Hôm nay,  

Chủ nghĩa Poutine/ Putin!

30/04/202220:44:00(Xem: 6596)

Bình luận chính trị

putin

 

Muốn thiết lập một «chủ nghĩa» trong tiếng đa âm như tiếng Pháp thì rất đơn giản. Chỉ thêm tiếp vĩ ngữ «isme» sau một chữ hay tên một người thì có ngay thứ chủ nghĩa mà mình muốn. Thí dụ Pháp hiện nay có ông Tổng thống tên là Macron và được cai trị theo đường lối của ông. Cái đường lối chánh trị này được gọi là « chủ nghĩa macron » -- « macronisme ». Còn phe cánh cầm quyền hay dựa hơi Macron mà là ăn là «macronie».

 

Đây là cách nói của người Pháp và báo chí Pháp. Họ nói Staline và stalinisme, Mao và maoisme… Nhưng chưa bao giờ thấy họ nói «hochimin(h)isme» tuy họ vẫn nói Hochiminh. Phải chăng họ biết quá rỏ là ở Hồ Chí Minh không hề có một tư tưởng nào hay một đường lối cai trị nào là của chính Hồ Chí Minh, mà Hồ Chí Minh chỉ biết rặp khuôn làm theo chỉ thị của Mao và Staline mà thôi. Cỏ May tôi dài dòng để nói về Poutine và chủ nghĩa poutine, thứ đặc sản của ông ta, là «poutinisme».

 

Thử tìm hiểu «chủ nghĩa poutine» hay «poutinisme». Phải chăng đó là một thứ chủ nghĩa độc tài được kín đáo che giấu dưới những dàn dựng dân chủ, như có bầu cử qua phổ thông đầu phiếu, có Quốc hội làm luật, có tòa án, có vài tờ báo tự do buổi đầu, v.v… nhưng tiếp nối dòng lịch sử Nga, hoặc « chủ nghĩa poutine » không gì khác hơn là một hệ thống những nhà tài phiệt và những người thấm nhuần ảnh hưởng của KGB trong cách suy nghĩ và hành động. Chế độ chỉ tồn tại nhờ dựa vào một người mạnh.

 

Nhưng nói đơn giản, dễ hiểu, thì «tư tưởng poutine» và «chế độ poutine» chỉ là một thứ nhà nước ăn cắp. Họ dựa vào chánh quyền mà ăn cắp tài sản của đất nước mà làm giàu. Như những chương trình giải tư, khai thác tài nguyên… Và chủ nghĩa poutine xuất hiện sau khi Poutine lên cầm quyền.

 

Poutine là ai?

 

Tới nay đã hơn hai mươi năm mà ở Nga vẫn còn nhiều người chưa biết Poutine là ai, từ đâu tới? Cuối tháng giêng 2000, tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, một phái đoàn Nga do Mikhail Kassianov, Thủ tướng tương lai, hướng dẫn tham dự một chương trình hội thảo về tương lai xứ sở Nga. Sau những bài diễn văn chánh thức, ký giả được mời đặt câu hỏi. Một

bà ký giả báo Huê Kỳ xin được đặt một câu hỏi. Và câu hỏi của bà rất đơn giảm: « Ông Poutine là ai?  Chúng tôi hoàn toàn không biết gì về ông ấy. Xin ông vui lòng cho chúng tôi biết ít nhiều về ông ấy ».

 

Ông Mikhail Kassianov, Trưởng phái đoàn Nga không trả lời, xoay qua những người trong phái đoàn. Nhưng không có ai trả lời được. Một sự im lặng nặng nề. Người điều hành Diễn đàn lặp lại câu hỏi. Vẫn không một tiếng thốt lên. Cả phòng im thin thít, bỗng mọi người cùng bật cười. Câu hỏi của bà ký giả Huê Kỳ vẫn không có câu trả lời. Cũng từ đầu năm 2000, người Nga cũng không ai biết Poutine là ai. Nhưng họ lại không đặt câu hỏi như bà ký giả Huê Kỳ kia.

