Hôm nay,  

Nhạc Trong Tù

12/21/202213:18:00(View: 4571)



Ai trong chúng ta khi vào trong nhà tù lớn nhỏ của cộng sản mà lại không nhiều lần ngân nga, hát nho nhỏ trong miệng những bản nhạc quen thuộc, hay đôi khi chỉ ư e những âm điệu bổng đến khi nhớ về người thân. Đôi khi, lợi dụng lúc được thăm nuôi, tình trạng chung có phần cởi mở đôi chút, từng nhóm nhỏ tù nhân ngồi xoay tròn bên nhau, chia nhau chút quà, san sẻ niềm vui được thương yêu, ca hát nho nhỏ cho nhau nghe. Đa số những bản nhạc thuộc loại tình cảm, mà CS kêu là nhạc vàng, cấm đoán vì cho chúng là đồi trụy, phản cách mạng. Đặc biệt có nhiều bạn tù rất tài hoa, không những hát hay, giạng hát rất tình cảm mà lại còn thuộc lời của nhiều bản nhạc, thường tự động thay phiên nhau trình diễn với cả tấm lòng, như thầm muốn gởi lời ca tiếng hát đến cho người mình yêu thương ở nơi xa. Trong những bản nhạc  diễn tả tâm trạng buồn như thương nhớ người yêu, những kỷ niệm của đôi lứa, hoặc về thất tình, lo sợ mất người yêu, thường được hát nhiều là những bản như “Tôi Đưa Em Sang Sông”, “Sang Ngang”, “Kỷ Vật Cho Em”, “Tình Ca Người Mất Trí”, “Mùa Xuân Không Còn Nữa”…

Ai cũng biết trong trại tù luôn có những antennes rình rập, sẵn sáng bán linh hồn mình để mong được cho về sớm. Chuyện ca hát trong trại tù không thể nào kín đáo dù xẩy ra trong góc độ nhỏ của từng nhóm nhỏ, thường trong chiều tối trước giờ đi ngủ, nên có trường hợp vài bạn tù hay hát hoặc hát hay được quản giáo “mời” lên làm việc. Cho dù có bị cảnh cáo nặng nhẹ như thế nào, họ tỏ vẽ e dè đôi chút trong vài tuần ban đầu, nhưng với thời gian họ từ từ ca hát lại, riêng cho mình rồi cho nhóm - y như trước. Rỏ ràng tinh thần tự do và văn nghệ luôn song song với nhau, khó mà giết chết được cả hai, cho dù trong tù tội hay bị cấm đoán. Không biết những bạn tù thích hát đó có thuộc thành phần tâm lý chiến, chiến tranh chính trị hay chỉ là những chàng không quân lãng mạn, nhưng khi chuyển trại, họ thường bị phân loại đi chung với nhau.

Một bạn tù phạm kỷ luật, bị nhốt trong thùng connect nằm trong khu vực chỉ huy của trại. Anh ta không la hét, anh không chưởi rủa, nhưng anh ta cũng không câm lặng. Anh hát. Và hát. Hát rất nhiều bản nhạc tình, toàn là những tình ca từng nổi tiếng của Miền Nam, kể cả những bản nhạc về lính. Ban ngày anh im lặng. Nhưng khi trời bắt đẩu tối, anh lên giọng hát. Tiếng anh hát vang xa trong cả trại, bay vút lên không gian, rồi tỏa ra như một thôi thúc bất tận trong lòng cả mấy trăm tù nhân – mặc những tiếng la mắng của bọn lính cảnh vệ, và tiếng dộng vào vách sắt thùng connect. Các bạn tù nằm nghe anh hát mà lòng đau đớn, ngưỡng mộ tinh thần bất khuất của anh xử dụng tiếng hát của một kẻ sĩ chống đối với kẻ dữ. Tiếng hát của anh yếu dần sau đêm thứ tư và sau đó tắt hẳn. Chúng tôi không biết anh sống chết hay bị chuyển đi nơi khác.

