Hôm nay,  

Công Hay Tội?

01/09/202018:36:00(Xem: 6766)

Khi tìm hiểu công hay tội của một nhân vật lịch sử, người ta thường xét hoạt động hay công việc của người đó đóng góp như thế nào cho đất nước, dân tộc.  Vậy thử áp dụng nguyên tắc nầy để đánh giá Hồ Chí Minh là người có công hay có tội trước lịch  sử Việt Nam?


1.- DU NHẬP CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN


Hồ Chí Minh (HCM) là đảng viên đảng Cộng Sản Pháp năm 1920, đến Moscow và vào học Trường Đại học Lao động Cộng sản Phương Đông (Communist University of the Toilers of the East) năm 1923.  Cuối năm 1924, Liên Xô gởi HCM qua hoạt động ở Quảng Châu (Trung Hoa).  Năm 1930, vâng lệnh Liên Xô, HCM thành lập đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) tại Hồng Kông.  Sau vài tháng, do lệnh của Liên Xô, đảng CSVN đểi tên thành đảng Cộng Sản Đông Dương. Năm 1945, HCM cùng đảng CS cướp chính quyền và thành lập nhà nước CS đầu tiên ở Á Châu.  


Khi mới du nhập vào Việt Nam, chủ nghĩa CS được tuyên truyền là chủ nghĩa “TAM VÔ”, gồm có “vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo”.  Khi nói đến “tam vô” thì có vẻ mơ hồ.  Có lẽ cần nhìn vào hoạt động của đảng CS thì sẽ rõ ràng hơn tính năng của chủ nghĩa “tam vô” của CS.  


Do chủ trương vô gia đình, trong Cải cách ruộng đất (CCRĐ) ở Bắc Việt Nam đảng CS khuyến khích con tố cha, vợ chồng tố nhau, anh chị em tố nhau.  Riêng cuộc CCRĐ giai doạn 5 vào 1955-1956, CS giết hại hơn 170,000 người. (Đặng Phong, Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000, tập II: 1955-1975, Hà Nội, Nxb. Khoa Học Xã Hội, tr. 85), do đấu tố kiểu “vô gia đình”.


Chính HCM cũng hành xử một cách “vô gia đình”.  Trong di chúc trước khi chết, HCM viết : “…tôi để sẵn mấy lời nầy, phòng khi tôi đi gặp cụ Cac Mac, cụ Lênin…” (Ban Nghiên Cứu Lịch Sử Đảng Trung Ương, Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử và sự nghiệp, in lần thứ tư, có xem lại và bổ sung, Hà Nội: Nxb. Sự Thật, 1975, tr. 171.)  Sau khi chết, Hồ Chí Minh chỉ muốn đi gặp mấy ông tổ CS người Đức, người Nga, mà không nghĩ đến tổ tiên, cha mẹ, anh chị của mình bởi vỉ người CS “tam vô”.


Tổ quốc Việt Nam đã trải hơn hai ngàn năm thăng trầm, qua bao lần bị ngoại bang xâm lược, mà vẫn tồn tại, nên không thể có chuyện người Việt vô tổ quốc để tiến lên thế giới đại đồng.  Chỉ có tên CS Tố Hữu mới ca tụng Trung Cộng theo kiểu “vô tổ quốc”: “Bên ni biên giới là mình,/ Bên kia biên giới cũng tình anh em.” (Tố Hữu, “Đường sang nước bạn”.) (Nguồn: Thơ Tố Hữu, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2003.) 


Người Việt tin tưởng vào sự hiện hữu của linh hồn ngưới quá cố, từ thời lập quốc đã có tục thờ cúng ông bà.  Người Việt cho đến thế kỷ 20 theo bốn tôn giáo chính là Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo và Thiên Chú giáo, nên không chấp nhận vô thần.  Các tôn giáo đều có nhiều tín đồ.  Nhằm tranh giành quần chúng của các tôn giáo, nên CS chủ trương vô tôn giáo, tấn công, tàn phá chùa, nhà thờ, di tích lịch sử và giết hại, bắt giam, ngược đãi tu sĩ, tín đồ tôn giáo.   