 

Theo dân chúng Nga thì tên thanh niên vừa lên cầm quyền chỉ là một thứ hình nộm của bộ máy cầm quyền gồm những tay tài phiệt và những người của gia đình Boris Eltsine. Tên nài của họ đóng vai trò Quốc trưởng cho tới khi họ có người thay thế. Nhưng chỉ ít lâu sau đó, ngày 26/03/2000, Vladimir Poutine đắc cử Tổng thống Liên bang Nga. Và ông Tổng thống Poutine cai trị Liên bang Nga theo «chủ nghĩa poutine » hay «poutinisme», (theo tiếng Pháp) cho tới ngày nay.

 

« Chủ nghĩa poutine » hay « chế độ poutine »

 

Khi đề cập tới «chủ nghĩa poutine» hay «chế độ poutine», ký giả Patrick Meney dùng tiếng « cleptocratie» để gọi. Định danh chế độ. Từ «cleptocratie» có nguồn gốc ở tiếng Hi Lạp, ghép lại bởi « cleptos » có nghĩa là « ăn cắp » và « kratos » có nghĩa là « quyền lực ». Vậy từ « cleptocratie » có nghĩa rỏ ràng là « chánh phủ của những người ăn cắp ». Ký giả Parick Meney nói rõ thêm về tiếng « cleptocratie ». Đó là chánh quyền Nga, sau khi chế độ cộng sản sụp đổ, giải tư các xí nghiệp nhà nước, và giai đoạn Boris Eltsine cầm quyền. Từ « cleptocratie » cũng bị biến chất khi nó được dùng để nói tới nạn tham nhũng phổ quát của chánh phủ.

 

Ông Karen Dawisha năm 2014 có viết một quyển sách nói về chế độ ăn cắp của Poutine ở Nga, nhan đề là « Chánh phủ của những người ăn cắp của Poutine ». Ông thuật lại nhờ đâu Poutine lên cầm quyền được, nhơn lúc ông ở Saint-Petersbourg trong những năm 1990. Ông cũng viết lại làm thế nào mà những người bạn thời học làm KGB của Poutine lại thủ đắc được những khối tài sản kếch xù và họ chia nhau nắm quyền. Mặc dầu lúc đó Poutine cam kết khi được bầu làm ông Tổng thống thì ông sẽ dẹp hết phe cánh tài phiệt xuất hiện vào những năm 1990.

 

Nhưng thực tế, Poutine đã xây dựng một thế lực cầm quyền gồm những người bạn thời KGB của ông và những người này có lối chừng hơn một trăm người đã chia nhau hết 35% tài sản quốc gia. Nay phần mỗi người bỏ túi đã vọt lên hằng chục, hàng trăm tỷ đô-la. Và ngày nay, những nhà tài phiệt này, dĩ nhiên đông hơn, đang nắm giữ số tài sản của họ bằng lợi tức nước Nga.

 

Thường những người này khi hốt được tiền, họ lo tìm cách bạch hóa ngay, để giấu đi nguồn gốc của tài sản có được, số lượng là bao nhiêu, nhờ những tài khoản ngân hàng ở các nơi không bị thuế (thiên đường khỏi thuế -- paradis fiscal).

 

Cũng nói về chế độ « cleptocratie », hay chế độ Poutine, học giả Jared Diamond lại cho một định nghĩa khác hơn. Nó đúng ra là một hệ thống chánh trị xuất hiện nhờ ở một nhóm người ưu tú cướp được chánh quyền mà không cần ở dân chúng. Một khi nắm được chánh quyền thì họ có thể làm bất cứ điều gì họ muốn.

 

Riêng ở Nga, từ « cleptocratie » thường được dùng để chỉ những nguồn lợi rút tỉa từ tài nguyên. Đặc biệt là dầu hỏa, khí đốt. Và cả khi đề cập đến các cách kinh tài ở những xứ thuộc Liên-Xô cũ.

 

Chủ nghĩa Poutine hay giấc mơ Poutine

 

Lúc sau này, Poutine tăng cường củng cố hệ thống đàn áp, nhờ đó mà sự tuyên truyền của ông ta có hiệu quả trong dân chúng Nga vì dân chúng vẫn tin là Nga thật sự có « sứ mạng đặc biệt ». Poutine đánh chiếm Ukraine là thi hành sứ mạng đặc biệt. Là thánh chiến, theo Giáo chủ Kiril ở nhà thờ Chúa Cúu Thế ở Moscou.  Poutine đánh Ukraine hoàn toàn không vì NATO / OTAN bành trướng qua sát biên giới Nga (*), như nhiều người bình luận, mà vì Nga có một « sứ mạng đặc biệt » đối với thế giới. Và « Nga mới là nước đại diện cho nền văn minh thế giới ».

