Hôm nay,  

Nước Mỹ của Ai

29/05/202600:00:00(Xem: 903)
ship-151182564-1024x576
Thủy thủ trên chiến hạm USS Durham đưa người tị nạn Việt Nam từ một thuyền nhỏ trên Biển Đông lên tàu, ngày 3 tháng 4, 1975. Ảnh: National Archives, General Records of the Department of the Navy.
  
Người Mỹ có một huyền thoại rất ưa kể về chính mình, rằng mảnh đất này từ buổi đầu lập quốc là “xứ sở của di dân”. Huyền thoại ấy khởi đi từ những con tàu cập bến New York cuối thế kỷ 19 - với những gia đình nghèo khổ bỏ Âu châu sang tìm một khởi đầu mới; với những toán thợ người Hoa sang đãi vàng, đào núi, đặt đường rầy xe lửa xuyên lục địa; với các các đợt người tị nạn châu Âu sau hai cuộc Thế chiến; với thuyền nhân Đông Dương sau 1975; rồi đến những đoàn người Trung Mỹ lầm lũi băng sa mạc mang theo con nhỏ. Ở mỗi khúc quanh, di dân vừa là nạn nhân của chiến tranh, độc tài, nghèo đói, vừa là lực lượng xây nên những con đường, nhà máy, khu phố, trường đại học của Hợp Chủng Quốc.

Song song với huyền thoại đó là một dòng lịch sử khác ít được kể hơn, lịch sử của những cánh cửa đóng lại. Đầu thế kỷ 19, Quốc hội Mỹ mở rộng đất đai bằng Louisiana Purchase, chiếm Florida, rồi Texas, Oregon… Trong khi người châu Âu được mời gọi bằng Homestead Act 1862 cấp đất đai, người Á châu bị đẩy ra khỏi cánh cửa nước Mỹ. Đạo Luật Bài Người Hoa 1882(Chinese Exclusion Act) thẳng tay cấm người Trung Hoa, đánh dấu lần đầu tiên luật liên bang nhắm thẳng vào một sắc dân để loại trừ.

Bước vào thời đại công nghiệp, các đạo luật 1921, 1924 đặt ‘quota’ ưu đãi Bắc Âu da trắng Tin Lành, siết di dân Nam – Đông Âu, gần như đóng sập cửa Á châu. Sau Thế chiến, châu Âu đầy người tản cư, luật Mỹ vẫn chắt lọc di dân theo chủng tộc, tôn giáo, ý thức hệ. Đến Chiến tranh Lạnh, yếu tố chống cộng được đưa thẳng vào chính sách di trú.

Mãi đến 1965, Đạo luật Di trú và Quốc tịch mới bãi bỏ hẳn hệ thống ‘quota’ dựa trên chủng tộc và nguồn gốc quốc gia, thay bằng “hệ thống ưu tiên” dựa vào đoàn tụ gia đình, tay nghề, và yếu tố nhân đạo. Từ đó, người Á châu, Mỹ La-tinh, Phi châu mới thực sự bước vào dòng di trú hợp pháp với số lượng lớn. Nhờ vậy, cộng đồng Việt Nam, Hàn Quốc, Ấn Độ, Mễ Tây Cơ… mới trở thành những khối rõ rệt trong bức tranh Mỹ về sau. Nhưng cái bóng của nỗi sợ di dân không vì thế mà tan. Chiến tranh Việt Nam kết thúc, cách mạng Cuba, nội chiến Trung Mỹ, khủng hoảng kinh tế… mỗi làn sóng người mới lại làm dậy lên một câu hỏi cũ: “Họ là ai? Có đáng tin không? Có chiếm đất đai, chiếm công ăn việc làm của người Mỹ không?”

Sang thế kỷ 21, biến cố 9-11 biến di trú từ đề tài kinh tế – xã hội thành vấn đề “an ninh quốc gia”. Toàn bộ hệ thống được cải tổ với Bộ Nội An (DHS) ra đời vào. Sở Di Trú cũ bị chia nhỏ, nhập với biên phòng, hải quan. Đạo luật Patriot 2001, đặc biệt là Chương IV “Bảo vệ biên giới” trao liên bang quyền theo dõi sinh viên ngoại quốc, nối mạng dữ liệu giữa các cơ quan, và tăng lực lượng biên phòng. Từ đó, mọi cuộc tranh luận về di trú đều bị ám theo hai chữ “an ninh”. Liệu biên giới có an toàn không? Ai là “nguy cơ”? Bao nhiêu người không giấy tờ đang trong lòng nước Mỹ? Thống kê ước tính có khoảng 11 triệu người ở không giấy tờ, chiếm chừng 5% lực lượng lao động. Con số này trở thành cái mỏ vô tận cho những khẩu hiệu tranh cử.