Giữa những thiếu thốn vật chất, những dằn vặt thương nhớ vợ con, những đày ải cơ cực của lao động, người tù thường bảy tỏ tâm tình bằng cách làm thơ hay sáng tác nhạc. Trong những bạn tù tôi quen không có bạn nào đủ trình độ để sáng tác thơ nhạc. Như trường hợp thi sĩ Nguyễn Chí Thiện sáng tác tập thơ Hoa Địa Ngục, hay thi sĩ Tô Thùy Yên sáng tác bài thơ “Tháng Chạp Buồn” trong tù (nhờ nhà văn Phạm Tín An Ninh thuộc nằm lòng nên ghi viết lại toàn bộ sau khi đi tù về). Với đa số còn lại, tù nhân thường hướng đến niềm tin tín ngưỡng của mình để sống sót. Chính những lúc ấy, lòng tôi thôi thúc đọc kinh cầu nguyện cho vợ mình, cho người thân của mình, cho mình sống sót trong chốn lao tù vô vọng. Để nhớ lại những tiếng chuông quen thuộc của nhà thờ Phủ Cam, những lần đi lễ cùng gia đình, nhất là lễ bằng tiếng Latin tại Đan Viện Thiên An với giọng hát trầm trầm của các cha, các thầy ca tụng Thiên Chúa vang lên trong ngôi nhà thờ đá, giữa tiếng thông reo bên ngoài của núi rừng. Và nhớ tiếng hát đăc biệt thánh thiện của ca đoàn “gia đình trị” của anh Lê Văn Danh, sau này tốt nghiệp khóa 2 Y Khoa Huế, trong đó người cha vừa là nhạc trưởng vừa chơi đờn organ, bà mẹ giọng ca chính, các anh em trai hát bè nam, các chị em gái, bè nữ, tại nhà thờ Phan Xi Cô, Huế.



Chúng tôi, ba bạn tù nằm gần nhau, gồm Hoàng Văn Tân (RIP, 2016), Hồ Xuân Tịnh (Orange County) và tôi nằm giữa, cùng rủ nhau đọc kinh mỗi tối, sau tiếng gọi nhắc nhở hay thúc cùi chỏ của bạn Tân với câu “huynh, đọc kinh với đệ” đều đặng lập lại mỗi đêm cho đến lúc chuyển trại. Thỉnh thoảnh chúng tôi còn ư e trong miệng bản nhạc Sao Biển vì không thể thuộc hết lời, ngoài mấy câu “Lạy Mẹ là ngôi sao sáng, soi lối cho con lúc vượt biển thế gian – Lạy Mẹ là ngôi sao sáng, soi lối cho con lúc về nơi phúc nhàn – Sống chết con trông chờ, bao nhiêu sức hộ phụ, lòng Mẹ sẳn sàng mà đoái đến con, giúp con đưa con về tới bến. Đưa con tới Thiên Đàng…”. Về sau, khi chòng chành trên tàu vượt biên, tôi lại hát thầm “Thân lạy Nữ Vương, Mẹ thấu tình con, sóng va tư bề, thuyền con sắp chìm, hầu theo nước xuôi dòng…”

