Hôm nay,  

Tự Do Nhé Chuột Ơi!

13/06/202117:06:00(Xem: 5157)


Tôi tin vào những điều không thể. Tưởng tượng bạn đang rất căm ghét một con người hay một con vật nào đó. Rồi bỗng dưng một ngày bạn thấy họ là chính mình. Bạn có cảm giác mình biết về họ rõ như biết về những đường chỉ trên bàn tay của mình. Thậm chí, bạn cảm được cái khát khao và thương nó như thương nỗi khát khao của mình ngày nào - đó là cái tình cảm lạ lùng mà tôi dành cho con chuột của con trai tôi.


Nó là con chuột nhỏ xíu, nhưng nó cho tôi nhiều xúc cảm chỉ trong vòng bốn tuần sống chung với nó. Thật ra, buổi đầu gặp nó tôi đã sợ chết khiếp! Nó nhắc tôi về những kỷ niệm xa xưa, những ngày còn làm việc ở một cửa hàng bách hoá ở Sài Gòn. Ngày ấy, chúng tôi vừa trải qua những ngày đói kém của năm 1977. Tội nghiệp giấc mơ hoà bình no ấm của người dân nước tôi! Sau chiến thắng là bắt đầu … “đói”. 


Mà cứ hễ đói, cứ hễ nghèo là gần gũi với chuột, là phải sống chung với chuột. Khi ấy, đang làm việc tại một cửa hàng ở Chợ Bến Thành. Bữa ăn trưa nào của chúng tôi cũng bị chuột làm phiền. Bởi khi người đói thì chuột cũng đói. Nhưng khi chuột đói, nó táo tợn, nó chẳng sợ ai, nó chẳng coi con người ra cái thể thống gì. Nó núp đâu đó dưới gầm những tủ kính, chỉ chờ cơ hội là nó vụt chạy ra, chớp nhanh lấy miếng bún hoặc cơm ngay lúc chúng tôi đang ngồi ăn với nhau trên sàn.


Cô bạn làm chung là con nhà cán bộ nhưng lại yêu thơ Phùng Quán. Cứ mỗi lần như thế, sau những tiếng la rú thất thanh vì sợ hãi của chúng tôi, cô lại đọc câu thơ của Phùng Quán “những con chuột mặc áo quần bộ đội / đục cơm khoé áo chúng ta”. Ngẫm lại, tôi thấy tuy ngày ấy Phùng Quán ta thán là thế, nhưng đa số người VN vẫn muốn ôm ấp, vun vén cho mảnh đất nghèo khó này. Nay, mọi chuyện đã khác, lòng người cũng đã đổi thay. Mấy cái vụ “đục cơm khoét áo” xưa rồi. Ngày nay, người ta còn thẳng tay cướp đất, đục khoét cả tài nguyên đất nước rồi thản nhiên ôm của cải ra đi. Mặc cho lũ lụt, mặc cho xác dân trôi, mặc cho đất nước tan hoang, người ta có thể bỏ ra hàng triệu đô để mua quốc tịch ở đảo Sip, một đảo quốc xa xôi tận bên trời Âu! 


Trở lại cái nhân duyên tôi gặp con chuột. Một hôm con trai tôi nảy ra ý định muốn nuôi một cặp chuột làm thú cưng. Cháu đang sống ở một nhà tập thể nên điều này là không thể và biết rõ luật ở đó cấm thế là cháu đành nuôi lén. Mọi chuyện vỡ lỡ khi một con chuột thoát ra ngoài. Nó bị vây bắt và bị giết chết. Đau lòng quá, con trai tôi nhất quyết bảo vệ con chuột còn lại. Và dĩ nhiên cháu và con chuột phải ra khỏi nhà. Suốt hai đêm cháu ở ngoài vườn sau của khu nhà tập thể, và phải thức trắng để canh gác cho sự an toàn của con chuột còn lại.


Khi tôi được gọi tới, cháu đã mệt mỏi lắm rồi, khẩn khoản xin mẹ đem con chuột về nhà để được ngủ. Không đành lòng, tôi nhận lời. Nhưng đến khi tôi trông thấy nó, đến khi con chuột ló đầu ra từ cái hộp giấy thì… không kiềm chế kịp, tôi kêu thét lên vì sợ hãi. Trời ơi! Nó không phải là con chuột bạch như tôi nghĩ, nó chính là cái giống chuột tôi vô cùng ghê sợ. Cái giống chuột vẫn ám ảnh tôi về những ngày vô định - những ngày của đói, lạnh và sợ hãi. Ngày ấy, nhiều gia đình trong xóm tôi bị lùa đi kinh tế mới đã lục đục trở về. Họ dựng lại chỗ ở trên cái nền nhà cũ đã bị phá tan hoang. Họ lợp tranh hay treo những tấm poncho cũ để che mưa chắn gió. Ở những ngôi nhà “ổ chuột” ấy, chuột nhiều vô kể. Tôi còn nhớ những ngày mù mưa, cơn đói, những hạt cơm, tiếng chuột rúc và bóng những con chuột chạy qua chạy lại trên cái nền nhà dựng tạm - đó là Sài Gòn trong ký ức tôi những ngày sau giải phóng:


