Hôm nay,  

Lịch Sử Không Chờ Chúng Ta

25/09/202600:00:00(Xem: 100)
film_roll_portraits
Nước Mỹ sẽ không bầu nữ tổng thống đầu tiên khi nó sẵn sàng. Nước Mỹ sẽ sẵn sàng vào chính ngày bầu người ấy lên. (Đồ họa: Việt Báo)

Một ngày của tháng Chín, khi mùa bầu cử giữa nhiệm kỳ chỉ còn chừng sáu tuần lễ, tờ New York Times công bố bài phỏng vấn độc quyền với Dân biểu Alexandria Ocasio-Cortez (AOC), thuộc đảng Dân Chủ, New York. Cô phát biểu một câu, nghe không giống khẩu hiệu tranh cử, mà giống như kể lại lời người mẹ tâm sự với cô con gái đang bối rối trước một quyết định quan trọng của cuộc đời.
“Có ý kiến cho rằng đây là một thời điểm chính trị vô cùng đặc biệt, và trong chính trị, thường thì ta chỉ có duy nhất một cơ hội,” AOC nói. “Và cũng như trong cuộc sống nói chung vậy, cuộc đời sẽ không chờ đợi cho đến khi bạn sẵn sàng mọi thứ thì sự việc mới diễn ra. Đôi khi, chính cuộc đời sẽ tự sắp đặt mọi thứ để kiến tạo sẵn sàng cho bạn.”

Đó là một câu nói đẹp, thẳng thắn, không triết lý sâu xa, cũng ẩn dụ mơ hồ.

Nhưng với bất cứ người phụ nữ nào từng nghiêm túc nhìn về Tòa Bạch Ốc, câu nói ấy cũng chất chứa không ít sự chua chát. Bởi từ 250 năm nay, và rõ hơn hết là mười năm trở lại, cho thấy câu hỏi chưa bao giờ là “chúng ta, nước Mỹ đã sẵn sàng cho một phụ nữ hay chưa?” Câu hỏi, được lặp đi lặp lại trong phòng khách gia đình, trong những buổi họp mặt bạn bè, những cuộc trò chuyện thâu đêm, trong các nhóm thăm dò dư luận, trên các bàn tròn truyền hình.

Và câu trả lời thì, ai cũng rõ. Rõ nhất là người nữ chính khách đang cân nhắc chính căn cước của mình.

Ở tuổi 36, nhân vật dẫn đầu cánh cấp tiến của đảng Dân Chủ sẽ quyết định có ra tranh cử tổng Thống hay không sau kỳ bầu cử giữa nhiệm kỳ. Cô cho biết đang nghĩ đến mọi yếu tố, từ giới tính, sắc tộc cho đến tuổi tác, đồng thời ý thức rằng chưa một người phụ nữ nào từng đắc cử tổng thống. Bên cạnh đó, các ngả đường khác vẫn còn rộng mở. Cô có thể tái tranh cử tại địa hạt Bronx và Queens, hoặc tranh chiếc ghế Thượng Viện của ông Chuck Schumer, người sẽ bước sang tuổi 76 vào tháng 11 và phải tái ứng cử năm 2028.

AOC nói với tờ Times rằng, cô có nghĩ về căn cước của mình. Cô không ngây thơ trước thực tế đang sống dưới một chính quyền mà cô gọi là “rất thụt lùi,” trong khi bản thân là phụ nữ và là người gốc Mỹ Latin, và cũng không né tránh những bàn tán về khả năng đắc cử. Cô còn thú nhận thường ngần ngại nói về sắc tộc hay giới tính, vì người nghe dễ coi đó là cái cớ hoặc lời than phiền.

Hai Lần ‘Chạm Trần’

Sự thật là người Mỹ đã hai lần chứng kiến một phụ nữ đứng đầu liên danh của một đảng lớn, và cả hai lần “chạm trần” ấy đều không thể phá vỡ tấm kính cường lực khổng lồ của nước Mỹ.

