Hôm nay,  

Thả gió bay đi nghìn trùng

30/09/202514:53:00(Xem: 2889)
Nghìn Trùng Xa Cách

Nghìn trùng xa cách người đã đi rồi

Còn gì đâu nữa mà khóc với cười

  

Ca từ và lời thơ có những đồng điểm. Về mặt sáng tác, ngôn ngữ thơ và ca khúc có thể sử dụng từ lời nói thường ngày, ngôn ngữ bình dân lên đến ngôn ngữ cao cấp như ngôn ngữ văn học và triết học. Ngôn ngữ có khả năng thể hiện qua hiện thực, siêu thực, ấn tượng, tượng trưng hoặc một dạng độc đáo sáng tạo nào khác của tác giả.

Dĩ nhiên, có nhiều bài thơ với lời lẽ và ý tưởng dễ dàng phổ nhạc, thường là thơ tình và không quá cao trong cấp bậc văn học. Ngược lại, nhiều bài nhạc có ca từ có thể trở thành bài thơ và không phải là bài thơ khó. Nói một cách khác, giữa lời thơ và ca từ có một vùng giao thoa, nhưng phần còn lại của thơ thì mênh mông.

Một điểm nhấn khác, ca từ luôn bị giới hạn bởi cấu trúc âm giai của câu nhạc và cấu trúc tổng thể của ca khúc, một loại cấu trúc không có nhiều lựa chọn. Ca từ bị gò bó hơn lời thơ, nhất là thơ tự do. Tuy nhiên, vì bị giới hạn trong cấu trúc âm giai và giai điệu, ca từ có cơ hội biến chuyển ngoạn mục như ca từ của Trịnh Công Sơn hoặc thủ thuật chữ nghĩa như ca từ của Phạm Duy:

“Ta ghì cho tan vỡ trái tim này / Cho người ăn chơi nhíu đôi lông mày … “ Vũ Nữ Thân Gầy. Lời Phạm Duy.

Chữ “ghì” và chữ “nhíu” thật là ấn tượng, thậm chí, làm cho người đọc thấy được hình ảnh cử động.

 

Tuy nhiên, lời thơ không phải là văn xuôi, thơ có tiết tấu và nhịp điệu, kể cả thơ thự do. Những bài thơ có nhịp điệu êm ả và tiết tấu trầm bổng theo luật bằng trắc, nhất là thơ tình, thường rất dễ phổ nhạc, dễ gây cảm tình với người nghe.

Có thể thấy rõ, thơ tình của Du Tử Lê rất dễ phổ thành nhạc vì đã có sẵn âm điệu, giai điệu và ý tưởng dễ nắm bắt. Do đó, có người tuyên bố Du Tử Lê có hơn 300 bài thơ phổ nhạc. Trong khi thơ của Thanh Tâm Tuyền chỉ được dùng vài câu bởi những nhạc sĩ thành danh hàng đầu như Cung Tiến và Phạm Đình Chương. Thơ Tô Thùy Yên chỉ được phổ nhạc bài Ta Về và bài Chiều Trên Phá Tam Giang, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh chỉ phổ nhạc phần sau của bài thơ. Có chút gì khó hiểu phải không?

Đi sâu vào nghiên cứu sẽ nhận ra, thơ càng sâu sắc về ý tưởng, càng trình bày không nhạc điệu, càng khó phổ thành nhạc. Vì vậy, ca từ ít khi đi vào cõi văn học cao và triết lý đậm. Kể cả ca từ của Bob Dylan (Nobel Prize 2016) và của Leonard Cohen, dù được xem là dẫn đầu trong lãnh vực ca từ triết học.

Nhạc sĩ Việt thường có trình độ nhạc lý, nghệ thuật sáng tác nhạc cao hơn trình độ sáng tác ngôn ngữ theo giai điệu. Chúng ta có rất nhiều ca khúc nhạc rất hay nhưng ca từ không tương xứng. Vì khả năng ngôn ngữ giới hạn, nhạc sĩ nỗ lực tìm lời ráp vào âm giai cho nên lời lẽ không suôn, không trơn, sai dấu, không đúng nghĩa, hoặc câu này qua câu kia như người đầu sông, kẻ cuối sông. Mượn thơ làm ca từ phổ nhạc trở thành phổ thông trong giới làm nhạc mà gặp khó khăn khi sáng tác ca từ.

