chỉ tiêu phát triển kinh tế 10% mỗi năm. Dĩ nhiên đây là một khẩu hiệu nặng tính tuyên truyền, hơn là sách lược kinh tế được hoạch định nghiêm chỉnh. CSVN là một đảng CSTQ tí hon, từ khi mới thành lập đưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, đến thời của Tô Lâm. Nền kinh tế VN cũng là phiên bản mô hình TQ, tuy sinh sau đẻ muộn vì giới lãnh đạo CSVN kém trí tuệ hơn giới lãnh đạo CSTQ. Hệ lụy tự nhiên là Việt Nam kém phát triển hơn TQ nhiều thập niên và GDP đầu người chỉ bằng khoảng 1/3 TQ.
Cho đến giờ này, chỉ là phỏng đoán! Christopher Hale, chủ nhân của trang báo đặc biệt Letters from Leo, đã liên lạc với đài CBS vào Thứ Hai tuần này với một câu hỏi duy nhất: Liệu Stephen Colbert có khép lại chương trình The Late Show tối Thứ Năm tuần này với một cuộc phỏng vấn Đức Giáo Hoàng Leo XIV, vị Giáo Hoàng người Mỹ đầu tiên hay không? CBS từ chối trả lời.
Vào cái đêm thất bại đó, Thomas Massie đã nói với đám đông những người ủng hộ một điều mà suốt nhiều năm qua, chẳng ai trong đảng của ông dám nói to thành lời: "Nếu nhánh lập pháp lúc nào cũng bỏ phiếu theo ý tổng thống, thì quả thực chúng ta đang có một vị vua.”
Tưởng đâu chuyện tổng thống Donald Trump kiện Sở Thuế đòi 10 tỉ đô là màn “thay trời hành đạo”, đòi bồi thường cho vụ hồ sơ thuế bị IRS làm lộ. Dè đâu chỉ là màn mượn đầu heo IRS để nấu nồi cháo gần 1,8 tỉ rồi dọn ra cho phe mình xì xụp.
Trong bối cảnh Hoa Kỳ hiện đang bị chia rẽ sâu sắc bởi chính trị nội bộ, làm phật ý các đồng minh, và một lần nữa lại bị cuốn vào cuộc chiến tại Vùng Vịnh Ba Tư, đây dường như là thời điểm thuận lợi để Trung Quốc nắm lấy vai trò lãnh đạo toàn cầu. Tuy nhiên, Bắc Kinh lại tránh việc tận dụng những xung đột này bằng cách đưa ra một lập trường công khai mạnh mẽ. Thay vì đối đầu với Hoa Kỳ thông qua việc bảo vệ Iran—một đối tác chiến lược lâu năm trong khu vực—Trung Quốc chỉ cung cấp sự hỗ trợ gián tiếp và phần lớn vẫn đứng ngoài cuộc.
Theo những tài liệu bán chính thống, đặc biệt một bài nghiên cứu tựa đề Jester của tác giả Kivak, Rebeccad đăng trên trang học thuật EBSCO, câu "Gã hề là người duy nhất được phép chế giễu nhà vua" gần như là đúng trong truyền thống cung đình châu Âu thời Trung Cổ và Phục Hưng. Họ sử dụng tài hóm hỉnh, bài hát, câu đố hoặc tiểu phẩm để “móc” vua chúa, chỉ ra các sai lầm hoặc chính sách sai lầm của vua mà không bị trừng phạt. Nước Mỹ, xứ sở tự hào là nền cộng hòa không vua, vô hình trung đã trao vai trò đó cho truyền hình đêm khuya. Và trong suốt hơn một thập niên, có lẽ không ai cầm thứ vũ khí ấy với độ chính xác cao, căm phẫn và duyên dáng bi thương hơn Stephen Colbert.
Cô tự nhủ, cũng chưa đến nỗi nào. Anh la hét, chửi mắng, nhưng chưa hẳn đánh cô. Anh sỉ nhục người khác, nhưng vì cô hiểu và yêu anh, cô tin mình sẽ không bị đối xử như thế. Hồi mới quen anh, cô có việc làm, đủ ăn đủ xài. Bây giờ, móc túi không đủ tiền đổ xăng, cô cũng không một lần oán anh. Bị anh dụ ngọt, gạt hết lần này tới lần khác, cô ôm khư khư vào lòng cái lần đầu hiếm hoi anh cho cô cảm giác mình được bảo vệ, bênh vực. Chỉ một cái ôm, một câu nói “mình em hiểu anh thôi” là đủ vốn liếng để cô tự nuôi sống mối “tình anh với em” dài tập trong đầu.
Diversity, Equity, Inclusion — viết tắt DEI — dịch nôm là “Đa dạng, Công bằng, Hòa nhập”, là một khái niệm đã trải qua nhiều chặng lịch sử ở Hoa Kỳ. Sau phong trào dân quyền thập niên 1960, trọng tâm là “cơ hội bình đẳng”: chấm dứt phân biệt chủng tộc, mở cánh cửa trường học và công sở cho người da màu. Về sau, với chính sách “affirmative action”, chính quyền, đại học và doanh nghiệp chủ động nâng đỡ các nhóm thiểu số, không chỉ để bù đắp bất công lịch sử, mà còn để điều chỉnh cơ cấu nhân sự cho tương xứng với diện mạo dân số mới: một lực lượng lao động đa sắc tộc, đa văn hóa cần có mặt trong vị trí chuyên môn, quản trị và phục vụ công cộng. Những chương trình ấy vì thế vừa đáp ứng yêu cầu công bằng, vừa phục vụ nhu cầu thực tế của một xã hội ngày càng đa dạng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.