Về bản chất của con người Poutine, theo sử gia Stephen Kotkin ở Đại học Stanford, thì Poutine chịu ảnh hưởng của một nhóm nhỏ những người độc tài sát nhơn bên cạnh Hitler và Mao trước kia như Staline. Ông ta ước ao sau này, khi chết sẽ có được một chỗ trong Văn miếu Nga (như Panthéon của Pháp), nằm bên cạnh Staline, hay Alexandre 1er và Pierre le Grand vì Pierre le Grand đánh bại vua Charles XII và Thụy Điển, đem lại cho Nga đường vào biển Baltique và làm cho Nga trở thành trọng tài của những vấn đề Âu châu. Còn Alexandre 1er đánh thắng Napoléon và chiếm Paris. Staline thắng Đức Quốc xã và chiếm Berlin.

Nhưng thực tế thì Poutine đánh chiếm Ukraine mà thất bại. Chỉ được thành tích giết hại thường dân, đàn bà, trẻ con, phá hủy những di tích văn hóa và tôn giáo của Ukraine, bị thế giới buộc tội: tội ác chiến tranh, tội diệt chủng, tội chống nhơn loại. Có thể sẽ bị đưa ra Tòa án Hình sự Quốc tế.

 

Thật rất tiếc, Nga vẫn là một nước có một nền văn hóa lớn, phi thường, là một phần không thể tách rời khỏi nền văn hóa thế giới. Như vũ ballet, opéra, văn học, khoa học… Thế mà trong lúc đó, Nga lại có một thứ chánh quyền luôn luôn gây hận thù, đau khổ cho thế giới và cả cho dân Nga, từ thời Nga hoàng cho tới thời cộng sản, và ngày nay là Poutine. Phải chăng vì nhiều người Nga vẫn hằng tin mình là một « cường quốc bảo hộ và văn minh » với một « sứ mạng đặc biệt » cho thế giới. Nhưng tầm vóc lại quá hạn chế.

 

Poutine có phải là ông Tổng thống hay không?

 

Không. Nhà đối kháng Alexey Minyaylo quả quyết Poutine không phải là ông Tổng thống mà chỉ là một tên lừa gạt. Như Poutine vẫn tuyên bố là toàn dân Nga đều ủng hộ việc ông đưa quân đánh Ukraine. Nhưng theo ông Alexey Minoyaylo, được dân ủng hộ mà tại sao Poutine lại cứ thay đổi chỗ ở luôn?  Ông ta ở một nơi mà chỉ có ông biết địa chỉ, tự giới hạn những hoạt động và những xuất hiện công cộng. Ông còn tăng cường sự canh phòng an ninh, cả trên hệ thống thông tin.

 

Để phản tuyên truyền, Alexey Minyaylo tổ chức cuộc thăm dò nghiêm chỉnh, nhờ sự giúp đỡ của một nhóm những nhà xã hội học, kết quả phổ biến cho dân chúng biết sự thật. Cũng về chuyện này, cả nhà tài phiệt Oleg Tinkov xác nhận hôm 19/4/2022 dân chúng Nga có tới 90% không ủng hộ Poutine đánh chiếm Ukraine mà còn cho đó là thứ « chiến tranh điên rồ». Theo kết quả những cuộc thăm dò độc lập, dân chúng thấy đánh chiếm Ukraine là một thứ tội lỗi. Họ lo âu và sợ hãi.

 

Từ đầu tháng ba, nhà cầm quyền cấm dân chúng nói « chiến tranh » hay « xăm lăng » mà phải nói đó là cuộc « chiến dịch quân sự đặc biệt ». Nhưng trên mạng thông tin, người ta vẫn nói chiến tranh với Ukraine, Poutine đánh Ukraine. Tuy nhiên những người Nga lớn tuổi lại có khuynh hướng ủng hộ Poutine chỉ vì Poutine là lãnh tụ nên họ ủng hộ. Lớp người này được giáo dục bởi bộ máy tuyên truyền thời cộng sản, lúc mà truyền thông chỉ có cái TV nên dân chúng chỉ được biết điều gì do chánh phủ muốn. Dân chúng nằm lòng câu « Đừng khác hơn », hãy giữ « giống y như mọi người ». Luôn luôn theo tập thể.