Như thế, chủ nghĩa CS do HCM du nhâp vào Việt Nam hoàn toàn đối nghịch với văn hóa dân tộc.  Chẳng những thế, chủ nghĩa CS cũng đi ngược lại với các nền văn hóa trên thế giới, nên Quốc hội của Hội đồng Âu Châu (Parliamentary Assembly of Council of Europe) trong phiên họp ngày 25-1-2006 tại Strasbourg (Pháp) đã đưa ra nghị quyết số 1481, lên án chủ nghĩa CS là tội ác chống nhân loại, và các chế độ toàn trị CS đã vi phạm nhân quyền tập thể.  Điều 2 của nghị quyết 1481 viết: “Những chế độ toàn trị cộng sản từng cai trị ở Trung và Đông Âu trong thế kỷ qua, và hiện vẫn còn cầm quyền ở vài nước trên thế giới, tất cả (không ngoại trừ) biểu thị chân tướng của sự vi phạm nhân quyền tập thể.


2.-  CẦU VIỆN TRUNG CỘNG


Người Việt vốn có tinh thần độc lập tự chủ, chống ngoại xâm.  Từ khi Pháp xâm lăng Việt Nam vào giữa thế kỷ 19, người Việt liên tục nổi lên chống Pháp, mà không cầu viện ngoại bang.  Trong khi đó, HCM và đảng CSVN cầu viện Trung Cộng để chống Pháp.  Người Pháp sinh sống ở miền ôn đới, không hợp phong thổ Việt, không ở lại Việt Nam vĩnh viễn, trước sau gì người Pháp cũng ra đi.  Sau thế chiến thứ hai, các nước trên thế giới dần dần giải thực một cách ôn hòa, chứ không dẫm máu, đau thương như Việt Nam.  


Trái lại, Trung Cộng rất hiếu chiến, chủ trương trường kỳ xâm lăng, và bành trướng lâu dài.  Khi HCM cầu viện Trung Cộng năm 1950, Trung Cộng giúp đỡ một cách hào phóng CSVN, không phải vô vị lợi mà theo lời Lưu Thiếu Kỳ thì Trung Cộng sẽ đòi lại sau khi CSVN thành công. (Qiang Zhai, China & the Vietnam Wars, 1950-1975, The University of Noth Carolina Press, 2000, tr. 19.)  Như thế có nghĩa là không có việc Trung Cộng cho không, biếu không; không có việc Trung Cộng viện trợ không hoàn lại, mà Trung Cộng giương bẫy nợ và đưa HCM cùng CSVN vào tròng của Trung Cộng ngay từ thời chiến tranh 1946-1954. Đó là chưa kể Trung Cộng ngầm xúi CSVN đánh nhau với Pháp để Trung Cộng hưởng lợi.


Hồ Chí Minh cầu viện Trung Cộng để chống Pháp để rồi CS quốc tế, Liên Xô và Trung Cộng thế chỗ của Pháp khống chế Việt Nam, thi như người xưa đã nói: “đuổi cọp cửa trước, rước sói cửa sau, để tai họa lại cho hậu thế.” (Cổ văn: “Ninh thụ vô công chi danh, bất khả đồ hữu công nhi tiền môn cự hổ, hậu môn tiến lang, dĩ di họa ư hậu thế”.  Tạm dịch nghĩa: “Thà không có công danh, không thể mưu đồ lập công mà đuổi hổ cửa trước, rước sói cửa sau, để tai họa lại cho hậu thế.”)  Còn Phan Châu Trinh thì đã viết một cách đơn giản cho HCM: ““quốc dân đồng bào vẫn nguyên là cái lưng con ngựa, chỉ thay người cỡi mà thôi.” (Ngô Văn, Việt Nam 1920-1945, Amirillo, TX: Nxb. Chuông Rè, 2000, tt. 39-40.)


3.-  GIẢI PHÓNG DÂN TỘC?


Đảng Cộng Sản, những tác giả CS và những người thiên cộng thường ca tụng HCM là kẻ đã có công “gỉải phóng dân tộc”.  Theo nghĩa tầm nguyên, “giải” là mở ra, “phóng” là thả ra, buông ra, không ràng buộc.  Như thế, giải phóng là đưa một đối tượng từ tình trạng bị giam hãm kềm kẹp đến trình trạng được thoát ly, tự do, tức từ chỗ xấu đến chỗ tốt hơn.  Ngang đây, có hai vấn đề cần đặt ra: 1) HCM và đảng CS giải phóng ai? 2) Đối tượng mà HCM và đảng CS nói rằng được CS giải phóng có thật sự được thoát gông cùm nô lệ hay ngược lại là bị đưa vào tròng nô lệ mới?


