Hôm nay,  

Ghen giùm

20/09/202212:06:00(Xem: 6129)

Truyện ngắn

chui-nhau

Hồi mới vượt biên vào trại tỵ nạn Thailand, tôi làm thiện nguyện tại văn phòng bưu điện của trại. Cuối giờ trưa hôm ấy vắng khách, nhìn qua cửa sổ thấy chị Ngao và mấy chị cùng lô nhà tôi, đang tụm lại nói chuyện gì đó rất nghiêm trọng, rồi lại nhìn vào phòng bưu điện như có ý chờ đợi ai. Tôi bước ra ngoài, chị Ngao liền tiến tới: –

 

– May quá, em rảnh không, chị nhờ chút chuyện?

 

– Dạ chị cứ nói, nếu trong khả năng em làm liền à.

 

Chị Ngao lưỡng lự:

 

– Không biết em có chịu giúp hay không nữa?

 

– Thì chị nói ra em mới biết chớ.

 

– Vậy em có thấy con Liễu không? Cái con bận bộ đồ hồng mới lãnh thư bưu điện cách đây mấy phút.

 

– À, chị đó em biết, vì hầu như tháng nào chỉ cũng lên lãnh thư bảo đảm, thân nhân gửi tiền đều đặn lắm.

 

– Chồng nó bên Mỹ đó, nó qua đây với thằng con tên Tí, 7 tuổi.

 

– Vậy à? Mà chị tính nhờ em chuyện gì?

 

– Thủng thẳng cái đã, để chị nói cho có đầu có đũa đàng hoàng, em có biết ông Sỹ không? Cái ông không đi lính ngày nào nhưng khoái bận quần rằn ri và nổ banh cái nhà lồng, là đại uý Việt Nam Cộng Hoà đó.

 

Tôi liền ngắt lời:

 

– Khoan khoan, sao chị biết người ta không đi lính mà nói chắc như bắp vậy?

Chị Ngao trề môi:

 

– Xời ơi, trại tỵ nạn mà, đừng tưởng dễ qua mắt thiên hạ. Quá khứ ở Việt Nam ra sao cũng có người này người kia biết hết trơn.

 

Tôi đùa:

 

– Chị hay thiệt. Bao nhiêu chuyện đời thập phương tứ phía là phải qua cái “đài phát thanh quán chè”của nhà chị hen?

 

Chị Ngao nheo mắt:

 

– Còn nhiều bí mật động trời của nhiều người nữa, bữa nào rảnh chị kể cho em nghe. Mà nãy giờ mình nói tới đâu rồi?

 

– Tới chỗ ông Sỹ khoái mặc quần rằn ri, mà có liên quan gì tới chị Liễu hả chị?

 

– Có chớ sao không, họ cặp bồ với nhau, nên bây giờ mới có chuyện cần em giúp nè.

 

Rồi chị Ngao mỉm cười, bí hiểm:

 

– Chỉ có em mới giúp được thôi nhe. Lần tới con Liễu lên lãnh thư, em ráng chép lại cái địa chỉ thằng chồng nó cho chị, được hôn?

 

– Trời đất! Em không dám đâu. Mà chị cần để làm gì?

 

– Vì chị muốn viết thư cho thằng chồng, cho nó biết nó đang bị con vợ nó cắm sừng!

 

– Mà chị có bà con gì với họ không? Chị lấy tư cách gì mà viết thư?

 

Chị Ngao ú ớ:

 

– Ờ… tư cách người chung trại!

 

– Theo em nghĩ, mình là người ngoài cuộc, nào biết bên trong thực sự ông Sỹ và chị Liễu ra sao?

Chị Ngao hậm hực:

 

– Nhưng ngứa mắt lắm, lần nào lãnh tiền cũng nấu nướng ăn uống rộn ràng, thấy ghét!

 

Tôi nhận thấy trong lời nói là sự ganh ghét của phụ nữ thường tình. Chị Ngao qua đây với chồng và hai đứa con, không có thân nhân nước ngoài viện trợ nên mở quán chè trong trại buôn bán qua ngày, thành ra thấy chị Liễu lãnh tiền đều đều nên… không vui.

 

Tôi tiếp:

 

– Chị nghĩ xem, chị qua đây có chồng lo các việc nặng nhọc, còn chị Liễu một thân một mình, con thì nhỏ, nên đôi lúc cần người giúp các việc chân tay.