Em theo mẹ về kết tranh lợp mái

Những ổ chuột những mặt người xanh tái

Những con chuột to sống lẫn với người

Ăn ngủ trên một nền nhà

Rúc buồn những ngày mưa gió

Em sống mà vẫn âu lo hoài chuyện đó

Cơm, gạo, bánh mì, bột bắp, bo bo, …

(Những ngày mưa – Hương Giang)


Thầm trách con, nhưng tôi vẫn đón lấy mảnh giấy ghi rõ cách chăm sóc con chuột từ tay cháu. Suốt hai ngày đầu tôi không dám nhìn đến nó. Đến ngày thứ ba, phải bỏ thức ăn cho nó tôi mới theo lời cháu, gọi nó bằng giọng nói khe khẽ, nhẹ nhàng. Thật lạ lùng, khi đã nghe quen giọng, mỗi lần tôi gọi, nó đều chạy đến. Chưa hết ghê sợ, bàn tay tôi vẫn để cách xa chiếc lồng một quãng ngắn. Tuy thế, tôi vẫn cảm nhận rằng nó tha thiết muốn để cái mỏ nhỏ xíu của nó lên những ngón tay tôi. 


Cứ ba ngày, tôi lại dọn dẹp làm sạch chuồng cho nó. Lần nào cũng vậy, hễ thấy hộp thức ăn mới là nó lại cắn giấy báo tôi lót đáy chuồng, rồi phủ che lên trên thức ăn như sợ kẻ khác chia miếng ăn của nó; hễ thấy chuồng sạch là nó lại chạy vòng quanh, phóng uế khắp nơi như để xác định quyền làm chủ giang sơn của nó; sau cùng, nó loay hoay tha rơm phủ đầy lên chỗ ngủ của nó trước khi biến mất dưới đống rơm ấy. Trông nó lập đi lập lại mọi việc một cách thảnh thơi, vui tươi và an phận làm sao! Cho đến một ngày tôi lơ đãng để nó xổng chuồng.


Suốt một tuần, tôi không biết nó ở đâu? Nó có đói không? Có khát không? Tôi để đồ ăn và nước uống ở một vài góc khuất nhưng vẫn không nhìn thấy tăm hơi của nó. Rồi tôi quyết định mua những cái “bẫy an toàn” – loại bẫy dùng để bắt giữ nhưng không giết chết - để ở mỗi góc nhà hầu mong dụ dỗ được nó. Mãi cho đến tuần thứ hai tôi mới tìm thấy nó trong phòng ngủ của mình vào lúc 3 giờ sáng. Nó vẫn thế, nhưng mạnh mẽ và linh hoạt hơn nhiều. Tôi ngẩn ngơ nhìn nó vượt qua những chiếc bẫy một cách tài tình. Bắt được nó là cả một công trình, nhưng những gì xảy ra sau đó mới làm tôi mất ngủ.


Khi bỏ nó lại vào chuồng, tôi mới nhận thấy nó không còn là con chuột cũ. Vẫn chiếc chuồng ấy, nhưng nó chẳng còn màng đến giang sơn, đồ ăn hay thức uống của nó nữa. Nó khác hoàn toàn. Suốt từ nửa đêm cho đến sáng, nó không ngừng vùng vẫy để tìm cách thoát thân. Tôi nằm nghe tiếng quẫy đạp dữ dội không ngừng của nó mà thương cảm. Sao nó giống chúng ta thế! Nó cũng khao khát được vượt thoát. Nó làm tôi nhớ đến biến cố sụp đổ của hàng loạt các quốc gia theo chủ nghĩa xã hội ở Đông âu. Trước ngày 9/11/1989 không ai nghĩ rằng bức tường Bá Linh sẽ đổ. Ngay trong cái đêm đầy biến động đó, vượt qua cánh cửa vừa được mở, không phải hàng ngàn mà là hàng chục ngàn người đã tuần hành, đã đi bộ giữa mưa phùn tiến về Tây Bá Linh. Đó là những giòng sông người cuồn cuộn chảy về với tự do.