Sau nhiều tháng lắng nghe các bạn tù hát, tôi bỗng nhận thấy chưa nghe mấy ai huýt gió bất cứ bản nhạc nào. Trong thời trung học và sau này đại học, tôi thường xuyên tu tập huýt gió có lẻ vì hồi đó chưa quen hát hoặc vì mở miệng hát thì bị chê đè, nên tiếng huýt gió của tôi có phần tiến triển và mạnh dần. Bấy giờ huýt sáo được cho là cao bồi, nhưng không vì vậy mà tôi bỏ cuộc mà tiếp tục huýt. Khi vào lính, lại huýt nhiều hơn vì huýt gió có vẻ làm tăng tính phong trần của một chàng trai hoa dù mũ đỏ - tôi nghĩ như vậy. Tại Hải Ngoại, tôi chỉ thấy duy nhất ca sĩ Elvis Phương có huýt gió trong vài bản nhạc. Sau vài tháng quen thuộc trong tù cải tạo, tôi bắt đầu huýt gió, nhẹ nhàng, nho nhỏ, cho chính mình nghe, và có thể cho vài bạn tù gần gủi. Cứ như vậy, đôi khi ngồi một mình, trong khi lao động, giữa những lúc nghỉ lao động, trong nổi nhớ nhà, tôi lại huýt gió những bản tình ca. Có vẻ vì giữa núi rừng và thiên nhiên, tiếng huýt gió – nhất là với nhạc huýt gió trong phim cao bồi “The Good, The Bad And The Ugly” của tài tử Clint Eastwood, và trong phim Cầu Sông Kwai, hay trong phim “The Longest Day” – của tôi có phần quyến rũ chăng, nên các bạn tù cũng dễ dãi có lời khen. Vả lại, vì không lời, nên cảnh vệ đi theo canh tù cũng khó hiểu bài gì, và antennes cũng khó kết tội và báo cáo.

Trong nhũng bài thuộc loại thánh ca, ngoài bài Sao Biển mà tôi thường huýt gió bất kể khi nào, tôi còn huýt gió các bài Trên Con Đường Về Quê Mà Vắng Bóng Mẹ, Năm Xưa Trên Cây Sồi, Kìa Bà Nào, Ave Maria, Cao Cung Lên… Đặc biệt trong 2 lần Giáng Sinh ở trại tù và một lần Giáng Sinh trong nhà tù Chí Hòa, tôi cũng nhớ đến hiện thực và dâng lới cầu nguyện của mình bằng cách ư e trong cổ họng, hay huýt gió các bài Mon Beau Sapin, Hang Belem (đêm dông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá nơi máng lừa) và bài Đêm Thánh Vô Cùng (Silent Night) cùng với Bài Thánh Ca Buồn – mà tôi cho là hay nhất trong các bản nhạc vừa đạo vừa đời.  

 Đức tin Công Giáo đã giúp tôi vững mạnh tinh thần để sống vững qua thời chinh chiến, qua thời tù cải tạo cũng như vượt qua những trần ai trong vượt biên và những năm tháng làm lại cuộc đời tại nước người, đến tận bây giờ và hy vọng mãi về sau. Những thánh ca quan trọng không kém khi hợp lực đưa tâm hồn hướng về Chúa. Và những gì tôi không thực hiện được bằng giọng hát của mình, tôi đã huýt gió để đưa khúc ca thoáng theo trời xanh.

“Ngài đã giúp tôi bước tiếp dù từng vấp ngã

 Ngài cho tôi hy vọng dù đã từng thất vọng

 Ngài cho tôi ánh sáng khi tôi đang bước trong bóng tối

 Ngài giúp tôi sống lạc quan dù trong mọi hoàn cảnh bi quan”

 

Cuối cuộc đời thì tiếng huýt gió của tôi, nhất là những khi ngồi bên nhau trong xe, là một trong những tài năng mà vợ tôi có thể thưởng thức và góp lời khuyến khích. Mong có ngày tôi sẽ huýt cho bạn nghe.

Vĩnh Chánh,

Tháng 12, 2022

 

 

 