 

Chị Ngao có vẻ hơi cảm động, tôi cười cười:

 

– Em bảo đảm nếu chị đi vượt biên một mình, với bản tính vui vẻ tốt bụng, chắc chắn cũng có mấy ông bám theo, biết đâu chị cũng xiêu lòng rồi á. Nói nhỏ nhe, em thấy ông Thừa lô đối diện hay ngắm chị đứng múc chè cho khách lắm đó, hèn chi ổng đến quán chị hoài.

 

Chị Ngao mắc cở, đấm vai tôi:

 

– Quỷ sứ! Vậy mà cũng giỡn được hà…

 

– Thiệt chứ giỡn gì. Tóm lại mình không cổ vũ chuyện tình ngoài vợ ngoài chồng, nhưng trại tỵ nạn phức tạp quá. Hơn nữa, nếu chị nhúng tay vào, biết đâu gia đình chị Liễu sẽ tan nát, mà chị là Phật tử đi chùa mỗi ngày, ai lại gây nghiệp xấu như vậy, đúng hôn?

 

Chị Ngao coi vậy mà dễ dụ, liền gật gù rồi vẫy mấy chị kia lại:

 

– Thôi về bay ơi, bỏ luôn “plan B” nha.

 

Tôi thắc mắc:

 

– Plan B là gì nữa đây?

 

Chị Ngao thú nhận:

 

– Chẳng giấu gì em, tụi chị tính nếu em không giúp thì tụi chị sẽ rình buổi tối, lúc con Liễu dẫn thằng Tí đi chùa, tụi chị sẽ đột nhập vô nhà nó ăn cắp thư.

 

– Cái đó càng không được nghen! Chị Liễu bắt gặp, thưa lên Cộng Đồng là coi như mấy chị vào ăn cơm tù.

 

Rồi trại có biến động, biểu tình, thời gian sau đó là chuyển trại lên Sikiew. Một buổi chiều, tôi gặp lại chị Ngao. Hai chị em mừng rỡ kể nhau nghe tình hình chuẩn bị thanh lọc. Tôi chợt nhớ chị Liễu và hỏi thăm, chị Ngao lắc đầu:

 

– Kết cục buồn lắm em ơi.

 

– Có chuyện gì xảy ra hở chị?

 

Chị Ngao thở dài:

 

– Vợ ông Sỹ ở Việt Nam bị xe đụng chết, ổng chưa có kết quả thanh lọc nhưng vẫn quyết định ghi danh hồi hương về Việt Nam an ủi và chăm sóc mấy đứa con mồ côi.

 

– Em cũng thấy tội cho ông Sỹ, và mừng vì ổng là một người cha có tình thương với con cái. Còn chị Liễu, đã sẵn sàng giấy tờ thanh lọc chờ ngày đoàn tụ chồng chưa?

 

Chị Ngao xua tay, lắc đầu:

 

– Nếu được vậy thì nói làm chi nữa.

 

– Chị nói vậy là sao? Có gì chị nói ra hết một lần cho em nghe, chớ đừng nhỏ giọt úp úp mở mở, nóng ruột bắt mệt.

 

– Thì em cứ nhảy vào họng chị liền liền, có cho chị nói đâu nà! Mới tuần trước, chồng con Liễu gửi thư qua thú tội, hồi mới đến Mỹ, cũng vì cô đơn xứ người mà có người đàn bà khác, có một thằng con trai với nhau rồi. Khi con Liễu và thằng Tí tới trại, ổng âm thầm làm giấy bảo lãnh, gửi thư gửi tiền hàng tháng. Nào ngờ con mụ kia mới phát hiện ra, ghen ngược, không cho liên lạc và huỷ luôn giấy tờ bảo lãnh.

 

– Có chuyện đó nữa à?

 

– Thì bởi! Con Liễu khóc hết nước mắt, rầu thúi ruột. Tiền bạc không có thì cơm Cao Uỷ nuôi cũng đủ no, nhưng cái vụ giấy tờ gãy gánh, sợ nó bị rớt thanh lọc, u ám lắm.

 

– Chị về khuyên chị Liễu đừng thất vọng. Khi đi thanh lọc, cứ mang hết hôn thú, thơ từ hình ảnh gia đình, giấy bảo lãnh, cũng như lá thư cuối cùng thú tội, nói chung là “có sao khai vậy người ơi”, em tin rằng chị Liễu sẽ đậu thanh lọc vì chính sách nhân đạo.

 

Chị Ngao mừng rỡ:

 

– Em nghĩ là có hy vọng sao?

 

– Đúng vậy, dù gì thì còn thằng con, nó phải đoàn tụ ba nó, người ta nhân đạo mà chị.