Năm 2016, bà Hillary Clinton trở thành người phụ nữ đầu tiên được một đảng lớn đề cử. Bà hơn đối thủ gần ba triệu phiếu phổ thông, nhưng vẫn thua phiếu Đại Cử Tri Đoàn, 304 so với 227. Công bằng mà nói, bà Clinton mang nhiều hành trang “dữ dội” trong chính trường. Bà vô tình trở thành hình ảnh của một người trong guồng máy mà cử tri đang chán ghét. Mùa Hè năm ấy, chuyên gia thăm dò Cộng Hòa Kellyanne Conway tóm gọn quan điểm: vấn đề, theo bà, không phải là nước Mỹ đã sẵn sàng cho một nữ tổng thống hay chưa, mà là cho "người phụ nữ đó" hay chưa.

Thế nhưng báo chí khi ấy lại ngập tràn những điều chẳng dính dáng gì đến chính sách. Mô tả giọng bà "the thé," bà cười quá nhiều hoặc quá ít, sức khỏe bà bị nghi ngờ, và đối thủ gọi bà là "người đàn bà khó chịu" ngay trên sân khấu tranh luận. Tách rời vai trò ứng cử viên khỏi giới tính của bà, khi ấy và cho đến nay, vẫn là chuyện không thể.

Giữa hai lần ấy là năm 2020, cũng đáng được nhắc đến. Đó là năm rực rỡ của các nữ ứng viên Dân Chủ, trong đó có Kamala Harris, Elizabeth Warren, Amy Klobuchar và Kirsten Gillibrand, nhưng tất cả đều không giành được đề cử. Cử tri sơ bộ, với vết thương 2016 chưa lành, đã chọn người họ cho là "an toàn" nhất: một người đàn ông da trắng lớn tuổi, dày dặn kinh nghiệm chính trường, từng là phó tổng thống hai nhiệm kỳ.

Năm 2024, bà Kamala Harris nhận ngọn cờ Dân Chủ khi Tổng Thống Joe Biden rút lui. Bà chỉ có khoảng 100 ngày để tự giới thiệu mình với cả nước. Bà vận động gần như ngược hẳn với bà Clinton. Nếu bà Clinton tự hào nhắc đến tính lịch sử của cuộc ứng cử, thì bà Harris hầu như im lặng về chuyện đó. Harris nói về giá thực phẩm, về biên giới, về nhà ở. Bà để giới tính và sắc tộc tự lên tiếng. Cuối cùng, vị nữ ứng cử viên thua cả bảy tiểu bang chiến trường, thua phiếu Đại Cử Tri Đoàn 312 so với 226, thua phiếu phổ thông chừng một điểm rưỡi. Thăm dò cho thấy cử tri nam, và cả nữ nghiêng hẳn về phía Donald Trump.

Hai người phụ nữ, hai chiến lược, một kết cục.

Người Mỹ Tân Tiến?

Tờ The New York Times từng nhận định vào tháng 12/2024 rằng "hiếm có đảng viên Dân chủ nào phủ nhận việc định kiến giới tính là một yếu tố tác động,” đồng thời cho biết thêm một số đảng viên Dân chủ muốn đảng mình tránh đề cử phụ nữ vào năm 2028 do "sự ảnh hưởng dai dẳng của định kiến giới tính đối với cử tri Mỹ.”

Một cuộc thăm dò do Viện Phụ nữ & Chính trị thuộc Đại học American công bố vào tháng 10/2025 cho thấy những thách thức mà các nữ ứng cử viên phải đối mặt: cứ 10 cử tri thì có bốn người cho biết họ quen biết ai đó sẽ không bỏ phiếu cho phụ nữ làm tổng thống.