Đó là phông nền mà Donald Trump bước vào. Ông tận dụng nó để biến di trú từ một chương luật rối rắm thành một cây đả cầu bổng trên diễn đàn chính trị.

Ngay từ lúc tranh cử, Trump đã chọn cách nói về di dân không phải bằng gương mặt và sức lao động của họ, cũng không bằng những đóng góp hàng trăm tỉ đô-la thuế mỗi năm, mà bằng những khẩu hiệu nặng mùi bài ngoại như “đầu độc máu huyết nước Mỹ”, “đến từ nhà tù, nhà thương điên”. Ông hiếm khi nhắc đến những người lương thiện hái dâu ở California, rửa chén ở New York, y tá trực đêm ở Texas, sinh viên trong giảng đường. Ông biến họ thành một “làn sóng” vô danh đầy đe dọa và ví họ như “thú vật”. Một khi đám đông “ngoài kia” bị vẽ thành mối nguy, mọi biện pháp mạnh tay đều có thể nhân danh “bảo vệ người Mỹ”.

Trong nhiệm kỳ đầu (2017–2021), dấu ấn Trump đậm nét nhất là ở biên giới phía Nam. Từ những sắc lệnh cấm công dân từ một loạt quốc gia – phần lớn là các nước Hồi giáo – đặt chân vào Mỹ, tới việc ép người xin tị nạn phải dạt sang bên kia biên giới Mễ Tây Cơ chờ đợi, rồi chính sách “zero tolerance” bức trẻ em ra khỏi vòng tay cha mẹ. Đây là những chiến lược được thi hành để phát ra một thông điệp: “Đừng bén mảng tới đây, nếu không muốn chính gia đình mình trở thành ví dụ răn đe tiếp theo.”

Nhưng biên giới chỉ là một mặt. Mặt kia nằm sâu trong nội địa. ICE – lực lượng Thi hành Di trú – được đẩy lên tuyến đầu như một lực lượng công an đặc vụ. Trên giấy tờ, ICE được lập ra để bắt người có lệnh trục xuất, dẹp buôn người, xử lý tội phạm nghiêm trọng. Dưới thời Trump, trọng tâm ấy trượt từ việc “ưu tiên tội phạm nặng” sang coi “bất cứ ai không có giấy tờ đều là mục tiêu”.

Trong vài năm trở lại đây, ICE hiện lên qua những cuộc bố ráp trong xưởng thịt, xưởng may, chợ lao động, trên đường phố. Những chiếc xe trắng không bảng số đậu lặng lẽ trước khu nhà di dân. Những lần chặn xe trên xa lộ khiến một cuốc đi chợ của người tài xế gốc Latinh có thể hóa thành chuyến bị sút thẳng về nước. Các thống kê độc lập ghi nhận số vụ trục xuất ngay trong nội địa tăng vọt, với không ít người bị đưa đi mà “tội” của họ chỉ là ở quá hạn hoặc những tội vặt vãnh. Trong mắt giới cố vấn của Trump, ICE là mũi nhọn của “cuộc chiến bảo vệ biên giới từ bên trong”. Trong thực tế, nó giống một lực lượng rình rập, biến những sinh hoạt thường ngày trong gia đình người lao động thành một chuỗi rủi ro thường trực.

Cuối nhiệm kỳ đầu, chính quyền Trump đã bắt đầu dùng Vệ binh Quốc gia, thậm chí quân đội, hỗ trợ truy bắt và trục xuất; mở thêm trại tạm giam lớn để giam người chờ trục xuất; cho phép viên chức di trú ký quyết định đuổi người ra khỏi nước mà không cần qua đầy đủ quy trình tòa án. Không phải tất cả đều thành công, vì có trường hợp bị tòa án, Quốc hội, phản ứng xã hội can thiệp, nhưng chúng cho thấy hướng đi mới “Nước Mỹ Trên Hết” của Trump với ưu tiên trên hết là “đuổi ra”, chứ không “đón vào”.

