Hôm nay,  

Trong Dư Chấn Của Bạo Lực

19/12/202500:00:00(Xem: 11989)
GettyImages-2251985305
SYDNEY, ÚC CHÂU — 15 tháng 12 năm 2025: Người dân tụ tập trước Bondi Pavilion, bãi biển Bondi, sau vụ nổ súng gần lễ Hanukkah khiến ít nhất 16 người thiệt mạng và nhiều người khác bị thương; nhà chức trách xác định đây là hành động khủng bố. Ảnh: Audrey Richardson/Getty Images.

Chỉ trong vài ngày cuối tuần qua, bạo lực như nổi cơn lốc. Sinh viên bị bắn trong lớp ở Đại học Brown. Người Do Thái gục ngã trên bãi biển Bondi, Úc châu, ngay ngày đầu lễ Hanukkah. Một đạo diễn tài danh cùng vợ bị sát hại — nghi do chính con trai. Quá nhiều thảm kịch trong một thời khắc ngắn, quá nhiều bóng tối dồn dập khiến người ta lạc mất hướng nhìn.
 
Nhưng giữa lúc chưa thể giải được gốc rễ, ta vẫn còn một điều có thể làm: học cho được cách ứng xử và phản ứng, sao cho không tiếp tay cho lửa hận thù. Giữ đầu óc tỉnh táo giữa khủng hoảng giúp ta nhìn vào ngọn cháy thật, thay vì mải dập tàn lửa do người khác thổi lên.
 
Mỗi khi có vụ nổ súng, người ta lại nghe cùng một tiếng thở dài trong các cộng đồng thiểu số: “Mong thủ phạm đừng thuộc phe mình.” Không phải vì tội nặng hơn, mà vì bản án tập thể luôn đến sau đó. Một người da màu, da đen, Hồi giáo hay LGBTQ+ phạm tội — lập tức cả cộng đồng bị kéo vào vành móng ngựa của dư luận. Như dân biểu Randy Fine ở Florida, sau vụ Bondi, vội tuyên bố Hồi giáo “không tương hợp với phương Tây.” Tin đồn về vụ sát nhân Charlie Kirk cũng bốc lên từ mẫu số ấy: một nghi can, một lời nói mập mờ, đủ khiến mạng xã hội dựng đứng. Kẻ ác trở thành món mồi cho thành kiến tập thể. Ngay cả khi vô căn cứ, người ta vẫn muốn tin vào điều phục vụ sẵn định kiến của mình.
 
Trong cùng vụ ấy, xin nhớ: Ahmed al-Ahmed — người Hồi giáo, con của dân tị nạn, cha của hai con nhỏ — đã dũng cảm tước vũ khí hung thủ. Nhờ huấn luyện ngành công lực, ông đã cứu không biết bao nhiêu sinh mạng. Câu chuyện ấy được truyền đi khắp nơi như một đối trọng đẹp đẽ trước làn sóng kỳ thị lan nhanh sau vụ án. Nhưng ai từng biết xã hội này đều hiểu: một hành động anh hùng không đủ sức lay chuyển những định kiến đã hóa thành cơ chế. Chúng không còn nằm trong lý trí, mà đã cắm rễ trong thói quen tập thể.
 
Ở xã hội này, đa số được xem là từng cá nhân, còn thiểu số thì bị ép thành một khối. Khi hung thủ là người da trắng, chẳng ai hỏi tới tôn giáo hay nguồn gốc. Khi hắn mang màu da khác, cả cộng đồng phải chịu chung tội. Ngay cả những người da trắng lương thiện cũng hiểu rằng đó là bất công. Nhưng xã hội vẫn hành xử như thể điều bất công ấy là tự nhiên. Nhiều thống kê cho thấy phần lớn các vụ xả súng hàng loạt do đàn ông da trắng khuynh hữu gây nên, vậy mà chưa ai gọi đó là “bạo lực của người da trắng.” Cùng một việc, hai thước đo, và một khi bất công ấy đã quen, người ta không còn thấy nó sai.
 