Tuy nhiên, cũng có những tín hiệu đáng khích lệ. Kết quả thăm dò cho thấy: “Quan điểm của cử tri ủng hộ mạnh mẽ việc tăng cường sự hiện diện của phụ nữ trong chính trường. Cụ thể, có tới 83% số người được hỏi tin rằng việc bầu thêm phụ nữ là điều quan trọng, và hơn một nửa cho rằng hiện nay số lượng phụ nữ nắm giữ các chức vụ còn quá ít.”

Sau thất bại của bà Harris, nỗi bi quan lan rộng. Thăm dò mới của Trung Tâm Nghiên Cứu Pew cho thấy 37% người Mỹ nay cho rằng khó hoặc không thể có nữ tổng thống trong đời họ, tăng từ 26% năm 2023, trong khi tỷ lệ tin rằng điều đó rất có khả năng xảy ra giảm từ 25% xuống 17%.

Hồi tháng 11/2025, cựu Đệ nhất Phu nhân Michelle Obama nói trong chương trình Podcast của bà rằng “nước Mỹ chưa sẵn sàng cho một nữ tổng thống.”

Trong một cuộc phỏng vấn trên chương trình Let’s Talk Off Camera with Kelly Ripa của đài SiriusXM đầu tháng 8, người dẫn chương trình Kelly Ripa đã hỏi cựu Đệ nhất Phu nhân Jill Biden rằng, liệu bà có nghĩ rằng chúng ta sẽ được chứng kiến một nữ tổng thống trong cuộc đời mình hay không? Bà Jill Biden, năm nay 75 tuổi, đã trả lời: "Tôi cảm thấy có lẽ sẽ không phải trong cuộc đời tôi đâu, Kelly, nhưng có thể là trong cuộc đời của cô."

Như luật bất thành văn, định kiến giới trong chính trường Mỹ hiếm khi lộ mặt. Nó len lỏi qua những kỳ vọng. Giới nghiên cứu gọi đó là "thế tiến thoái lưỡng nan" (double bind): người phụ nữ mạnh mẽ thì bị cho là khó ưa, người phụ nữ dịu dàng thì bị cho là yếu đuối. Cử tri thường mặc nhiên coi đàn ông là đủ năng lực cho đến khi có bằng chứng ngược lại. Phụ nữ thì phải chứng minh trước. Và chức vụ tổng thống còn mang một danh xưng đặc biệt, Tổng Tư Lệnh Quân Đội, vai trò gắn chặt nhất với hình ảnh cứng rắn của phái nam.

Những định kiến ấy không tự nhiên mà có. Chúng lớn lên trong một xã hội nơi phụ nữ từng chỉ kiếm được khoảng 83 xu cho mỗi đồng đô la của đàn ông, chỉ nắm chừng 1/4 số ghế Quốc Hội, và chỉ điều hành khoảng 1/10 các công ty trong danh sách Fortune 500. Chúng tồn tại trong một quốc gia vừa 250 tuổi, nhưng phụ nữ Mỹ chỉ được quyền tự do mở tài khoản ngân hàng và vay tín dụng mà không cần chồng hoặc nam giới đồng ký tên từ năm 1974, sau khi Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Cơ hội Tín dụng Bình đẳng (Equal Credit Opportunity Act).

Từ khi Tối Cao Pháp Viện hủy bỏ án lệ Roe v. Wade năm 2022, cuộc giằng co về quyền tự quyết thân thể của phụ nữ đã thành mặt trận trung tâm của chính trường. Khi AOC gọi chính quyền hiện nay là thụt lùi, bà đang mô tả một bầu không khí mà chỗ đứng của phụ nữ chưa hề được an bài, mà vẫn đang bị giành giật từng tấc.