Trở lại Nhà Trắng năm 2025, ông Trump lặp lại khẩu hiệu “đợt trục xuất lớn nhất lịch sử”. Ngân sách cho ICE và biên phòng tăng cao. Vệ binh Quốc gia được điều xuống biên giới và một số thành phố lớn. Project 2025 được lấy ra khỏi ngăn kéo để biến thành chỉ thị. Số người bị bắt và trục xuất trong nội địa những tháng đầu nhiệm kỳ hai lại nhảy vọt. Các tổ chức nhân quyền ghi nhận nhiều vụ bắt bớ dựa trên “nghi ngờ” hơn là hồ sơ tội phạm cụ thể. Với nhiều gia đình, chuyện ICE trong khu phố không còn là nỗi lo xa xôi. Nó là câu hỏi rất cụ thể: sáng nay bố mẹ đi làm tối có về nhà được không.

Mũi nhọn chính sách không dừng ở người “không giấy tờ”. Lớp bị ảnh hưởng kế tiếp là tầng giữa – những người đã theo đúng luật đi đúng đường. Họ vào Mỹ bằng visa hợp lệ, học hành, đi làm, lập gia đình, đang trên đường xin thẻ xanh.  Suốt hơn nửa thế kỷ, luật Mỹ cho phép họ “điều chỉnh quy chế” ngay tại đây, nộp hồ sơ xin thường trú mà không cần quay về nước, nếu đáp ứng điều kiện. Mỗi năm khoảng một triệu đơn xin thẻ xanh, ước chừng phân nửa là của những người đang sống hợp pháp trên đất Mỹ. Đó là cây cầu nối từ thân phận “khách trọ” sang “thường trú lâu dài”.

Cuối tuần qua, chính cây cầu ấy bị rút những tấm ván quan trọng. Một thông báo từ Sở Di trú và Nhập tịch ngày 22 tháng 5 cho biết người đang ở Mỹ theo diện tạm trú, sinh viên, lao động tạm thời, du khách, nhiều trường hợp tị nạn hay được bảo vệ nhân đạo, nếu muốn xin thẻ xanh, giờ đây buộc phải rời Mỹ, trở về nước của họ nộp đơn tại lãnh sự quán. Chỉ những “trường hợp ngoại lệ đặc biệt” do chính viên chức Sở cân nhắc mới được điều chỉnh quy chế ngay trong nội địa.

Trong hơn nửa thế kỷ qua, thông lệ vẫn là ai vào Mỹ hợp pháp, đủ điều kiện theo luật đều có thể “điều chỉnh quy chế” ngay trên đất Mỹ – nhất là vợ chồng, con cái công dân Mỹ, người giữ visa làm việc, du học sinh, người tị nạn sau một thời gian cư trú. Mỗi năm, khoảng một triệu hồ sơ xin thẻ xanh được nộp, và theo ước tính của một cựu quan chức USCIS, chừng một nửa trong số đó là nộp từ ngay trên lãnh thổ Hoa Kỳ.

Chính sách mới đảo ngược trật tự lâu năm ấy. Chính quyền giải thích đơn giản là “Người tạm trú vào Mỹ là để ở một thời gian ngắn, với một mục đích rõ rệt. Hệ thống của chúng ta được thiết kế để họ rời đi khi chuyến viếng thăm kết thúc.”. Theo luật mới, từ nay việc nộp đơn tại Mỹ chỉ được chấp thuận trong những “trường hợp ngoại lệ đặc biệt”, và nhân viên USCIS sẽ quyết định từng hồ sơ. Chính quyền gọi đây là “trở về với ý định nguyên thủy của luật”, là đóng một “khe hở” mà di dân lợi dụng để ở lại.

Nhưng bên dưới lớp chữ nghĩa đơn giản không phải là chuyện “chỉnh sửa thủ tục”, mà là một chủ trương dùng thủ tục để tạo nên trở ngại làm khó số người có thể ở lại Mỹ một cách hợp pháp.