Từ một cá nhân phạm tội đến một chính sách quốc gia, đoạn đường ấy ngày càng ngắn. Sau khi một người tị nạn Afghanistan bắn hai binh sĩ ở Washington, chính quyền Trump lập tức đình chỉ vô thời hạn việc duyệt hồ sơ di trú của toàn bộ dân Afghanistan. Hàng chục ngàn người bị vạ lây vì một viên đạn. Đó không chỉ là phản ứng nóng vội, mà là một chính sách chính thức hóa trừng phạt tập thể — điều hiếm thấy trong một nền dân chủ hiện đại. Hãy thử đảo vai: nếu một người Thụy Điển làm điều ấy, liệu có ai dám cấm di dân Thụy Điển không? Với người da trắng, lý trí vẫn được tôn trọng; với người tị nạn da màu, chỉ còn nỗi sợ. Ấy là dấu hiệu quen thuộc của một chính thể đã chọn gieo sợ hãi để trị dân. Mỗi lần có kẻ hành xử sai mà cả nhóm bị kết tội, đó chính là vòng luẩn quẩn của trừng phạt tập thể. Chừng nào ta còn nhắm mắt để nó tái diễn, chừng đó chính nghĩa vẫn chỉ là khẩu hiệu.
 
Bao lần rồi, phe chống kiểm soát súng lại lặp cùng một điều: nắm một ngoại lệ để phủ định cả một rừng chứng cứ, trong khi làm ngơ trước hàng trăm cái chết có thể ngăn được. Ba mươi năm trước, sau vụ thảm sát ở Tasmania, nước Úc thông qua Luật Kiểm Soát Súng 1996: cấm hẳn nhiều loại bán tự động, siết chặt đăng ký và tịch thu hàng trăm ngàn khẩu. Kết quả rõ ràng: hơn hai mươi năm sau, xứ này hầu như không còn các vụ đại thảm sát. Vậy mà nay, chỉ vì vụ Bondi, phe cực hữu lại hô hào rằng “luật súng vô dụng” — rồi tiện tay lồng luôn luận điệu chống Hồi giáo cho trọn bài bản. Nếu hung thủ hôm đó có trong tay một khẩu bán tự động — thứ đã bị cấm — tang thương chắc đã còn dữ dội hơn. Thực tế rất rõ ràng, chỉ có lòng hận thù mới làm người ta mù mắt trước chứng cứ.
 
Điều đáng sợ nhất trong những ngày bạo lực không chỉ là cái chết, mà là sự nguội lạnh trong phản ứng của giới lãnh đạo. Khi sinh viên bị giết tại Brown, ông Donald Trump chỉ buông: “Trường tốt, nhưng chuyện gì cũng có thể xảy ra.” Một câu tưởng nhẹ, nhưng chứa cả tư duy đầu hàng: chấp nhận bạo lực như một hiện tượng tự nhiên, không thể tránh. Cũng trong những ngày ấy, ông còn biến cái chết của đạo diễn Rob Reiner và vợ thành dịp nói về chính mình — một phản ứng phơi bày sự suy đồi của lương tri chính trị. Trái lại, chính Reiner, khi hay tin nhà hoạt động Charlie Kirk bị sát hại, chỉ thốt: “Kinh hoàng. Tuyệt đối kinh hoàng.” Ngắn gọn, nhưng chạm vào đúng lương tri mà một xã hội văn minh cần giữ. Ở một phía khác, một người Palestine viết trên mạng: ông tự hào về nguồn gốc mình, nhưng “không gì có thể biện minh cho bạo lực nhắm vào người Do Thái chỉ vì họ là người Do Thái.” Và ông kết: “Không nhân danh tôi.” Đó là tiếng nói cần nhất giữa thời bạo lực: tiếng nói không bênh, không thù, chỉ nhắc nhân loại rằng còn phải biết xấu hổ.
 
Giữ vững nguyên tắc không phải là yếu hèn. Trái lại, đó là cách duy nhất để khỏi sa vào vòng lẩn quẩn: đổ tội, làm ngơ, rồi dần quen với sự tàn nhẫn như một phần tất yếu của đời sống. Khi chính quyền xem máu đổ là chuyện “có thể xảy ra”, dân chúng sẽ học theo cái lạnh đó. Giữ lấy nguyên tắc — không kỳ thị, không đổ thừa, không chấp nhận sự chết như định mệnh — đó mới là cách duy nhất để giữ cho xã hội còn vẹn lương tri.
 