Thế Giới Đã Đi Trước

Trong khi đó, phần lớn thế giới đã dừng đặt câu hỏi, và hành động. Anh Quốc đã có ba nữ thủ tướng. Bà Angela Merkel lãnh đạo nước Đức 16 năm. Ấn Độ, Pakistan, Do Thái, New Zealand đều từng có phụ nữ đứng đầu. Năm 2024, Mexico, đất nước mà người Mỹ hay gán cho cái tiếng "trọng nam," đã bầu bà Claudia Sheinbaum làm “tổng tư lệnh” với số phiếu áp đảo. Năm 2025, Nhật Bản, một trong những nền dân chủ nặng tính gia trưởng nhất thế giới phát triển, đã có nữ Thủ Tướng Sanae Takaichi.

Để ý sẽ thấy, nhiều "người đầu tiên" ấy đến từ cánh hữu.

Bà Thatcher, bà Takaichi đều là người bảo thủ. Một phụ nữ bảo thủ hóa giải được định kiến "mềm yếu về an ninh" vốn đeo bám phụ nữ cấp tiến. Rất có thể nữ tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ sẽ là một người Cộng Hòa chăng? Điều sẽ khiến không ít người ngỡ ngàng khi vẫn tưởng phá trần kính là việc riêng của đảng Dân Chủ?

Lịch Sử Không Chờ Chúng Ta

Bà Hillary Clinton được nhiều phiếu hơn đối thủ. Một đất nước mà đa số cử tri chọn một phụ nữ thì không phải là đất nước ruồng rẫy phụ nữ. Đó là đất nước mà Đại Cử Tri Đoàn tùy thuộc vào vài tiểu bang chiến trường, nơi thắng thua chỉ tính bằng vài chục ngàn lá phiếu. Bà Kamala Harris, với cuộc vận động bị rút ngắn giữa cơn sóng chống đương nhiệm toàn cầu, chỉ thua phiếu phổ thông chừng một điểm rưỡi. Phụ nữ chiếm hơn một nửa cử tri và đi bầu đông hơn nam giới.

Nhưng có thể không có nghĩa là tất yếu. Càng không phải cứ ngồi chờ là đến. Nữ tổng thống đầu tiên có lẽ phải tự định nghĩa mình trước khi đối thủ kịp định nghĩa thay. Người đó không cần giấu giới tính, nhưng cũng không nên xây cả cuộc vận động trên đó. Người đó phải nói được với những người đàn ông lao động, nhóm cử tri quay lưng mạnh nhất với bà Harris, bằng ngôn ngữ của đồng lương, an toàn và phẩm giá. Và người đó cần một năm mà lòng dân muốn thay đổi chứ không trừng phạt sự thay đổi.

AOC có phải là người ấy không? Kamala Harris có học được bài học đau đớn cũ không? Đó là câu hỏi chưa có câu trả lời. Khó có câu trả lời. AOC là người có tài ăn nói, có một khối ủng hộ trung thành, nhưng cũng là một trong những nhân vật gây chia rẽ nhất chính trường Mỹ, và sẽ phải gánh cùng lúc bốn chữ “trẻ tuổi, cấp tiến, phụ nữ, Latinh” vào cuộc tổng tuyển cử.

Khi AOC cởi mở nói về những tính toán ấy cho thấy cô hiểu rõ điều đó.

Dù chưa có câu trả lời, nhưng câu tự sự của AOC xứng đáng là lời kết, vì trong đó đã có câu trả lời. Sự sẵn sàng không phải là nguyên nhân của chiến thắng. Nó là kết quả. Với phụ nữ, chắc chắn cũng vậy. Nước Mỹ sẽ không bầu nữ tổng thống đầu tiên khi nó sẵn sàng. Nước Mỹ sẽ sẵn sàng vào chính ngày bầu người ấy lên.

Cuộc đời, như lời AOC, không chờ ai sẵn sàng. “Thời gian thấm thoắt thoi đưa, nó đi đi mãi có chờ đợi ai.” Lịch sử cũng thế!
 