Khi cướp được chính quyền và ra mắt chính phủ tại Hà Nội ngày 2-9-1945, HCM đưa ra các lời thề quyết liệt chống Pháp nếu Pháp trở lại Việt Nam, nhưng khi Pháp tái chiếm Nam Kỳ, tiến ra Trung Kỳ, rồi đe dọa Bắc Kỳ, thì HCM sợ bị Pháp lật đổ, nên bỏ qua lời thề ng ày 2-9, ký với Pháp hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 tại Hà Nội, thừa nhận việc Pháp đem quân vào Việt Nam.  Để chắc chắn hơn, HCM qua Pháp ký Tam ước (Modus Vivendi) ngày 14-9-1946 tại Paris, để cho Pháp tái lập các hoạt động của Pháp trên toàn cõi Việt Nam. Như thế có nghĩa là HCM không chống Pháp, mà thỏa hiệp với Pháp để duy trì quyền lực.


Quân Pháp đến Hà Nội càng ngày càng đông, đòi kiểm soát an ninh Hà Nội.  Nếu để cho Pháp kiểm soát an ninh Hà Nội, thì sinh mạng HCM và lãnh đạo đảng CS nằm trong tay Pháp, nên HCM triệu tập hội nghị trung ương đảng CS tại Vạn Phúc (Hà Đông) trong hai ngày 18 và 19-12-1946, quyết định bất ngờ tấn công Pháp. (Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Hà Nội: Nxb. Quân Đội Nhân Dân, 2004, tt. 503-504) để có lý do chính đáng trốn khỏi Hà Nội.  


Cướp được chính quyền thì đảng CS chủ trương độc tôn quyền lực.  Khi Pháp trở lại Việt Nam thì CS thỏa hiệp với Pháp để giữ vững quyền lực, không chống Pháp.  Khi bị Pháp áp lực nặng nề và có thể bị Pháp tiêu diệt, đảng CS mới quyết định tuyên chiến với Pháp và chuyển gánh nặng chiến tranh lên vai dân tộc, vì sự sống còn của HCM và đảng CS, chứ không phải để giải phóng dân tộc.    


Hiệp định Genève ngày 20-7-1954 chia hai Việt Nam ở sông Bến Hải, ngang vĩ tuyến 17.  Bắc Việt Nam (BVN) theo chế độ CS.  Nam Việt Nam (NVN) theo chế độ Cộng Hòa.  Trước khi ký hiệp định Genève, tại hội nghị Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ ngày 3 đến 5-7-1954, Châu Ân Lai đã khuyên HCM chôn giấu võ khí và lưu cán bộ, quân đội ở lại NVN để tiếp tục cuộc chiến.  Hồ Chí Minh liền thi hành kế hoạch nầy, nghĩa là HCM và CSVN chủ ý sẽ tiếp tục tấn công NVN, còn việc HCM va BVN đưa ra hai khầu hiệu “Giải phóng miền Nam” và “Chống Mỹ cứu nước” chỉ là hai chiệu bài để my dân và phỉnh gạt dư luận thế giới mà thôi.


Năm 1954 và năm 1975, thành công xong, Hồ Chí Minh và CS đã áp đặt miền BVN (1954) và sau đó NVN (1975) dưới chế độ CS, độc tài đảng trị, toàn trị, theo chính sách kinh tế chỉ huy, làm cho dân chúng Việt Nam càng ngày càng cùng khổ.  Do đó, không thể nói HCM và đảng CS đã giải phóng đất nước, giải phóng dân tộc, mà phải nói là HCM và đảng CS đã nô lệ hóa đất nước trong gông cùm cộng sản.


4.-  CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC?