Nguyên Hòa biên dịch
Nguồn: Theo bình luận của Jay Kuo, đăng ngày 15 tháng 12 năm 2025 trên Substack.
 

Có những tuần trôi qua lặng lẽ. Có những tuần giống như một chuyến tàu lượn siêu tốc, nó bắt hành khách phải ôm cùng lúc nhiều cảm xúc lẫn lộn, vừa có nỗi đau, có phẫn nộ, có sợ hãi và cả sự hoài nghi. Không cho một khoảnh khắc nào để thở. Đến cả những dây thần kinh thô ráp nhất của linh hồn cũng phải trỗi dậy, để hỏi thế nào là lòng trắc ẩn? Thế nào là lương tâm của loài người?
Trong hơn 2 năm tạm cư tại Hoa Kỳ, nhờ công việc, nên tôi được đi lại khá nhiều. Từ các tiểu bang bờ Đông xuống Florida. Tại bờ Tây, tôi được đi từ tiểu bang Washington xuống dọc đến San Diego, thành phố cực nam của tiểu bang California. Tại phía Nam nước Mỹ, tôi được đi băng ngang qua nhiều tiểu bang dọc theo biên giới Mexico, kể cả một số tiểu bang miền Trung nước Mỹ, trong đó có Arkansas – nơi tôi lái xe đến thăm gia đình Luật sư Võ An Đôn.
Theo kết quả khảo sát của Pew, mức độ tin tưởng vào ông Trump đã sụt giảm tại 16 trong số 24 quốc gia so với năm ngoái, và không có quốc gia nào được khảo sát ghi nhận sự gia tăng thái độ tích cực đối với vị tổng thống này. Chỉ 23% số người được hỏi cho biết họ tin tưởng ông Trump sẽ đưa ra những quyết định đúng đắn trong các vấn đề toàn cầu. Ông Wike cho biết những người được hỏi dành nhiều sự tin tưởng hơn cho Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron (43%), Tổng Thống Ukraine Volodymyr Zelensky (35%), Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (34%) và Tổng Thống Nga Vladimir Putin (31%). Chỉ có Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu là nhận được mức độ tin tưởng thấp hơn ông Trump, ở mức 18%.
Các bậc quốc phụ Hoa Kỳ muốn thành lập một nền Cộng hòa chớ không phải một nền Dân chủ. Tuy nhiên, ngày nay, Hoa Kỳ là một quốc gia dân chủ hơn nhiều so với những mà gì các nhà cách mạng Mỹ muốn tưởng tượng trong những giấc mơ điên rồ nhất của họ – hoặc những cơn ác mộng. Đồng thời, có một vài nỗi sợ hãi tệ hại nhất liên hệ đến thuật ngữ "dân chủ" trong thời cách mạng Mỹ dường như đang xảy ra trong hiện tại. Ngay trong bài diễn văn từ biệt năm 1796 của George Washington, tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, ông đã cảnh báo cho đồng bào về "những tác động tai hại của tinh thần đảng phái", mà nó có thể thúc đẩy cho người dân trong việc "tìm kiếm sự an toàn và yên tĩnh trong quyền lực tuyệt đối của cá nhân"...
Đối với đời người thì 250 năm đã dài gấp hai lần rưỡi tuổi thọ mà một con người có thể đạt đến nhiều nhất, nếu một người có thể sống tới 100 tuổi. Nhưng đối với một quốc gia thì 250 năm không phải là thời gian dài, bởi vì có những nước như Việt Nam có niên đại tồn tại lâu tới bốn, năm ngàn năm. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói ở đây không phải là tuổi thọ dài hay ngắn của một quốc gia hay của nước Mỹ mà là trong suốt hai thế kỷ rưỡi đó đất nước này đã làm được gì có giá trị để đời và đã đánh mất thứ gì quý giá trong những điều cốt lõi làm nên một nước Mỹ thịnh trị hùng cứ một phương.