Một gia đình ở Houston: vợ là công dân Mỹ, chồng mang visa H–1B làm kỹ sư, hai con học tiểu học. Nhiều năm qua, họ đi đúng đường, khai thuế, trình diện đúng kỳ, chờ tới lượt nộp hồ sơ xin thẻ xanh. Trước đây, họ nộp và chờ ngay tại Mỹ; chồng vẫn đi làm, con vẫn có bố đưa đón. Nay, anh buộc phải về nước nộp hồ sơ; lịch hẹn lãnh sự có thể kéo dài nhiều tháng, thậm chí nhiều năm. Trong thời gian đó, gia đình bị xé làm đôi, chỉ vì một chữ ký đổi quy trình.

Một bác sĩ ngoại quốc đang làm ở bệnh viện vùng nông thôn Kansas, nơi hiếm bác sĩ Mỹ nào chịu về. Bệnh viện sẵn sàng bảo trợ xin thẻ xanh cho anh. Nay anh phải rời Mỹ, chờ lãnh sự quán ở quê nhà phỏng vấn và xét đơn. Ai trực ca đêm ở phòng cấp cứu trong thời gian đó? Nếu hồ sơ bị treo vì lý do an ninh hay thủ tục, ai trả giá cho khoảng trống mà anh để lại?

Một đồng minh Mỹ ở Syria, Iraq, hay Afghanistan đang được bảo vệ tạm thời ở Mỹ Đang đi làm, cho con đi học, đang khó khăn hội nhập. Tòa đại sứ Mỹ tại Kabul đã đóng cửa từ khi Hoa Kỳ rút quân năm 2021. Nhiều lãnh sự quán các nơi khác hoạt động hạn chế. Đường quay về không chỉ là vé máy bay, mà là sinh mạng. Bảo anh muốn xin thẻ xanh hãy trở về nơi anh vừa liều chết để thoát ra là sự ác độc.

Các tổ chức nhân đạo, như tổ chức World Relief – một cơ quan nhân đạo Kitô giáo lâu năm trong lãnh vực tị nạn – dùng hai chữ “tàn nhẫn” và “chống gia đình” để mô tả chính sách mới. Chính sách này gần như xóa bỏ thông lệ hơn nửa thế kỷ cho phép người đã vào Mỹ hợp pháp, đủ điều kiện, được điều chỉnh quy chế tại đây. Họ cảnh báo những “thế kẹt bắt buộc”. Nếu trở về, họ có thể không bao giờ quay lại. Nếu không về, hồ sơ chết yểu, họ bị đẩy từ diện hợp lệ sang bất hợp lệ.

Đặt chính sách mới này cùng với những đợt bố ráp trong nội địa và những lời hứa “trục xuất hàng loạt” cho thấy rõ mục tiêu không gì khác hơn là siết chặt di trú. Ngoài biên giới thì xây tường, đưa quân xuống. Bên trong nước Mỹ thì cho ICE và Vệ binh Quốc gia đi lùng người. Còn ngay trong hệ thống di trú hợp pháp thì siết chặt khâu xét thẻ xanh, biến mỗi bộ hồ sơ thành một ván cờ rủi nhiều hơn may.

Nhìn suốt từ cuối thế kỷ 19 tới nay, người ta luôn thấy hai cách kể khác nhau về nước Mỹ. Một bên là “nước Mỹ của di dân”, nơi hàng hàng lớp lớp người mới đến đặt thêm những viên gạch xây dựng bờ cõi. Bên kia là “nước Mỹ đóng cửa”, với những đạo luật, chiến dịch, lực lượng như ICE và hàng loạt thủ tục tưởng như thuần kỹ thuật nhưng thực ra dùng để bài di dân, sàng lọc, loại trừ, trục xuất.

Và câu chuyện lúc này không chỉ nằm ở những con số mỗi năm ICE bắt bao nhiêu người, bao nhiêu gia đình bị tống khứ, bao nhiêu hồ sơ thẻ xanh bị hất ra lãnh sự quán không có cơ hội quay lại. Điều đang diễn ra là một bước ngoặt quan trọng. Nước Mỹ đang rời khỏi hình ảnh một quốc gia từng tin rằng có thể giữ vững biên giới mà vẫn tôn trọng phẩm giá con người và giữ đúng tinh thần một hợp chủng quốc. Nước Mỹ hôm nay dùng chính thân phận và số mạng của người di dân làm đòn bẩy, lá bài mặc cả và công cụ răn đe.