Kalynh Ngô

Con chó Taichito đã theo sát Aung San Suu Kyi suốt bao năm. Nhưng nó không được phép đi theo bà vào nhà giam khi quân đội lật đổ chính quyền của bà cách đây năm năm. Tháng trước, con chó tai cụp ấy chết tại nhà bà ở Yangon, thủ đô cũ, thọ 15 tuổi, vẫn như còn chờ bà trở về. Nó là món quà người con trai, Kim Aris, tặng mẹ khi bà ra khỏi nhà giam lần trước, năm 2010. “Tôi nghĩ đó là điều tốt nhất tôi từng tặng bà. Nó rất trung thành với bà,” ông Aris nói trong một cuộc phỏng vấn tại Luân Đôn.
Tôi cũng đã đến Mỹ như là một di dân tị nạn sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào cuối tháng 4/1975, sống trong trại tị nạn Camp Pendleton cùng với hàng vạn người Việt khác sau khi rời bỏ quê hương trong hoảng loạn và lo sợ. Năm đó chẳng có lễ hội, chẳng có pháo hoa mừng Lễ Độc lập 4/7 trong trại vì mọi người ai cũng đang lo nghĩ khi nào sẽ được đi định cư, băn khoăn về tương lai trên đất mới sẽ làm gì để sống, có được tiếp tục đi học, người Việt có bị kỳ thị không. Lúc đó có tin loan truyền là bang California không muốn cho người Việt định cư nên không biết tương lai sẽ về đâu, gian truân ra sao. Người quen của tôi gặp nhau trong trại, có anh đi Seattle, bang Washington, có anh về Napa, ở miền bắc California hay có chị về Downey ở nam California. Bạn ở chung lều trại người đi bang Colorado, người về San Francisco, mấy anh lính hải quân ra tận hải đảo Hawaii. Nhìn quanh thấy người Việt được định cư khắp nơi trên nước Mỹ.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa thế hệ Gen Z và một thế hệ người Mỹ đã quá chán nản với những con đường mòn rập khuôn, nỗi sợ hãi không dám “lệch đảng.” Ở Gen Z, họ có một nguồn năng lượng mà những chiếc ghế lâu năm ở Quốc Hội không thể có. Kết quả của bầu cử sơ bộ 2026 ở tiểu bang Colorado đã cho thấy khá rõ nét điều này. Một thế hệ Gen Z cho rằng "hệ thống đã đổ vỡ và chúng tôi nhận ra sẽ không có ai đến cứu chúng tôi ngoài chính chúng tôi.”Họ, là những người sinh trưởng trong gia đình di dân.
Mấy tuần đầu World Cup trên đất Mỹ là một chuyện lạ: giải đấu diễn ra đã vài tuần mà tên Donald Trump ít được nhắc đến. Người ta coi bóng, bàn luật, uống bia và cãi nhau, khán giả quốc tế thấy nước Mỹ tổ chức một kỳ bóng đá vui vẻ, tử tế. Ông tổng thống thì bận mừng 250 năm nước Mỹ, chưa để mắt vào sân bóng. Nhưng đâu dễ “too good to be true” như thế. Thẻ đỏ của Folarin Balogun xảy ra vài ngày trước, trong trận gặp Bosnia: anh tranh bóng với hậu vệ Tarik Muharemović. Xem nhanh, pha bóng chẳng có gì đặc biệt. Vào phòng VAR, quay chậm cho thấy mũi giày cà xuống sau ống chân, cổ chân xoắn lại. Trọng tài rút thẻ đỏ. Theo luật, thẻ đỏ ở World Cup thì trận sau nghỉ. Không kháng cáo, không ngoại lệ. Lẽ ra chuyện kết thúc ở đó.
Tổng thống Donald Trump đến Ankara với đe dọa hơn là củng cố quan hệ với NATO. Ông văng ra những điều khó nghe, sẽ rút quân Mỹ khỏi châu Âu nếu không chiếm được Greenland, vô cùng bất mãn vì các nước Âu châu không tham gia chiến tranh Iran, và tuyên bố cắt hết mậu dịch với Tây Ban Nha. Nhưng trước khi ra về, ông lại nói đến “tình bằng hữu to lớn” giữa các đồng minh.