Con chó Taichito đã theo sát Aung San Suu Kyi suốt bao năm. Nhưng nó không được phép đi theo bà vào nhà giam khi quân đội lật đổ chính quyền của bà cách đây năm năm. Tháng trước, con chó tai cụp ấy chết tại nhà bà ở Yangon, thủ đô cũ, thọ 15 tuổi, vẫn như còn chờ bà trở về. Nó là món quà người con trai, Kim Aris, tặng mẹ khi bà ra khỏi nhà giam lần trước, năm 2010. “Tôi nghĩ đó là điều tốt nhất tôi từng tặng bà. Nó rất trung thành với bà,” ông Aris nói trong một cuộc phỏng vấn tại Luân Đôn.
Tôi cũng đã đến Mỹ như là một di dân tị nạn sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào cuối tháng 4/1975, sống trong trại tị nạn Camp Pendleton cùng với hàng vạn người Việt khác sau khi rời bỏ quê hương trong hoảng loạn và lo sợ. Năm đó chẳng có lễ hội, chẳng có pháo hoa mừng Lễ Độc lập 4/7 trong trại vì mọi người ai cũng đang lo nghĩ khi nào sẽ được đi định cư, băn khoăn về tương lai trên đất mới sẽ làm gì để sống, có được tiếp tục đi học, người Việt có bị kỳ thị không. Lúc đó có tin loan truyền là bang California không muốn cho người Việt định cư nên không biết tương lai sẽ về đâu, gian truân ra sao. Người quen của tôi gặp nhau trong trại, có anh đi Seattle, bang Washington, có anh về Napa, ở miền bắc California hay có chị về Downey ở nam California. Bạn ở chung lều trại người đi bang Colorado, người về San Francisco, mấy anh lính hải quân ra tận hải đảo Hawaii. Nhìn quanh thấy người Việt được định cư khắp nơi trên nước Mỹ.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa thế hệ Gen Z và một thế hệ người Mỹ đã quá chán nản với những con đường mòn rập khuôn, nỗi sợ hãi không dám “lệch đảng.” Ở Gen Z, họ có một nguồn năng lượng mà những chiếc ghế lâu năm ở Quốc Hội không thể có. Kết quả của bầu cử sơ bộ 2026 ở tiểu bang Colorado đã cho thấy khá rõ nét điều này. Một thế hệ Gen Z cho rằng "hệ thống đã đổ vỡ và chúng tôi nhận ra sẽ không có ai đến cứu chúng tôi ngoài chính chúng tôi.”Họ, là những người sinh trưởng trong gia đình di dân.
Mấy tuần đầu World Cup trên đất Mỹ là một chuyện lạ: giải đấu diễn ra đã vài tuần mà tên Donald Trump ít được nhắc đến. Người ta coi bóng, bàn luật, uống bia và cãi nhau, khán giả quốc tế thấy nước Mỹ tổ chức một kỳ bóng đá vui vẻ, tử tế. Ông tổng thống thì bận mừng 250 năm nước Mỹ, chưa để mắt vào sân bóng. Nhưng đâu dễ “too good to be true” như thế. Thẻ đỏ của Folarin Balogun xảy ra vài ngày trước, trong trận gặp Bosnia: anh tranh bóng với hậu vệ Tarik Muharemović. Xem nhanh, pha bóng chẳng có gì đặc biệt. Vào phòng VAR, quay chậm cho thấy mũi giày cà xuống sau ống chân, cổ chân xoắn lại. Trọng tài rút thẻ đỏ. Theo luật, thẻ đỏ ở World Cup thì trận sau nghỉ. Không kháng cáo, không ngoại lệ. Lẽ ra chuyện kết thúc ở đó.
Tổng thống Donald Trump đến Ankara với đe dọa hơn là củng cố quan hệ với NATO. Ông văng ra những điều khó nghe, sẽ rút quân Mỹ khỏi châu Âu nếu không chiếm được Greenland, vô cùng bất mãn vì các nước Âu châu không tham gia chiến tranh Iran, và tuyên bố cắt hết mậu dịch với Tây Ban Nha. Nhưng trước khi ra về, ông lại nói đến “tình bằng hữu to lớn” giữa các đồng minh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.