Để có lý do gây chiến, xâm lăng Nam Việt Nam sau năm 1954, HCM và CSVN cầu viện các nước CS để thực hiện chiêu bài “chống Mỹ cứu nước”.  Sau thế chiến thứ hai, Liên Xô chiếm các nước Đông Âu, Trung Cộng chiếm Tân Cương, Tây Tạng.  Ngược lại, tuy chiến thắng Đức, Nhật Bản, Nam Hàn, nhưng Hoa Kỳ không chiếm các nước nầy, mà trao trả độc lập và giúp các nước nầy phục hưng kinh tế nhanh chóng, tiến bộ vượt bậc, nghĩa là Hoa Kỳ chủ trương giúp các nước khác trên thế giới cùng phát triển với Hoa Kỳ.  Chính bản thân diện tích nước Hoa Kỳ quá rộng, dân số chưa đủ để canh tác cho hết đất của Hoa Kỳ.  Hàng năm, Hoa Kỳ còn cho nhiều người ngoại quốc nhập cư, thì Hoa Kỳ cần gì phải xâm lăng nước khác như Trung Cộng bị nạn nhân mãn mãn tính.


Hồ Chí Minh và các lãnh tụ đảng Lao Động dư biết những điều trên đầy, nhưng vì vâng lệnh Châu Ân Lai tại hội nghị Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Hoa) từ 3 đến 5-7-1954, nên HCM đưa ra chủ trương “chống Mỹ cứu nước” ngay trước khi hiệp định Genève được ký kết ngày 20-7-1954.  


Hoa Kỳ đến Nam Việt Nam vì chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ, giúp đỡ Nam Việt Nam tái thiết sau năm 1954, , nhằm chống lại sự bành trướng của CS chứHoa Kỳ không có tham vọng đất đai.  Nhờ thế, Nam Việt Nam phồn thịnh nhanh chóng hơn các nước Đông Nam Á.    Khi Hoa Kỳ thay đổi chiến lược, bắt tay với Trung Cộng, Hoa Kỳ nhanh chóng rút hết quân về nước.   


Còn HCM cầu viện Trung Cộng, rước 320,000 quân Tàu vào trấn giữ miền bắc sông Hồng, thì ngày nay Việt Nam phải gánh nỗi khổ Trung Cộng, mất đất (Hoàng Sa, Nam Quan), mất biển (10,000 Km2 Vịnh Bắc Việt), và Biển Đông bị Trung Cộng đe dọa triền miên.  Đó là kết quả kế hoạch “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc”. (Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày, Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tr. 422ct. Nguyễn Mạnh Cầm, ngoại trưởng CSVN (1991 đến 2000), tiết lộ lời của Lê Duẩn trong cuộc phỏng vấn của đài BBC ngày 24-1-2013.


KẾT LUẬN: HỒ CHÍ MINH = TỘI ĐỒ DÂN TỘC


Qua những hoạt động trên đây, thì HCM là một đảng viện CS Pháp, vâng lệnh Liên Xô và Trung Cộng, thành lập đảng CS Việt Nam, phá hoại nền văn hóa dân tộc, bành trướng chủ nghĩa CS ở Đông Nam Á, và chủ động gây ra hai cuộc chiến liên tiếp từ 1946 dến 1975.  Theo thống kê của tạp chí Polska Times (Thời Báo Ba Lan) ngày 5-3-2013, trong 24 năm cầm quyền (1945-1969), HCM đã gây ra cái chết của 1,7 triệu người dân Việt.  


Như thế, cân nhắc những hoạt động và việc làm cu thể của Hồ Chí Minh, thì Hồ Chí Minh chỉ có công với cộng sản quốc tế, với Liên Xô, với Trung Cộng.  Ngược lại Hồ Chí Minh là kẻ có tội với đất nước Việt Nam, và Hồ Chí Minh là TỘI ĐỒ số 1 của dân tộc Việt Nam từ xưa tới nay, gây nhiều tội ác nhứt trong lịch sử Việt Nam.  Không chối cãi vào đâu được.


TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, 01-09-2020)



Hệ thống luật quốc tế đang đối diện với những thách thức chưa từng có trong lịch sử cận đại. Luật quốc tế vốn đặt ra các nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực giữa các quốc gia, cấm tiến hành chiến tranh xâm lược và thiết lập hệ thống an ninh tập thể như một phần nối tiếp của các biện pháp chính trị.
Nếu ai chưa hiểu Tổng thống Donald Trump với những hành động và lời nói “khác lạ” thường xuyên vượt qua lòng tự trọng và khả năng tri thức dành cho cương vị một nguyên thủ quốc gia, nhất là một quốc gia lãnh tụ trong thế giới tự do dân chủ, thì câu hỏi là: thực sự ông muốn gì? Ông muốn trở thành đệ nhất nhân trong cả ba khát vọng: ông không chỉ muốn trở thành người giàu nhất, mà còn muốn là vị tổng thống quyền uy bậc nhất, người dám làm những điều mà các tổng thống tiền nhiệm né tránh, và là cái tên được lịch sử ghi ở hàng đầu. Ái tình và của cải chỉ là hai trong ba mục tiêu; mục tiêu còn lại là quyền lực tạo danh vọng, và cả ba đều phải đứng đầu.
Trong thế giới báo chí truyền hình, 60 Minutes là một trong số ít chương trình mang nặng lịch sử. Suốt hàng thập niên, 60 Minutes là tiêu chuẩn vàng của báo chí điều tra, nơi kim phút của trách nhiệm luôn tích… tích… không ngừng để hướng về sự thật. Suốt 58 năm qua, tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ tròn là biểu tượng dễ nhận ra nhất của một nền báo chí Hoa Kỳ. Chiếc đồng hồ bấm giờ mở đầu mỗi tập 60 Minutes – tích, tắc, tích – chưa bao giờ chỉ là hình ảnh minh họa. Theo thời gian, nó là một lời giao ước. Nó nói với khán giả rằng trong một giờ đồng hồ của tối Chủ Nhật, người Mỹ được biết sự thật. Quyền lực phải trả lời câu hỏi và chiếc đồng hồ do những người làm báo giữ nhịp sẽ không vì quyền lợi của bất kỳ ai mà dừng lại.
Cuối tuần qua, trong khi tôi đang nghe ca sĩ Thương Linh hát ở Coffee Factory, một độc giả đến hỏi: “Này, chị viết để làm gì? Bây giờ còn ai đọc những bài bình luận nhức đầu nữa không?” Tôi đã suy nghĩ về câu hỏi ấy. Không phải để thôi viết. Cũng không phải để tránh né suy luận. Nhưng đôi khi, trước một số sự kiện, chỉ cần ghi lại sự việc. Ngày nào. Ở đâu. Chuyện gì. Ai nói. Nói nguyên văn thế nào. Có lẽ anh ta có lý, có những lúc người viết nên “bớt viết”.Trong nhiều năm qua, tổng thống Donald Trump nhiều lần dùng lời lẽ miệt thị các nữ phóng viên ngay trước ống kính. Nhiệm kỳ đầu đã vậy. Sang nhiệm kỳ hai, những cảnh ấy không chỉ trở lại mà còn thô hơn, lỗ mãng hơn, và gần như thành thói quen không thể thiếu trong các buổi họp báo, phỏng vấn, hay bất cứ khi nào có máy quay phim và có phụ nữ cầm micro hay cầm bút làm việc.
Có một cách đọc về nhiệm kỳ thứ hai của Donald Trump càng lúc càng khó bác bỏ: ông biến chính chức vụ tổng thống thành phương tiện làm giàu lớn nhất đời mình, mà không phải âm mưu vụng về với tài liệu mật, chỉ bằng chính lời nói của tổng thống. Một câu dọa chiến tranh, một lời hăm dọa thuế quan, một tuyên bố ngừng bắn hay một dòng đăng mạng xã hội đều có thể làm thị trường Hoa Kỳ và thế giới chao đảo gần như tức thì. Với nhóm nhỏ biết trước thời điểm và nội dung lời nói, những con sóng ấy lại có thể tiên đoán, mà tiên đoán được thì kiếm lời hợp pháp, miễn không để lại dấu vết nối thẳng về ông. Đây không phải lời buộc tội đã được chứng minh trước tòa: chưa có bản án, cũng chưa có bằng chứng công khai về một đường dây giao dịch phối hợp. Nhưng một luận đề chỉ cần một cấu trúc động cơ rõ ràng, một chuỗi sự kiện trùng khớp, và một môi trường pháp lý cho phép hành vi ấy diễn ra mà gần như không sợ bị trừng phạt. Cả ba đều đang hiện diện.