Phạm Duy là một trong số nhạc sĩ đặt lời thành công từ bình dân đến cao kỳ cho ca khúc do ông sáng tác, do ông dịch hoặc viết lời cho nhạc ngoại quốc. Trình độ nghệ thuật ngôn ngữ và khả năng nhạy cảm với ngôn từ của ông có khi còn cao hơn những người làm thơ chỉ để làm thơ. Phạm Duy là người sáng tác lời hay, có ý nghĩa và quan trọng là thể hiện được cảm xúc trong giai điệu và tinh thần của ca khúc.

“Nghìn Trùng Xa cách,” một ca khúc tôi cho là hoàn tất về nhạc lẫn ca từ. Có thể xác nhận, đây là một bài thơ tình đầy đủ cảm xúc và trí tuệ, được xây dựng trên ba đoạn, theo cách văn học, gọi là ba mảnh. Không theo cấu trúc của ca khúc, ví dụ như A,B,A’ mà theo tâm sự ký ức và ý nghĩ, ba mảnh rời tạo nên tổng thể.

Đoạn một:

Nghìn trùng xa cách người đã đi rồi

Còn gì đâu nữa mà khóc với cười

Mời người lên xe về miền quá khứ

Mời người đem theo toàn vẹn thương yêu

Đứng tiễn người vào dĩ vãng nhạt mầu

Sẽ có chẳng nhiều đớn đau

Nối gót người vào dĩ vãng nhiệm mầu

Có lũ kỷ niệm trước sau

Vài cánh xương hoa nằm ép trong thơ

Rồi sẽ tan đi mịt mù

Vạt tóc nâu khô còn chút thơm tho

Thả gió bay đi mịt mù

 

Đoạn Hai:

Nghìn trùng xa cách người đã đi rồi

Còn gì đâu nữa mà giữ cho người...

Trả hết về người chuyện cũ đẹp ngời

Chuyện đôi ta buồn ít hơn vui

Lời nói, lời cười

Chuyện ngắn chuyện dài

Trả hết cho người, cho người đi

Trả hết cho ai ngày tháng êm trôi

Đường em đi trời đất yên vui

Rừng vắng ban mai, đường phố trăng soi

Trả hết cho người, cho người đi

Trả hết cho ai cả những chua cay

Ngày chia tay, lặng lẽ mưa rơi

Một tiếng thương ôi, gửi đến cho người

Trả nốt đôi môi gượng cười

 

Đoạn kết:

Nghìn trùng xa cách đời đứt ngang rồi

Còn lời trăn trối gửi đến cho người...

Nghìn trùng xa cách người cuối chân trời

Đường dài hạnh phúc, cầu chúc cho người

 

Không có đoạn mở đầu. Phạm Duy bước ngay vào thân bài bằng hai mảnh, có thể coi như hai bài thơ khác nhau, cùng nói về mối tình xa cách nhìn trùng.

 

Mảnh Một.

Phạm Duy vẽ lên một bức tranh hồi tưởng về người yêu với những hình ảnh lãng mạn và thơ mộng, tạo ra cảm giác êm ái cho người thưởng ngoạn và tâm tình đồng cảm với những mối tình đẹp trong quá khứ.

Những tứ thơ biểu tượng như:

Mời người lên xe về miền quá khứ / Đứng tiễn người vào dĩ vãng nhạt màu / Nối gót người vào dĩ vãng nhiệm mầu.

Một luận lý hết mực văn chương. Tính lý luận đã mất hẳn trong cái đẹp của thơ. Điều này chứng minh rằng, trong thơ không chỉ có nhạc, thơ có lý luận (logic) riêng và lý luận này rất khác biệt với lý luận của trí tuệ. Lý luận của thơ là lý luận thẩm mỹ.

Với ba câu này thôi, chúng ta hoàn toàn trở về quá khứ, mơ màng với tình nhân xa xôi.

Vài cánh xương hoa nằm ép trong thơ

Có lẽ, hầu hết chúng ta đã từng ép vào trang vở học trò những bông hoa cành lá kỷ niệm. Thời thơ mộng ấy, lúc nào nhớ lại cũng chạnh lòng. Rồi thời gian qua, thời học trò vùi vào quên lãng. Bỗng một hôm, lục tìm quá khứ, mở cuốn vở xưa, thấy hoa lá cũ chỉ còn là bộ xương khô, thấm máu vào trang giấy trắng, lâu quá rồi, nhạt thành màu nâu lợt lạt. Cảm giác lúc đó, làm sao mà diễn tả. Tất cả những rung động về kỷ niệm, những xúc động về một ai kia, sẽ ngui dần. Rồi cuối cùng, hết sức hư huyền, chúng ta đành “Thả gió bay đi mịt mù.”