– Ừ, để chị lựa lời an ủi cho con Liễu lên tinh thần.

 

Tôi tính bước đi, chị Ngao bỗng níu tay tôi:

 

– Kỳ này dứt khoát chị phải kêu con Liễu đưa địa chỉ chồng nó cho chị đó nghen.

Tôi nhăn mặt:

 

– Chi nữa?

 

Chị Ngao mỉm cười, đắc thắng:

 

– Để chị viết thư chửi cái con đờn bà cướp chồng kia một trận, em đừng có cản nha!

 

Thời gian trôi qua thật mau, mới đây đã gần ba mươi năm. Tôi vừa liên lạc được với chị Ngao trên Facebook, và bất ngờ hơn là chị đang ở chung thành phố Everett tiểu bang Washington với chị Liễu. Chị mở màn cuộc nói phone với giọng hồ hởi:

 

– Vui lắm em ơi! Thực ra hồi đó thằng chồng con Liễu sau khi gửi lá thư thú tội, đã kiên quyết tranh đấu với vợ mới, tiếp tục gửi tiền tiếp tế và giấy cam kết bảo trợ thằng Tí, nên hai mẹ con nó được đậu thanh lọc qua Mỹ. Rồi ổng ra điều kiện với vợ mới, là ổng phải có trách nhiệm lo cho thằng Tí ăn học thành tài, nên kêu con Liễu dọn về Everett này, cách nhà ổng bên Seattle nửa tiếng lái xe. Còn gia đình chị ban đầu qua định cư ở Arizona, rồi con Liễu kéo lên đây cùng mở tiệm Nails cho tới giờ.

 

– Vậy thì quá vui rồi, còn chị Liễu thì sao, có lập gia đình khác không?

 

– Thì cũng phải có chớ. Chồng mới của Liễu hiền lành, làm công nhân trong hãng máy bay Boeing cũng khá, hai vợ chồng có đứa con gái, đang học lớp 12. Còn thằng Tí, giờ đã trên ba mươi, sau khi ra trường nghành Tâm Lý, đang làm cho nhà thương quân đội chính phủ liên bang Mỹ, sắp cưới vợ.

 

– Đúng là một kết thúc có hậu, như trong phim.

 

– Chị chưa nói xong thân bài mà em đã kết luận là sao?

 

– Ủa, còn nữa hở chị?

 

– Sao không?! Vài tháng trước, ông chồng cũ của con Liễu bất ngờ bị stroke khi bà vợ đi Việt Nam lo tang cha chưa kịp về, một tay con Liễu chăm lo cho ổng ở bệnh viện, cũng may là ổng mau chóng bình phục. Khi bà vợ về tới, ổng họp mặt “gia đình”, đầy đủ vợ cũ vợ mới, con trước con sau, một lần nữa dốc hết tâm tư ruột gan. Rằng vì hoàn cảnh đất nước, chúng ta chạy trốn cộng sản liều thân vượt biển tìm đất mới tự do. Từ đó xảy ra chia lìa, cách ngăn, và ổng đã yếu lòng mà làm tổn thương hai người phụ nữ và hai đứa con máu mủ. Nhờ ơn trên, nhờ nước Mỹ cưu mang, mọi người đã vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống, có những thành công cũng như lòng bao dung như ngày nay. Ổng đã bàn bạc với vợ, để di chúc chia đều cho thằng Tí và thằng em cùng cha khác mẹ của nó số tiền trong 401K của ông hơn tám trăm ngàn dollars (tiền ổng dành dụm mấy chục năm làm kỹ sư hãng Microsoft). Căn duplex ở Everett đang cho thuê, cũng chia cho hai thằng con. Hai vợ chồng ổng chỉ giữ lại căn nhà đang ở tại Seattle, khi về hưu dưỡng già cùng một số tiền khác trong ngân hàng.

 

– Wow!! Chị cho em kết luận được chưa nà? Ba thằng Tí thiệt là người đàn ông có lương tâm đạo đức, thương con hết mình và đoạn kết câu chuyện đẹp hơn mơ ước. Coi như bấy lâu nay chị thất nghiệp hen?

 

Chị Ngao thắc mắc:

 

– Em nói gì chị không hiểu? Gia đình chị từ trại qua đây chỉ ăn welfare và food stamps một hai năm đầu, rồi cùng Liễu mở tiệm nails, bây giờ tách ra riêng, mỗi người làm chủ hai tiệm, chưa bao giờ ế khách, ngoại trừ thời gian tránh dịch Covid, sao gọi là thất nghiệp?