Ngày 2/4/2026, “trái cam” Pam Bondi thật sự “rơi khỏi cành công lý.” Donald Trump sa thải nữ bộ trưởng tư pháp, trao chìa khóa Bộ Tư Pháp (DOJ) – một trong những định chế quyền lực nhất đất nước này – cho người luật sư riêng của mình. Người đàn ông từng ngồi bên cạnh Trump trong phòng xử án, chứng kiến thân chủ bị kết tội 34 tội danh hình sự mà vẫn bước ra khỏi tòa với đầu ngẩng cao, giờ đây là quan chức hành pháp cao nhất của Hoa Kỳ. Đó là Todd Blanche. Và kể từ ngày nhậm chức đến nay, ông ta đã không ngừng chứng minh rằng những người hoài nghi về ông đã nhìn đúng.
Cuộc bầu cử quốc hội Nga dự kiến diễn ra vào tháng 9/2026. Nhìn chung, các chuyên gia về nội chính Nga không kỳ vọng sẽ có thay đổi mang tính đột phá trong cơ cấu quyền lực quốc gia. Tổng thống Vladimir Putin vẫn đang nắm giữ vị trí trung tâm quyền lực tại Điện Kremlin. Thực tế cho thấy Vladimir Putin, nay đã 73 tuổi và đã cầm quyền 26 năm, đang đối mặt với sự suy giảm nhất định trong mức độ ủng hộ của công chúng. Bản thân ông từ lâu cũng hiểu rằng vấn đề người kế nhiệm là điều không thể tránh khỏi và cần được chuẩn bị.
Chuyến thăm viếng Bắc Kinh của Tổng Thống Donald Trump đã kết thúc cách đây hai tuần. Mọi sự tương đối đã lắng đọng. Đây là lúc thuận tiện để tổng kết chuyến đi lịch sử này.
Trong tiếng Việt có một dấu nhỏ xíu gọi là dấu mũ. Nó nằm trên đầu một số chữ cái, trông giống như một mái nhà tí hon. Khi chữ "o" đội dấu mũ, nó trở thành "ô". Khi chữ "công" có dấu mũ, nó là công lý. Khi mất dấu mũ, nó thành "cong", bị vẹo, bị bẻ, bị uốn cho lệch đi. Vừa qua, tại Hoa Kỳ, có một sự việc xảy ra khiến tôi nghĩ rất nhiều về dấu mũ này. Cụ thể là về việc mất nó. Câu chuyện như sau. Năm 2024, ông Donald Trump, hết nhiệm kỳ một, lúc đó chưa làm Tổng thống nhiệm kỳ hai, đệ đơn kiện Sở Thuế vụ Hoa Kỳ, đòi 10 tỷ đô la tiền bồi thường. Lý do là vì một nhân viên IRS tên Charles Littlejohn đã làm rò rỉ 15 năm tờ khai thuế của ông cho báo The New York Times và ProPublica. Nhờ vụ rò rỉ đó mà cả nước Mỹ biết rằng trong các năm 2016 và 2017, ông Trump đóng thuế liên bang vỏn vẹn 750 đô la mỗi năm. Bảy trăm năm mươi đô la. Một người làm việc tại quán McDonald's có thể đóng nhiều hơn thế.
Người Mỹ có một huyền thoại rất ưa kể về chính mình, rằng mảnh đất này từ buổi đầu lập quốc là “xứ sở của di dân”. Huyền thoại ấy khởi đi từ những con tàu cập bến New York cuối thế kỷ 19 - với những gia đình nghèo khổ bỏ Âu châu sang tìm một khởi đầu mới; với những toán thợ người Hoa sang đãi vàng, đào núi, đặt đường rầy xe lửa xuyên lục địa; với các các đợt người tị nạn châu Âu sau hai cuộc Thế chiến; với thuyền nhân Đông Dương sau 1975; rồi đến những đoàn người Trung Mỹ lầm lũi băng sa mạc mang theo con nhỏ. Ở mỗi khúc quanh, di dân vừa là nạn nhân của chiến tranh, độc tài, nghèo đói, vừa là lực lượng xây nên những con đường, nhà máy, khu phố, trường đại học của Hợp Chủng Quốc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.