 

Poutine chẳng những chịu ảnh hưởng của Staline mà còn coi Staline là thần tượng, khi chết mong được nằm bên cạnh Staline. Năm 1953, sau khi Staline chết, có 4% dân chúng Nga bị Staline bỏ tù. Ngày nay, dưới sự cai trị của Poutine dân Nga có bao nhiêu người bị tù, bao nhiêu người bị sát hại vì chống đối?

 

Bao giờ chiến tranh Ukraine kết thúc?


Theo nhà đối kháng Alexey Minyaylo thì không phải trong vài tháng, trong nửa năm, mà chỉ hết chiến tranh khi không còn Poutine. Nhưng có vài nhà báo Nga lại có nhận xét khác hơn. Theo họ, lúc đầu dân chúng Nga, phần lớn đều chống chiến tranh ở Ukraine do Poutine gây ra nhưng tới khi Huê Kỳ và Âu châu áp dụng những biện pháp trừng phạt Poutine về kinh tế làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống dân chúng thì họ thấy Poutine có lý khi chống Tây phương nên họ đoàn kết lại và ủng hộ Poutine.

 

Nhưng thử nghĩ trong tình hình này, việc chiến thắng ở Ukraine còn nhiều khó khăn, liệu Poutine có thể nắm chánh quyền trong bao lâu nữa? Trong lịch sử Nga, Nga Hoàng Đệ I bị sĩ quan của mình ám sát. Còn Krouchtchev bị loại khỏi bộ máy cầm quyền. Chỉ có Staline cầm quyền lâu hơn hết. Ông vẫn là khuôn mặt thống trị nước Nga. Poutine là người phản bội tất cả những ai đã ủng hộ ông ta từ lúc ban đầu. Vừa rồi, đã có 4 nhà tài phiệt lớn về dầu hỏa và khí đốt, từng sát cánh với Poutine (các ông Leonid Schulman, Sergei Protosenya, Vladislav Avayev và Mozhem Obyesnit) bỗng ngã ra chết với cả gia đình vì tự tử. Poutine đã từng nói « Đừng để cho con chuột nào chạy thoát. Chúng nó chạy được ra nước ngoài, sẽ nói những điều không hay».

 

Ngày giao chánh quyền cho Poutine, Boris Eltsine căn dặn «Anh hãy chăm lo cho nước Nga». Nhưng những thành phần ưu tú đứng phía sau Poutine không bao giờ được biết ông ta đã tự ý biến nước Nga trở thành một thứ Bắc Triều Tiên khổng lồ. Bỗng họ bị cắt những liên hệ với thị trường quốc tế, không còn những cuộc nghỉ hè ở ngoại quốc, con em của họ không được theo học những trường quốc tế. Những người này cũng không hề được biết Poutine tự ý biến nước Nga làm chư hầu Trung quốc để đổi lấy hiệp ước đối tác chiến lược.

 

Nhưng nên nhớ Poutine đang nắm trong tay cơ quan mật vụ FSB lo tập trung bảo vệ an ninh cho ông bằng một mạng lưới dày đặc, từ những người võ trang tới anh bếp, chị bồi, tài xế. Mỗi khi có ai tới gần ông đều bị FSB kiểm soát kỹ lưởng nên mọi toan tính ám hại ông đều khó thực hiện. Chỉ có dân chúng bất mãn vì đời sống khó khăn do lạm phát mà nổi loạn.

 

Nhưng ở đời vẫn thường xảy ra những chuyện không ai ngờ. Bỗng một hôm có một người Nga nào đó xuất hiện tuyên bố thay thế Poutine, được một bộ phận lớn những người ưu tú ủng hộ. Ông chủ trương đưa nước Nga hội nhập vào thế giới dân chủ tự do để phát triển, sống hài hòa thay vì đối nghịch và gây hấn thường xuyên với Tây phương như trước giờ. Đức và Nhựt đã chọn con đường này sau Đệ II Thế chiến và nhờ đó đã trở thành cường quốc.