Chính quyền Trump đang đóng lại chính cánh cửa mà lịch sử nước Mỹ đã từng mở ra cho di dân. Đau lòng là trong tiếng khóa cửa ấy lại có cả tiếng vỗ tay của không ít di dân mới, cũ - những người đã từng trốn quê nhà đến đây mưu cầu hạnh phúc, thay vì chìa tay đỡ kẻ đến sau, lại sẵn sàng quay lại rút ván.

Nina HB Lê

Trong bài phát biểu tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc ở New York hôm 23 tháng 9 năm 2025, Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump đã nói rằng, “Biến đổi khí hậu, bất kể điều gì xảy ra, các bạn đã bị cuốn hút vào đó rồi. Không còn việc hâm nóng toàn cầu nữa, không còn chuyện toàn cầu lạnh cóng nữa. Tất cả những tiên đoán này được thực hiện bởi Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức khác, thường là những lý do tồi và đều sai lầm. Chúng được tiên đoán bởi những kẻ ngu mà dĩ nhiên là số phận của đất nước họ và nếu tiếp tục thì những quốc gia đó không có cơ hội để thành công. Nếu các bạn không tránh xa khỏi trò lừa đảo xanh này thì đất nước của các bạn sẽ thất bại.” Đó là lời chứng rõ ràng được đưa ra trước cộng đồng quốc tế về quan điểm và hành động của chính phủ Trump chống lại các giá trị khoa học mà nhân loại đã, đang, và sẽ tiếp tục giữ gìn và thực hiện để làm cho cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ và hạnh phúc hơn.
Năm xưa, khi Benjamin Franklin rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, một người phụ nữ hỏi ông: “Ngài Franklin, chúng ta có được chính thể gì, một nền quân chủ hay một nền cộng hòa?” Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu các người còn giữ được nó.” Benjamin Franklin muốn nói, một nền cộng hòa, tức chính quyền của nhân dân, dựa trên luật pháp và trách nhiệm của người dân. Nền cộng hoà không tự bền vững, nó chỉ tồn tại nếu người dân có đủ phẩm hạnh, lý trí. Dân chủ không phải một thành quả, mà là thử thách liên tục. Câu nói ngắn gọn, đanh thép năm xưa của Franklin nay linh nghiệm, dưới thời Donald Trump.
Sáng nay, một post trên mạng xã hội của một người bạn làm tôi khựng lại: “Nếu không thích nước Mỹ, thì cuốn gói cút đi.” Câu đó khiến tôi nhớ về một buổi chiều hơn mười năm trước. Hôm ấy, nhóm bạn cũ ngồi quây quần, câu chuyện xoay về ký ức: Sài Gòn mất. Cha bị bắt. Mẹ ra tù. Chị em bị đuổi học, đuổi nhà. Và những chuyến tàu vượt biển không biết sống chết ra sao. Giữa lúc không khí chùng xuống, một người bạn mới quen buông giọng tỉnh bơ: “Các anh chị ra đi là vì không yêu tổ quốc. Không ai ép buộc dí súng bắt các anh chị xuống tàu cả.” Cả phòng sững sờ. Ở đây toàn người miền Nam, chỉ có chị ta là “ngoài ấy.” Vậy mà chị không hề nao núng. Ai đó nói chị “gan dạ.” Có người chua chát: “Hèn gì miền Nam mình thua.”
Trong cái se lạnh của trời Tháng Mười vào Thu, khi màu lá trên khắp nước Mỹ chuyển sang gam màu đỏ rực, vàng óng, thì một cơn bão đang âm ỉ sôi sục, len lỏi dưới bề mặt của cuộc sống người Mỹ. Gió càng thổi mạnh, cơn bão ấy sẽ càng nhanh chóng bùng nổ. Vỏn vẹn trong một tháng, nước Mỹ chứng kiến ba sự kiện chấn động, nức lòng những người đang dõi theo sự mong manh của nền Dân Chủ. Mỗi sự kiện diễn ra trong một đấu trường riêng của nó, nhưng đều dệt nên từ cùng một sợi chỉ của sự phản kháng kiên cường: bắt nguồn từ sự phỉ báng tính chính trực của quân đội; tước toạt thành trì độc lập, tự do của báo chí – ngôn luận; và những cú đánh tới tấp vào sức chịu đựng của người dân.
Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.