Ngày triển lãm: từ 28 tháng 8 đến 25 tháng 10, năm 2026 Tiếp tân khai mạc: Thứ Bảy, 29 tháng 8, 11am - 2pm RSVP: https://bit.ly/MakeitHomeReception Huntington Beach Art Center 538 Main St, Huntington Beach, CA 92648 Giờ mở cửa phòng triển lãm: Thứ Ba: 12pm-8pm; Thứ Tư và thứ Năm: 12pm-6pm; từ Thứ Sáu đến Chủ Nhật: 12pm-5pm
LTS: Buổi Ra Mắt Các Tuyển Tập Thơ, Truyện, Nhạc, Phê Bình Văn Học của Ngu Yên sẽ được tổ chức tại Little Sài Gòn vào chiều Chủ Nhật, 23 tháng 8, lúc 3:30 giờ chiều tại Coffee Factory. Việt Báo và Ngu Yên thân mời quý văn hữu, thân hữu, độc giả đến tham dự, gặp gỡ và hội thoại với tác giả. Trong loạt bài viết sắp tới về chương trình RMS, Vũ Tiến sẽ lần lược giới thiệu những cuốn sách mới sắp "trình làng". Mời bạn đọc cùng bước vào trang sách với bài thứ nhất, về Làng Sơn Dầu.
Tôi được họa sĩ Paulina Đàm tặng một tập sách ảnh có tên Purple Skies gồm 21 bức tranh trừu tượng biểu hiện của cô, và một số bài thơ của các tác giả xen kẽ với tranh mang tính minh họa ý nghĩa các bức tranh này. Tôi quen biết họa sĩ Paulina không lâu, và cũng chưa từng có dịp xem tranh của cô. Tuy nhiên, dẫu tập sách ảnh có những hạn chế trong việc trình bày tranh nhưng với tôi đấy cũng là một kiểu triển lãm bỏ túi, và tôi rất thích thú với những tấm tranh đặc trưng trừu tượng biểu hiện (abstract expressionism) này của Paulina. Tôi không phải là người phê bình hội họa mà chỉ là kẻ thích xem tranh thế thôi. Nghệ thuật ngoài hình thái văn học, âm nhạc, tôi đặc biệt thích thú tranh vẽ, và lúc nào cũng mang đầy ắp tâm trạng của kẻ khao khát một chân trời mỗi khi được xem tranh.
Andrew Lloyd Webber, người được xem như nhà soạn nhạc thành công nhất của sân khấu nhạc kịch hiện đại, nay lại tìm đến một đề tài nghe qua tưởng chừng đã quen: câu chuyện bức Mona Lisa một lần âm thầm rời khỏi Louvre rồi bặt vô âm tín suốt hơn hai năm trời. Khán giả yêu nhạc kịch đã thuộc nằm lòng những “giấc mộng giữa ban ngày” của Lloyd Webber: hồ nước ngầm dưới Nhà hát Opera Paris, bầy mèo Jellicle mong được bước sang cõi Heaviside, hay vị pharaoh Ai Cập cất tiếng ca như Elvis nói mộng. Nay, thay vì những nhân vật hư cấu, ông muốn kể chuyện một hình ảnh thật. Với dự án mới, ông quay sang một “biểu tượng thị giác” quen thuộc, thay vì những nhân vật hư cấu, ông muốn kể chuyện một hình ảnh thật, nhưng đã hóa biểu tượng đến mức gần như siêu thực: nụ cười Mona Lisa.
Ngày 31 tháng 5 năm 2026, nhằm ngày Rằm tháng 4 năm Bính Ngọ, là ngày Lễ Phật Đản, kỷ niệm ngày đức Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ra đời cách nay 2650 năm tại nước Ca-tỳ-la-vệ ở phía bắc Ấn Độ. Ngày đức Phật ra đời đánh dấu một cột mốc lịch sử quan trọng trong thế giới của chúng ta, bởi vì đức Phật là người đã mở toang cánh cửa tự do cho nhân loại. Nạn kỳ thị giai cấp trong xã hội Ấn Độ thời Phật rất phổ biến và khắc nghiệt. Giai cấp tăng lữ Bà-la-môn đứng trên đỉnh xã hội vì nắm độc quyền tâm linh và tế tự theo truyền thống thánh điển Vệ-đà. Chỉ có giai cấp Bà-la-môn mới có được quyền mặc khải từ thần linh để giảng giải và thực hành lễ nghi tế tự. Tiếp theo là giai cấp Sát-đế-lợi thuộc thành phần vua chúa quan quyền, rồi tới giai cấp Phệ-xá là thành phần làm ăn buôn bán và lao động, và sau cùng là giai cấp Thủ-đà-la là thành phần công dân hạng tư và bị đối xử như nô lệ. Nhưng đức Phật không thừa nhận sự phân biệt và kỳ thị giai cấp đó khi Ngài nói rằng con người sinh ra vốn bình đẳng như