 

Mảnh Hai.

Nếu theo dõi giai điệu và hiệu quả sáng tác, chúng ta thấy, nhạc sĩ mở đầu mảnh một trong giọng C Major, tạo một dòng nhạc mượt mà, êm dịu, tạo một không khí lâng lâng nhớ nhung, không quá buồn bã.

Sau khi lập lại, nhắc lại câu “Nghìn trùng xa cách người đã đi rồi “ Ông nối cái không khí nhẹ nhàng tiếc nuối kia vào một khí hậu khác, trầm lắng hơn, gợi cảm hơn, pha thêm màu buồn với những ca từ trực tiếp chạm vào dĩ vãng bằng giọng C Minor, sau khi, “Còn gì đâu nữa mà giữ cho người.” Thật tài tình.

Ký hiệu “Trả hết” được lập lại năm lần với nghĩa đen gần như muốn dứt khoát với người tình xưa. Tuy nhiên, ở nghĩa ngụ ý, “trả hết” chỉ là một cách nói đau lòng của người không thể nào trở lại quá khứ, không thể nào gần gũi bên người tình dĩ vãng. Trả lại là một cách diễn tả “tiếc nuối mà không biết làm sao”. Vì không thực sự dứt khoát, không thực sự trả lại, cho nên vào lúc cuối, mới “Còn lời trăn trối gửi đến cho người.”

Những câu thơ trong mảnh hai từ “Trả hết về người” trở đi, chúng ta không thấy ẩn dụ, không biểu tượng, chỉ là lời lẽ tâm sự. Mặc dù văn vẻ nhưng thành thật và cảm xúc. Nhất là câu “Đường em đi trời đất yên vui”, nghĩ đến đời sống của người tình xưa giờ đang hạnh phúc với người khác, còn mình thì “Rừng vắng ban mai,” đường phố chỉ còn trăng soi. Có lẽ lòng sẽ chùng xuống, thoáng một chút bóng ghen. 

Hai câu cuối của mảnh hai, nhạc sĩ thật tài tình từ câu”Một tiếng thương ôi, gửi đến cho người” từ giọng buồn thảm, từ ca từ than xót “thương ôi” trong C Minor đột ngột trở về C Major, từ tâm sự buồn bã, vọng lên một thoáng bình tĩnh hơn “Trả nốt đôi môi gượng cười.” Lời tài hoa mà nhạc cũng tài hoa. 

Từ “trả hết” ông đổi sang “trả nốt” tức là trả thêm. Hình ảnh “đôi môi gượng cười,” làm nhẹ nhàng tâm trạng đang ưu tư. Nếu người nghe đang chìm đắm trong những lời nhạc buồn gợi lên trong lòng mỗi người nghe những hình ảnh đẹp của người tình đã không còn hy vọng, sẽ chợt tỉnh dậy với âm điệu Major và hình ảnh gượng cười. Điều sung sướng của những hình ảnh này là dù thời gian dài bao lâu, dù người nghe già bao nhiêu, hình ảnh người tình vẫn trẻ trung, đẹp mãi với thời gian.

 

Mảnh kết.

Vẫn giọng Major, ông đi vào đoạn kết, lập lại, “Nghìn trùng xa cách” nhưng đoạn lìa với “đời đứa ngang rồi.” Nhưng đẹp nhất, khuây khỏa nhất là câu cuối “Đường dài hạnh phúc, cầu chúc cho người.”  Phạm Duy phong lưu, tuy vậy chẳng những ông có tấm lòng với phụ nữ, với âm nhạc, ông còn có tấm lòng với nước non.

Ca khúc “Nghìn Trùng Xa cách” có lẽ sẽ tồn tại với người hát, với lịch sử âm nhạc Việt. Cho dù mai sau, không còn ai hát nữa, nhưng chắc chắn nếu còn con người thì còn nhìn trùng xa cách.  