Con chuột của tôi đã vô tình nếm được mùi vị của tự do. Nó không còn yên tâm, an phận với nồi cơm, với tổ ấm của nó nữa, và con chuột nhỏ xíu mà khôn ngoan ấy đã không dễ gì mắc bẫy. Chúng ta cũng ngỡ mình như thế. Vậy mà, có những cái bẫy chết người, ta vẫn cứ lao đầu vào! 


Từ lúc ấy cho tới sáng, tôi không chợp mắt được vì thương cái vật vã của con chuột trong lồng. Tôi chạnh nghĩ đến nỗi trăn trở của Robert Burns (nhà thơ lớn của dân tộc Tô Cách Lan) khi ông vô tình phá vỡ một ổ chuột trong lúc đang cày ruộng. Nhìn lũ chuột xôn xao chạy trốn, Burns thương cảm cho thân phận và thương cho căn nhà chung của chúng. Ông viết: “Ngôi nhà nhỏ của bạn cũng đang đổ nát! / Những bức tường yếu ớt của nó, gió đang tán loạn!”. 


Tuy hoàn cảnh lũ chuột của Burns khác xa con chuột của tôi, nhưng hai câu thơ của ông thì lại gần gũi với chúng ta đến ngậm ngùi. Người VN cũng đang chạy tán loạn ra khỏi ngôi nhà đổ nát của mình và họ ra đi bất chấp hiểm nguy, bất kể mạng sống. Hình ảnh chiếc xuồng cao su gặp nạn ngoài khơi vùng tây Flanders trên trang nhà của toà Đại Sứ Bỉ lại ám ảnh tôi. Nếu không nhờ tuần duyên Bỉ giải cứu, có lẽ chúng ta lại thấy xác người Việt trôi nơi eo biển, trên con đường nhập lậu vào nước Anh. 


Khao khát tự do, khao khát sống, khao khát thể hiện chính mình là điều con người luôn luôn hướng tới. Tôi yêu cái cách người mẹ đơn thân, Đinh thị Thu Thuỷ giải thích trước toà về những phản biện của chị đối với các chính sách của nhà nước. Nó thật đơn giản nhưng mạnh mẽ :“tôi làm điều đó vì tôi yêu con mình” Bạn có yêu chính cuộc đời mình và các con mình không? Tôi tin người phụ nữ đó đang hành động cho mình, cho con trai mình và cho tự do.

Ngày nào quê hương không phải là nơi an toàn để sống, ngày nào người dân VN còn thờ ơ, ngày nào chúng ta không quan tâm, chúng ta chưa góp tay vào những thay đổi cần thiết cho xã hội -  ngày ấy, những người trẻ sẽ còn tiếp tục ra đi. Tôi nghĩ về cái chết thương tâm của 39 người trẻ trên chiếc xe tải đông lạnh; tôi nghĩ đến đoạn đường bầm dập của cướp bóc, bạo hành, cưỡng hiếp và một tương lai vô định của họ nơi những vườn trồng cần sa. Những câu thơ của Robert Burns dành cho con chuột của ông chợt kéo về ray rứt. Nó ray rứt, nhức nhối  như hình ảnh đơn độc của chiếc xuồng cao su, như giấc mơ mong manh vụt tắt khi chiếc xe tải dừng lại ở cổng thiên đường.


Nhưng chuột nhỏ ơi, mày không đơn độc,  

Khi cho thấy lo xa có thể hão huyền

Bởi những toan tính hoàn hảo của chuột và người

Thường không đi đúng kế hoạch

và chúng ta không còn gì ngoài sầu muộn đớn đau

cho một niềm vui từng hứa hẹn …

(To A Mouse – Robert Burns)


Tôi yêu quí ”tự do” của chính mình và không dám bóp nát “tự do” của con chuột bé nhỏ ấy. Sợ bàn tay mình rướm máu vì Tự Do mãi mãi là đóa hồng đầy gai nhọn.


Trời sáng hẳn, tôi chuẩn bị một ít đồ ăn và nước uống rồi ôm cái lồng con chuột theo mình đến một công viên. Tôi cẩn thận tìm một gốc dừa an toàn nhất, nơi những tán lá dưới gốc đã khô cứng tạo thành một chỗ trú ẩn lý tưởng cho nó. Tôi đặt một ít thức ăn vào đó rồi mở cửa chuồng. Ngần ngừ một thoáng rồi con chuột của tôi cũng nhẹ nhàng leo ra. Chờ một lúc, tôi gọi nó khe khẽ. Nó ló đầu ra khỏi tán lá dừa nhìn tôi, rồi lại thụt đầu vào. Tôi nghĩ đến khuôn mặt son trẻ của Trà Mi, của Nhung, của Hà, của Lượng, ... Tôi đã thương quý con chuột ấy lúc nào không biết, nhưng tôi tôn trọng chọn lựa của nó. Tôi nói thầm với nó lần cuối như một lời chia tay:


  • Tự do nhé chuột ơi!