 

-- Nguyễn thị Cỏ May

 

(*) Năm 1997, Bill Clinton và Boris Eltsine đã ký Hiệp ước thiết lập quan hệ giữa NATO và Nga, qui định không có giới hạn NATO mở rộng qua những nước cựu thành viên Hiệp ước Varsovie hoặc những nước thuộc Liên-Xô cũ. Eltsine đã phản đối qui định này nhưng đã thất bại, mặc dầu ông vẫn nhắc lại ý của ông chống lại trong một cuộc họp báo.

 

 

Đối với đời người thì 250 năm đã dài gấp hai lần rưỡi tuổi thọ mà một con người có thể đạt đến nhiều nhất, nếu một người có thể sống tới 100 tuổi. Nhưng đối với một quốc gia thì 250 năm không phải là thời gian dài, bởi vì có những nước như Việt Nam có niên đại tồn tại lâu tới bốn, năm ngàn năm. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói ở đây không phải là tuổi thọ dài hay ngắn của một quốc gia hay của nước Mỹ mà là trong suốt hai thế kỷ rưỡi đó đất nước này đã làm được gì có giá trị để đời và đã đánh mất thứ gì quý giá trong những điều cốt lõi làm nên một nước Mỹ thịnh trị hùng cứ một phương.
Con chó Taichito đã theo sát Aung San Suu Kyi suốt bao năm. Nhưng nó không được phép đi theo bà vào nhà giam khi quân đội lật đổ chính quyền của bà cách đây năm năm. Tháng trước, con chó tai cụp ấy chết tại nhà bà ở Yangon, thủ đô cũ, thọ 15 tuổi, vẫn như còn chờ bà trở về. Nó là món quà người con trai, Kim Aris, tặng mẹ khi bà ra khỏi nhà giam lần trước, năm 2010. “Tôi nghĩ đó là điều tốt nhất tôi từng tặng bà. Nó rất trung thành với bà,” ông Aris nói trong một cuộc phỏng vấn tại Luân Đôn.
Tôi cũng đã đến Mỹ như là một di dân tị nạn sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào cuối tháng 4/1975, sống trong trại tị nạn Camp Pendleton cùng với hàng vạn người Việt khác sau khi rời bỏ quê hương trong hoảng loạn và lo sợ. Năm đó chẳng có lễ hội, chẳng có pháo hoa mừng Lễ Độc lập 4/7 trong trại vì mọi người ai cũng đang lo nghĩ khi nào sẽ được đi định cư, băn khoăn về tương lai trên đất mới sẽ làm gì để sống, có được tiếp tục đi học, người Việt có bị kỳ thị không. Lúc đó có tin loan truyền là bang California không muốn cho người Việt định cư nên không biết tương lai sẽ về đâu, gian truân ra sao. Người quen của tôi gặp nhau trong trại, có anh đi Seattle, bang Washington, có anh về Napa, ở miền bắc California hay có chị về Downey ở nam California. Bạn ở chung lều trại người đi bang Colorado, người về San Francisco, mấy anh lính hải quân ra tận hải đảo Hawaii. Nhìn quanh thấy người Việt được định cư khắp nơi trên nước Mỹ.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa thế hệ Gen Z và một thế hệ người Mỹ đã quá chán nản với những con đường mòn rập khuôn, nỗi sợ hãi không dám “lệch đảng.” Ở Gen Z, họ có một nguồn năng lượng mà những chiếc ghế lâu năm ở Quốc Hội không thể có. Kết quả của bầu cử sơ bộ 2026 ở tiểu bang Colorado đã cho thấy khá rõ nét điều này. Một thế hệ Gen Z cho rằng "hệ thống đã đổ vỡ và chúng tôi nhận ra sẽ không có ai đến cứu chúng tôi ngoài chính chúng tôi.”Họ, là những người sinh trưởng trong gia đình di dân.