Dĩ nhiên, mỗi người Mỹ hôm nay sẽ có cách riêng để hiểu và thể hiện lòng yêu nước của mình. Lễ Độc Lập năm nay còn đánh dấu cột mốc 250 năm ngày một bản Tuyên ngôn đặt nền cho nước Mỹ ra đời – vì vậy, hai chữ “lòng yêu nước” lại trở thành khẩu hiệu đầu môi. Nhưng giữa pháo bông và diễu hành, giữa những lá cờ bay trên sân vận động và những đứa trẻ từ chối hát quốc ca, người Mỹ nói chung, và người Mỹ gốc Việt nói riêng thật sự nghĩ gì về lòng ái quốc?
Ngày 4 Tháng Bảy năm nay, Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tròn 250 tuổi. Đó là một con số thiêng liêng. Một phần tư thiên niên kỷ. Người Mỹ nào cũng hiểu rằng ngày 4 Tháng Bảy mang ý nghĩa lớn lao hơn nhiều so với cá nhân của mỗi người, ở một góc độ nào đó. Đó là dịp để tôn vinh nền dân chủ và vai trò công dân – ai cũng bình đẳng trong nền dân chủ ấy. George Washington thấu hiểu sâu sắc điều này. Trong bản di chúc của mình, ông tự mô tả bản thân là “một công dân Hoa Kỳ, và từng là tổng thống của quốc gia này.” Ông trân trọng danh phận công dân Mỹ, một danh xưng mà chính ông cùng các nhà cách mạng Mỹ khác đã góp phần tạo dựng, và coi trọng vị thế đó hơn cả vinh dự nhất thời của chức vụ tổng thống. Trong Tuyên Ngôn Độc Lập, Abraham Lincoln từng nói rằng mọi quan điểm chính trị của ông đều "bắt nguồn từ những tư tưởng được thể hiện trong Tuyên Ngôn Độc Lập.” Ông tin tưởng tuyệt đối sứ mệnh của nước Mỹ là trút bỏ "gánh nặng khỏi đôi vai mọi người.”
Trong chính trị đương đại, có hai mô hình dân chủ chân chính. Đó là tổng thống chế như tại Hoa Kỳ và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Hoa Kỳ như Brasil, Argentina, hay quốc hội chế (hoặc đại nghị chế) tại Anh Quốc và những nền dân chủ chịu ảnh hưởng Anh Quốc như Canada, Úc.
Cách đây mười năm, ngày 23 tháng 6 năm 2016, với khẩu hiệu chủ đạo “Người dân phải giành lại quyền kiểm soát”, phe vận động Brexit đã muốn giành lại quyền tự chủ mà theo họ đã bị Liên minh châu Âu (EU) tước đoạt, đồng thời kiểm soát chặt chẽ hơn biên giới của nước Anh...
Sự khác biệt giữa chủ nghĩa xã hội dân chủ và chủ nghĩa cộng sản là một hệ thống giữ gìn dân chủ và một hệ thống hủy diệt dân chủ. Chủ nghĩa cộng sản, như đã thực sự được dựng lên trong suốt thế kỷ 20, nghĩa là sự cai trị độc đảng, việc xóa bỏ sở hữu tư nhân, một nền kinh tế chỉ huy, và sự trấn áp bất đồng chính kiến cùng tôn giáo. Chủ nghĩa xã hội dân chủ nghĩa là thắng cử, mở rộng nhà nước phúc lợi, và chấp nhận – theo đúng định nghĩa – rằng bạn có thể bị phế truất bằng lá phiếu. Cái thứ nhất chấm dứt dân chủ, cái thứ hai phụ thuộc vào dân chủ. Toàn bộ ý nghĩa của chữ dân chủ, được thêm vào một cách có chủ ý từ một thế kỷ trước, chính là để đánh dấu bức tường ngăn cách đó.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.