 

Ngu Yên.
Houston. Tháng 8, 2025

Ngày triển lãm: từ 28 tháng 8 đến 25 tháng 10, năm 2026 Tiếp tân khai mạc: Thứ Bảy, 29 tháng 8, 11am - 2pm RSVP: https://bit.ly/MakeitHomeReception Huntington Beach Art Center 538 Main St, Huntington Beach, CA 92648 Giờ mở cửa phòng triển lãm: Thứ Ba: 12pm-8pm; Thứ Tư và thứ Năm: 12pm-6pm; từ Thứ Sáu đến Chủ Nhật: 12pm-5pm
LTS: Buổi Ra Mắt Các Tuyển Tập Thơ, Truyện, Nhạc, Phê Bình Văn Học của Ngu Yên sẽ được tổ chức tại Little Sài Gòn vào chiều Chủ Nhật, 23 tháng 8, lúc 3:30 giờ chiều tại Coffee Factory. Việt Báo và Ngu Yên thân mời quý văn hữu, thân hữu, độc giả đến tham dự, gặp gỡ và hội thoại với tác giả. Trong loạt bài viết sắp tới về chương trình RMS, Vũ Tiến sẽ lần lược giới thiệu những cuốn sách mới sắp "trình làng". Mời bạn đọc cùng bước vào trang sách với bài thứ nhất, về Làng Sơn Dầu.
Tôi được họa sĩ Paulina Đàm tặng một tập sách ảnh có tên Purple Skies gồm 21 bức tranh trừu tượng biểu hiện của cô, và một số bài thơ của các tác giả xen kẽ với tranh mang tính minh họa ý nghĩa các bức tranh này. Tôi quen biết họa sĩ Paulina không lâu, và cũng chưa từng có dịp xem tranh của cô. Tuy nhiên, dẫu tập sách ảnh có những hạn chế trong việc trình bày tranh nhưng với tôi đấy cũng là một kiểu triển lãm bỏ túi, và tôi rất thích thú với những tấm tranh đặc trưng trừu tượng biểu hiện (abstract expressionism) này của Paulina. Tôi không phải là người phê bình hội họa mà chỉ là kẻ thích xem tranh thế thôi. Nghệ thuật ngoài hình thái văn học, âm nhạc, tôi đặc biệt thích thú tranh vẽ, và lúc nào cũng mang đầy ắp tâm trạng của kẻ khao khát một chân trời mỗi khi được xem tranh.
Andrew Lloyd Webber, người được xem như nhà soạn nhạc thành công nhất của sân khấu nhạc kịch hiện đại, nay lại tìm đến một đề tài nghe qua tưởng chừng đã quen: câu chuyện bức Mona Lisa một lần âm thầm rời khỏi Louvre rồi bặt vô âm tín suốt hơn hai năm trời. Khán giả yêu nhạc kịch đã thuộc nằm lòng những “giấc mộng giữa ban ngày” của Lloyd Webber: hồ nước ngầm dưới Nhà hát Opera Paris, bầy mèo Jellicle mong được bước sang cõi Heaviside, hay vị pharaoh Ai Cập cất tiếng ca như Elvis nói mộng. Nay, thay vì những nhân vật hư cấu, ông muốn kể chuyện một hình ảnh thật. Với dự án mới, ông quay sang một “biểu tượng thị giác” quen thuộc, thay vì những nhân vật hư cấu, ông muốn kể chuyện một hình ảnh thật, nhưng đã hóa biểu tượng đến mức gần như siêu thực: nụ cười Mona Lisa.
Ngày 31 tháng 5 năm 2026, nhằm ngày Rằm tháng 4 năm Bính Ngọ, là ngày Lễ Phật Đản, kỷ niệm ngày đức Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ra đời cách nay 2650 năm tại nước Ca-tỳ-la-vệ ở phía bắc Ấn Độ. Ngày đức Phật ra đời đánh dấu một cột mốc lịch sử quan trọng trong thế giới của chúng ta, bởi vì đức Phật là người đã mở toang cánh cửa tự do cho nhân loại. Nạn kỳ thị giai cấp trong xã hội Ấn Độ thời Phật rất phổ biến và khắc nghiệt. Giai cấp tăng lữ Bà-la-môn đứng trên đỉnh xã hội vì nắm độc quyền tâm linh và tế tự theo truyền thống thánh điển Vệ-đà. Chỉ có giai cấp Bà-la-môn mới có được quyền mặc khải từ thần linh để giảng giải và thực hành lễ nghi tế tự. Tiếp theo là giai cấp Sát-đế-lợi thuộc thành phần vua chúa quan quyền, rồi tới giai cấp Phệ-xá là thành phần làm ăn buôn bán và lao động, và sau cùng là giai cấp Thủ-đà-la là thành phần công dân hạng tư và bị đối xử như nô lệ. Nhưng đức Phật không thừa nhận sự phân biệt và kỳ thị giai cấp đó khi Ngài nói rằng con người sinh ra vốn bình đẳng như