Nguyệt Quỳnh

Hệ thống luật quốc tế đang đối diện với những thách thức chưa từng có trong lịch sử cận đại. Luật quốc tế vốn đặt ra các nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực giữa các quốc gia, cấm tiến hành chiến tranh xâm lược và thiết lập hệ thống an ninh tập thể như một phần nối tiếp của các biện pháp chính trị.
Nếu ai chưa hiểu Tổng thống Donald Trump với những hành động và lời nói “khác lạ” thường xuyên vượt qua lòng tự trọng và khả năng tri thức dành cho cương vị một nguyên thủ quốc gia, nhất là một quốc gia lãnh tụ trong thế giới tự do dân chủ, thì câu hỏi là: thực sự ông muốn gì? Ông muốn trở thành đệ nhất nhân trong cả ba khát vọng: ông không chỉ muốn trở thành người giàu nhất, mà còn muốn là vị tổng thống quyền uy bậc nhất, người dám làm những điều mà các tổng thống tiền nhiệm né tránh, và là cái tên được lịch sử ghi ở hàng đầu. Ái tình và của cải chỉ là hai trong ba mục tiêu; mục tiêu còn lại là quyền lực tạo danh vọng, và cả ba đều phải đứng đầu.
Trong thế giới báo chí truyền hình, 60 Minutes là một trong số ít chương trình mang nặng lịch sử. Suốt hàng thập niên, 60 Minutes là tiêu chuẩn vàng của báo chí điều tra, nơi kim phút của trách nhiệm luôn tích… tích… không ngừng để hướng về sự thật. Suốt 58 năm qua, tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ tròn là biểu tượng dễ nhận ra nhất của một nền báo chí Hoa Kỳ. Chiếc đồng hồ bấm giờ mở đầu mỗi tập 60 Minutes – tích, tắc, tích – chưa bao giờ chỉ là hình ảnh minh họa. Theo thời gian, nó là một lời giao ước. Nó nói với khán giả rằng trong một giờ đồng hồ của tối Chủ Nhật, người Mỹ được biết sự thật. Quyền lực phải trả lời câu hỏi và chiếc đồng hồ do những người làm báo giữ nhịp sẽ không vì quyền lợi của bất kỳ ai mà dừng lại.
Cuối tuần qua, trong khi tôi đang nghe ca sĩ Thương Linh hát ở Coffee Factory, một độc giả đến hỏi: “Này, chị viết để làm gì? Bây giờ còn ai đọc những bài bình luận nhức đầu nữa không?” Tôi đã suy nghĩ về câu hỏi ấy. Không phải để thôi viết. Cũng không phải để tránh né suy luận. Nhưng đôi khi, trước một số sự kiện, chỉ cần ghi lại sự việc. Ngày nào. Ở đâu. Chuyện gì. Ai nói. Nói nguyên văn thế nào. Có lẽ anh ta có lý, có những lúc người viết nên “bớt viết”.Trong nhiều năm qua, tổng thống Donald Trump nhiều lần dùng lời lẽ miệt thị các nữ phóng viên ngay trước ống kính. Nhiệm kỳ đầu đã vậy. Sang nhiệm kỳ hai, những cảnh ấy không chỉ trở lại mà còn thô hơn, lỗ mãng hơn, và gần như thành thói quen không thể thiếu trong các buổi họp báo, phỏng vấn, hay bất cứ khi nào có máy quay phim và có phụ nữ cầm micro hay cầm bút làm việc.
Có một cách đọc về nhiệm kỳ thứ hai của Donald Trump càng lúc càng khó bác bỏ: ông biến chính chức vụ tổng thống thành phương tiện làm giàu lớn nhất đời mình, mà không phải âm mưu vụng về với tài liệu mật, chỉ bằng chính lời nói của tổng thống. Một câu dọa chiến tranh, một lời hăm dọa thuế quan, một tuyên bố ngừng bắn hay một dòng đăng mạng xã hội đều có thể làm thị trường Hoa Kỳ và thế giới chao đảo gần như tức thì. Với nhóm nhỏ biết trước thời điểm và nội dung lời nói, những con sóng ấy lại có thể tiên đoán, mà tiên đoán được thì kiếm lời hợp pháp, miễn không để lại dấu vết nối thẳng về ông. Đây không phải lời buộc tội đã được chứng minh trước tòa: chưa có bản án, cũng chưa có bằng chứng công khai về một đường dây giao dịch phối hợp. Nhưng một luận đề chỉ cần một cấu trúc động cơ rõ ràng, một chuỗi sự kiện trùng khớp, và một môi trường pháp lý cho phép hành vi ấy diễn ra mà gần như không sợ bị trừng phạt. Cả ba đều đang hiện diện.