Mấy tuần đầu World Cup trên đất Mỹ là một chuyện lạ: giải đấu diễn ra đã vài tuần mà tên Donald Trump ít được nhắc đến. Người ta coi bóng, bàn luật, uống bia và cãi nhau, khán giả quốc tế thấy nước Mỹ tổ chức một kỳ bóng đá vui vẻ, tử tế. Ông tổng thống thì bận mừng 250 năm nước Mỹ, chưa để mắt vào sân bóng. Nhưng đâu dễ “too good to be true” như thế. Thẻ đỏ của Folarin Balogun xảy ra vài ngày trước, trong trận gặp Bosnia: anh tranh bóng với hậu vệ Tarik Muharemović. Xem nhanh, pha bóng chẳng có gì đặc biệt. Vào phòng VAR, quay chậm cho thấy mũi giày cà xuống sau ống chân, cổ chân xoắn lại. Trọng tài rút thẻ đỏ. Theo luật, thẻ đỏ ở World Cup thì trận sau nghỉ. Không kháng cáo, không ngoại lệ. Lẽ ra chuyện kết thúc ở đó.
Tổng thống Donald Trump đến Ankara với đe dọa hơn là củng cố quan hệ với NATO. Ông văng ra những điều khó nghe, sẽ rút quân Mỹ khỏi châu Âu nếu không chiếm được Greenland, vô cùng bất mãn vì các nước Âu châu không tham gia chiến tranh Iran, và tuyên bố cắt hết mậu dịch với Tây Ban Nha. Nhưng trước khi ra về, ông lại nói đến “tình bằng hữu to lớn” giữa các đồng minh.
Dĩ nhiên, mỗi người Mỹ hôm nay sẽ có cách riêng để hiểu và thể hiện lòng yêu nước của mình. Lễ Độc Lập năm nay còn đánh dấu cột mốc 250 năm ngày một bản Tuyên ngôn đặt nền cho nước Mỹ ra đời – vì vậy, hai chữ “lòng yêu nước” lại trở thành khẩu hiệu đầu môi. Nhưng giữa pháo bông và diễu hành, giữa những lá cờ bay trên sân vận động và những đứa trẻ từ chối hát quốc ca, người Mỹ nói chung, và người Mỹ gốc Việt nói riêng thật sự nghĩ gì về lòng ái quốc?
Ngày 4 Tháng Bảy năm nay, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tròn 250 tuổi. Đó là một con số thiêng liêng. Một phần tư thiên niên kỷ. Người Mỹ nào cũng hiểu rằng ngày 4 Tháng Bảy mang ý nghĩa lớn lao hơn nhiều so với cá nhân của mỗi người, ở một góc độ nào đó. Đó là dịp để tôn vinh nền dân chủ và vai trò công dân – ai cũng bình đẳng trong nền dân chủ ấy. George Washington thấu hiểu sâu sắc điều này. Trong bản di chúc của mình, ông tự mô tả bản thân là “một công dân Hoa Kỳ, và từng là tổng thống của quốc gia này.” Ông trân trọng danh phận công dân Mỹ, một danh xưng mà chính ông cùng các nhà cách mạng Mỹ khác đã góp phần tạo dựng, và coi trọng vị thế đó hơn cả vinh dự nhất thời của chức vụ tổng thống. Trong Tuyên Ngôn Độc Lập, Abraham Lincoln từng nói rằng mọi quan điểm chính trị của ông đều "bắt nguồn từ những tư tưởng được thể hiện trong Tuyên Ngôn Độc Lập.” Ông tin tưởng tuyệt đối sứ mệnh của nước Mỹ là trút bỏ "gánh nặng khỏi đôi vai mọi người.”
Trong chính trị đương đại, có hai mô hình dân chủ chân chính. Đó là tổng thống chế như tại Hoa Kỳ và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Hoa Kỳ như Brasil, Argentina, hay quốc hội chế (hoặc đại nghị chế) tại Anh Quốc và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Anh Quốc như Canada, Úc.
Cách đây mười năm, ngày 23 tháng 6 năm 2016, với khẩu hiệu chủ đạo “Người dân phải giành lại quyền kiểm soát”, phe vận động Brexit đã muốn giành lại quyền tự chủ mà theo họ đã bị Liên minh châu Âu (EU) tước đoạt, đồng thời kiểm soát chặt chẽ hơn biên giới của nước Anh...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.