Bức Mona Lisa của Leonardo da Vinci sẽ được đưa sang một không gian trưng bày riêng tại Viện Bảo Tàng Louvre, trong một kế hoạch đại trùng tu lớn nhằm giảm cảnh chen chúc, tăng an ninh và sửa chữa hạ tầng tại viện bảo tàng đông khách nhất thế giới. Theo Christian Thorsberg, viết trên Smithsonian Magazine ngày 19 tháng 5 năm 2026, giới chức Pháp vừa chọn nhóm kiến trúc sư quốc tế đảm trách công trình được mô tả như một “thời Phục Hưng mới” cho Louvre. Dự án có thể tốn tới $1 tỷ, với mục tiêu giải quyết tình trạng quá tải kéo dài nhiều năm qua.
Lebanon, nơi dân số ước tính năm 2021 là 5,592,631 người, trong đó 95% là sắc tộc Ả Rập, 4% là sắc dân Armenian, 1% các sắc dân khác. Nhưng chính tôn giáo dị biệt cũng là một cội nguồn chia rẽ: 28.7% theo Hồi giáo Sunni, 28.4% Hồi giáo Shia, 0.6% các hệ phái Hồi giáo khác; 22% Công giáo hệ Maronite, 8% Chính thống giáo Hy lạp, 5.2% theo đạo Druze, 1% Tin lành Phúc âm, và còn lại là các tôn giáo khác. Lịch sử hiện đại của Lebanon là một quá trình chuyển mình từ hình ảnh “Thụy Sĩ của Trung Đông” sang một quốc gia được định hình bởi sự kiên cường giữa bối cảnh sụp đổ toàn diện của hệ thống. Được lập quốc vào năm 1920 với tên gọi Đại Lebanon dưới sự ủy trị của Pháp, quốc gia này đã giành được độc lập vào năm 1943. Hệ thống chính trị độc đáo của đất nước—dựa trên “Hiệp ước Quốc gia” về chia sẻ quyền lực giữa các giáo phái—ban đầu đã kiến tạo nên một thời kỳ hoàng kim của sự thịnh vượng về văn hóa và tài chính. Sự ổn định này đã tan vỡ vào năm 1975 với sự bùng nổ của cuộc Nội chiến kéo dài
Nhiếp ảnh không còn là việc ghi lại thế giới như nó tồn tại. Trong thời đại đương đại, máy ảnh đã trở thành một công cụ tư duy, một phương tiện để người cầm máy đặt câu hỏi, phản biện, và kiến tạo ý nghĩa. Mỗi lần bấm máy là một lần người chụp lựa chọn: lựa chọn cái gì được nhìn thấy, cái gì bị cắt ra ngoài khung hình, khoảnh khắc nào xứng đáng tồn tại mãi mãi. Đó là một quyền lực nhỏ nhưng đầy tính triết học.
Có những bài hát viết để ru người ngủ. Có những bài hát viết để kể chuyện tình. Và có những bài hát viết để không ai có thể quên. Thời Hoàng Hôn Của Ý Niệm của Hà Thúc Sinh là ca khúc để nhớ, nhưng không phải vì nó đẹp đến mức người ta không thể quên, mà vì nó đau đến mức người ta không thể không nhớ. Đây là một bài hát mà nghe xong, người ta không muốn nghe lại, nhưng không thể nào xóa được khỏi tâm trí. Đây là loại nghệ thuật mà Adorno đã từng nói tới khi ông viết về văn học sau Auschwitz: nghệ thuật không còn để mua vui, mà để làm chứng cho những điều đáng lẽ ra không nên xảy ra.
Mới ngày nào chỉ là một ý tưởng, vậy mà VAALA Viet Book Fest năm nay đã bước vào năm thứ Năm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.