Ngày 2/4/2026, “trái cam” Pam Bondi thật sự “rơi khỏi cành công lý.” Donald Trump sa thải nữ bộ trưởng tư pháp, trao chìa khóa Bộ Tư Pháp (DOJ) – một trong những định chế quyền lực nhất đất nước này – cho người luật sư riêng của mình. Người đàn ông từng ngồi bên cạnh Trump trong phòng xử án, chứng kiến thân chủ bị kết tội 34 tội danh hình sự mà vẫn bước ra khỏi tòa với đầu ngẩng cao, giờ đây là quan chức hành pháp cao nhất của Hoa Kỳ. Đó là Todd Blanche. Và kể từ ngày nhậm chức đến nay, ông ta đã không ngừng chứng minh rằng những người hoài nghi về ông đã nhìn đúng.
Cuộc bầu cử quốc hội Nga dự kiến diễn ra vào tháng 9/2026. Nhìn chung, các chuyên gia về nội chính Nga không kỳ vọng sẽ có thay đổi mang tính đột phá trong cơ cấu quyền lực quốc gia. Tổng thống Vladimir Putin vẫn đang nắm giữ vị trí trung tâm quyền lực tại Điện Kremlin. Thực tế cho thấy Vladimir Putin, nay đã 73 tuổi và đã cầm quyền 26 năm, đang đối mặt với sự suy giảm nhất định trong mức độ ủng hộ của công chúng. Bản thân ông từ lâu cũng hiểu rằng vấn đề người kế nhiệm là điều không thể tránh khỏi và cần được chuẩn bị.
Chuyến thăm viếng Bắc Kinh của Tổng Thống Donald Trump đã kết thúc cách đây hai tuần. Mọi sự tương đối đã lắng đọng. Đây là lúc thuận tiện để tổng kết chuyến đi lịch sử này.
Trong tiếng Việt có một dấu nhỏ xíu gọi là dấu mũ. Nó nằm trên đầu một số chữ cái, trông giống như một mái nhà tí hon. Khi chữ "o" đội dấu mũ, nó trở thành "ô". Khi chữ "công" có dấu mũ, nó là công lý. Khi mất dấu mũ, nó thành "cong", bị vẹo, bị bẻ, bị uốn cho lệch đi. Vừa qua, tại Hoa Kỳ, có một sự việc xảy ra khiến tôi nghĩ rất nhiều về dấu mũ này. Cụ thể là về việc mất nó. Câu chuyện như sau. Năm 2024, ông Donald Trump, hết nhiệm kỳ một, lúc đó chưa làm Tổng thống nhiệm kỳ hai, đệ đơn kiện Sở Thuế vụ Hoa Kỳ, đòi 10 tỷ đô la tiền bồi thường. Lý do là vì một nhân viên IRS tên Charles Littlejohn đã làm rò rỉ 15 năm tờ khai thuế của ông cho báo The New York Times và ProPublica. Nhờ vụ rò rỉ đó mà cả nước Mỹ biết rằng trong các năm 2016 và 2017, ông Trump đóng thuế liên bang vỏn vẹn 750 đô la mỗi năm. Bảy trăm năm mươi đô la. Một người làm việc tại quán McDonald's có thể đóng nhiều hơn thế.
Người Mỹ có một huyền thoại rất ưa kể về chính mình, rằng mảnh đất này từ buổi đầu lập quốc là “xứ sở của di dân”. Huyền thoại ấy khởi đi từ những con tàu cập bến New York cuối thế kỷ 19 - với những gia đình nghèo khổ bỏ Âu châu sang tìm một khởi đầu mới; với những toán thợ người Hoa sang đãi vàng, đào núi, đặt đường rầy xe lửa xuyên lục địa; với các các đợt người tị nạn châu Âu sau hai cuộc Thế chiến; với thuyền nhân Đông Dương sau 1975; rồi đến những đoàn người Trung Mỹ lầm lũi băng sa mạc mang theo con nhỏ. Ở mỗi khúc quanh, di dân vừa là nạn nhân của chiến tranh, độc tài, nghèo đói, vừa là lực lượng xây nên những con đường, nhà máy, khu phố, trường đại học của Hợp Chủng Quốc.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.