 

Tôi cười lớn:

 

– Ý của em là hai gia đình cũ, mới của chị Liễu đều hạnh phúc ấm êm, không xào xáo, nên chị mất cái job “ghen giùm” như hồi ở trại á.

 

Chị Ngao hiểu ra, trước khi cúp phone còn kịp quở tôi:

 

– Quỷ sứ! Lúc nào cũng giỡn được à!!

 

Kim Loan

 

 

 

Ngày triển lãm: từ 28 tháng 8 đến 25 tháng 10, năm 2026 Tiếp tân khai mạc: Thứ Bảy, 29 tháng 8, 11am - 2pm RSVP: https://bit.ly/MakeitHomeReception Huntington Beach Art Center 538 Main St, Huntington Beach, CA 92648 Giờ mở cửa phòng triển lãm: Thứ Ba: 12pm-8pm; Thứ Tư và thứ Năm: 12pm-6pm; từ Thứ Sáu đến Chủ Nhật: 12pm-5pm
LTS: Buổi Ra Mắt Các Tuyển Tập Thơ, Truyện, Nhạc, Phê Bình Văn Học của Ngu Yên sẽ được tổ chức tại Little Sài Gòn vào chiều Chủ Nhật, 23 tháng 8, lúc 3:30 giờ chiều tại Coffee Factory. Việt Báo và Ngu Yên thân mời quý văn hữu, thân hữu, độc giả đến tham dự, gặp gỡ và hội thoại với tác giả. Trong loạt bài viết sắp tới về chương trình RMS, Vũ Tiến sẽ lần lược giới thiệu những cuốn sách mới sắp "trình làng". Mời bạn đọc cùng bước vào trang sách với bài thứ nhất, về Làng Sơn Dầu.
Tôi được họa sĩ Paulina Đàm tặng một tập sách ảnh có tên Purple Skies gồm 21 bức tranh trừu tượng biểu hiện của cô, và một số bài thơ của các tác giả xen kẽ với tranh mang tính minh họa ý nghĩa các bức tranh này. Tôi quen biết họa sĩ Paulina không lâu, và cũng chưa từng có dịp xem tranh của cô. Tuy nhiên, dẫu tập sách ảnh có những hạn chế trong việc trình bày tranh nhưng với tôi đấy cũng là một kiểu triển lãm bỏ túi, và tôi rất thích thú với những tấm tranh đặc trưng trừu tượng biểu hiện (abstract expressionism) này của Paulina. Tôi không phải là người phê bình hội họa mà chỉ là kẻ thích xem tranh thế thôi. Nghệ thuật ngoài hình thái văn học, âm nhạc, tôi đặc biệt thích thú tranh vẽ, và lúc nào cũng mang đầy ắp tâm trạng của kẻ khao khát một chân trời mỗi khi được xem tranh.
Andrew Lloyd Webber, người được xem như nhà soạn nhạc thành công nhất của sân khấu nhạc kịch hiện đại, nay lại tìm đến một đề tài nghe qua tưởng chừng đã quen: câu chuyện bức Mona Lisa một lần âm thầm rời khỏi Louvre rồi bặt vô âm tín suốt hơn hai năm trời. Khán giả yêu nhạc kịch đã thuộc nằm lòng những “giấc mộng giữa ban ngày” của Lloyd Webber: hồ nước ngầm dưới Nhà hát Opera Paris, bầy mèo Jellicle mong được bước sang cõi Heaviside, hay vị pharaoh Ai Cập cất tiếng ca như Elvis nói mộng. Nay, thay vì những nhân vật hư cấu, ông muốn kể chuyện một hình ảnh thật. Với dự án mới, ông quay sang một “biểu tượng thị giác” quen thuộc, thay vì những nhân vật hư cấu, ông muốn kể chuyện một hình ảnh thật, nhưng đã hóa biểu tượng đến mức gần như siêu thực: nụ cười Mona Lisa.
Ngày 31 tháng 5 năm 2026, nhằm ngày Rằm tháng 4 năm Bính Ngọ, là ngày Lễ Phật Đản, kỷ niệm ngày đức Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ra đời cách nay 2650 năm tại nước Ca-tỳ-la-vệ ở phía bắc Ấn Độ. Ngày đức Phật ra đời đánh dấu một cột mốc lịch sử quan trọng trong thế giới của chúng ta, bởi vì đức Phật là người đã mở toang cánh cửa tự do cho nhân loại. Nạn kỳ thị giai cấp trong xã hội Ấn Độ thời Phật rất phổ biến và khắc nghiệt. Giai cấp tăng lữ Bà-la-môn đứng trên đỉnh xã hội vì nắm độc quyền tâm linh và tế tự theo