Bức Mona Lisa của Leonardo da Vinci sẽ được đưa sang một không gian trưng bày riêng tại Viện Bảo Tàng Louvre, trong một kế hoạch đại trùng tu lớn nhằm giảm cảnh chen chúc, tăng an ninh và sửa chữa hạ tầng tại viện bảo tàng đông khách nhất thế giới. Theo Christian Thorsberg, viết trên Smithsonian Magazine ngày 19 tháng 5 năm 2026, giới chức Pháp vừa chọn nhóm kiến trúc sư quốc tế đảm trách công trình được mô tả như một “thời Phục Hưng mới” cho Louvre. Dự án có thể tốn tới $1 tỷ, với mục tiêu giải quyết tình trạng quá tải kéo dài nhiều năm qua.
Lebanon, nơi dân số ước tính năm 2021 là 5,592,631 người, trong đó 95% là sắc tộc Ả Rập, 4% là sắc dân Armenian, 1% các sắc dân khác. Nhưng chính tôn giáo dị biệt cũng là một cội nguồn chia rẽ: 28.7% theo Hồi giáo Sunni, 28.4% Hồi giáo Shia, 0.6% các hệ phái Hồi giáo khác; 22% Công giáo hệ Maronite, 8% Chính thống giáo Hy lạp, 5.2% theo đạo Druze, 1% Tin lành Phúc âm, và còn lại là các tôn giáo khác. Lịch sử hiện đại của Lebanon là một quá trình chuyển mình từ hình ảnh “Thụy Sĩ của Trung Đông” sang một quốc gia được định hình bởi sự kiên cường giữa bối cảnh sụp đổ toàn diện của hệ thống. Được lập quốc vào năm 1920 với tên gọi Đại Lebanon dưới sự ủy trị của Pháp, quốc gia này đã giành được độc lập vào năm 1943. Hệ thống chính trị độc đáo của đất nước—dựa trên “Hiệp ước Quốc gia” về chia sẻ quyền lực giữa các giáo phái—ban đầu đã kiến tạo nên một thời kỳ hoàng kim của sự thịnh vượng về văn hóa và tài chính. Sự ổn định này đã tan vỡ vào năm 1975 với sự bùng nổ của cuộc Nội chiến kéo dài
Nhiếp ảnh không còn là việc ghi lại thế giới như nó tồn tại. Trong thời đại đương đại, máy ảnh đã trở thành một công cụ tư duy, một phương tiện để người cầm máy đặt câu hỏi, phản biện, và kiến tạo ý nghĩa. Mỗi lần bấm máy là một lần người chụp lựa chọn: lựa chọn cái gì được nhìn thấy, cái gì bị cắt ra ngoài khung hình, khoảnh khắc nào xứng đáng tồn tại mãi mãi. Đó là một quyền lực nhỏ nhưng đầy tính triết học.
Có những bài hát viết để ru người ngủ. Có những bài hát viết để kể chuyện tình. Và có những bài hát viết để không ai có thể quên. Thời Hoàng Hôn Của Ý Niệm của Hà Thúc Sinh là ca khúc để nhớ, nhưng không phải vì nó đẹp đến mức người ta không thể quên, mà vì nó đau đến mức người ta không thể không nhớ. Đây là một bài hát mà nghe xong, người ta không muốn nghe lại, nhưng không thể nào xóa được khỏi tâm trí. Đây là loại nghệ thuật mà Adorno đã từng nói tới khi ông viết về văn học sau Auschwitz: nghệ thuật không còn để mua vui, mà để làm chứng cho những điều đáng lẽ ra không nên xảy ra.
Mới ngày nào chỉ là một ý tưởng, vậy mà VAALA Viet Book Fest năm nay đã bước vào năm thứ Năm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.