truyền thống thánh điển Vệ-đà. Chỉ có giai cấp Bà-la-môn mới có được quyền mặc khải từ thần linh để giảng giải và thực hành lễ nghi tế tự. Tiếp theo là giai cấp Sát-đế-lợi thuộc thành phần vua chúa quan quyền, rồi tới giai cấp Phệ-xá là thành phần làm ăn buôn bán và lao động, và sau cùng là giai cấp Thủ-đà-la là thành phần công dân hạng tư và bị đối xử như nô lệ. Nhưng đức Phật không thừa nhận sự phân biệt và kỳ thị giai cấp đó khi Ngài nói rằng con người sinh ra vốn bình đẳng như
Bức Mona Lisa của Leonardo da Vinci sẽ được đưa sang một không gian trưng bày riêng tại Viện Bảo Tàng Louvre, trong một kế hoạch đại trùng tu lớn nhằm giảm cảnh chen chúc, tăng an ninh và sửa chữa hạ tầng tại viện bảo tàng đông khách nhất thế giới. Theo Christian Thorsberg, viết trên Smithsonian Magazine ngày 19 tháng 5 năm 2026, giới chức Pháp vừa chọn nhóm kiến trúc sư quốc tế đảm trách công trình được mô tả như một “thời Phục Hưng mới” cho Louvre. Dự án có thể tốn tới $1 tỷ, với mục tiêu giải quyết tình trạng quá tải kéo dài nhiều năm qua.
Lebanon, nơi dân số ước tính năm 2021 là 5,592,631 người, trong đó 95% là sắc tộc Ả Rập, 4% là sắc dân Armenian, 1% các sắc dân khác. Nhưng chính tôn giáo dị biệt cũng là một cội nguồn chia rẽ: 28.7% theo Hồi giáo Sunni, 28.4% Hồi giáo Shia, 0.6% các hệ phái Hồi giáo khác; 22% Công giáo hệ Maronite, 8% Chính thống giáo Hy lạp, 5.2% theo đạo Druze, 1% Tin lành Phúc âm, và còn lại là các tôn giáo khác. Lịch sử hiện đại của Lebanon là một quá trình chuyển mình từ hình ảnh “Thụy Sĩ của Trung Đông” sang một quốc gia được định hình bởi sự kiên cường giữa bối cảnh sụp đổ toàn diện của hệ thống. Được lập quốc vào năm 1920 với tên gọi Đại Lebanon dưới sự ủy trị của Pháp, quốc gia này đã giành được độc lập vào năm 1943. Hệ thống chính trị độc đáo của đất nước—dựa trên “Hiệp ước Quốc gia” về chia sẻ quyền lực giữa các giáo phái—ban đầu đã kiến tạo nên một thời kỳ hoàng kim của sự thịnh vượng về văn hóa và tài chính. Sự ổn định này đã tan vỡ vào năm 1975 với sự bùng nổ của cuộc Nội chiến kéo dài
Nhiếp ảnh không còn là việc ghi lại thế giới như nó tồn tại. Trong thời đại đương đại, máy ảnh đã trở thành một công cụ tư duy, một phương tiện để người cầm máy đặt câu hỏi, phản biện, và kiến tạo ý nghĩa. Mỗi lần bấm máy là một lần người chụp lựa chọn: lựa chọn cái gì được nhìn thấy, cái gì bị cắt ra ngoài khung hình, khoảnh khắc nào xứng đáng tồn tại mãi mãi. Đó là một quyền lực nhỏ nhưng đầy tính triết học.
Có những bài hát viết để ru người ngủ. Có những bài hát viết để kể chuyện tình. Và có những bài hát viết để không ai có thể quên. Thời Hoàng Hôn Của Ý Niệm của Hà Thúc Sinh là ca khúc để nhớ, nhưng không phải vì nó đẹp đến mức người ta không thể quên, mà vì nó đau đến mức người ta không thể không nhớ. Đây là một bài hát mà nghe xong, người ta không muốn nghe lại, nhưng không thể nào xóa được khỏi tâm trí. Đây là loại nghệ thuật mà Adorno đã từng nói tới khi ông viết về văn học sau Auschwitz: nghệ thuật không còn để mua vui, mà để làm chứng cho những điều đáng lẽ ra không nên xảy ra.
Mới ngày nào chỉ là một ý tưởng, vậy mà VAALA Viet Book Fest năm nay đã bước vào năm thứ Năm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.