Hôm nay,  

Sài Gòn Đứt Đoạn

30/04/202010:20:00(Xem: 4471)


Ngà lật sách, đọc được một đoạn rồi bỏ xuống, không hiểu mình đang đọc cái gì.  Không biết chữ vô nghĩa vô cảm hay đầu óc Ngà tê liệt.  Ngà tự hỏi điều gì đang xảy ra cho mình.  Ngà bắt đầu đếm hơi thở - hít vào 4 nhịp thở ra 7 nhịp, không biết ai chọn ra những con số ấy nhưng mới hít vào chưa kịp đếm đến 4 thì bụng đã căng phồng như cóc, cố thêm e vỡ bụng.  Thở ra phì phò hít vào ì ạch.  Ngà nằm lâu trên giường, đêm vẫn trắng.

Ra phòng khách tìm một quyển sách cũ chưa bao giờ xem tới mang vào phòng.  Nam Hoa Kinh, trang đầu tiên mang chữ ký của anh Lâm, 1987 đọc lần thứ 3.  Ngà tần ngần.  1987, anh chỉ độ 40 ngoài, đọc quyển sách ấy lần thứ 3?  Ngà nhớ những ngày tháng ấy, những ngày tháng xa lìa đứt đoạn với một kiếp đời.  Hóa ra không chỉ mình Ngà thức thâu đêm, không chỉ mình Ngà đi tìm những gì xưa cũ, những bí mật của Sài Gòn đã mất.

Dọc theo sách là những ghi chú suy nghĩ của anh.  Ngà bồi hồi, bởi Ngà chưa bao giờ đến gần anh để biết một điều gì về con người ấy, bây giờ đến thật gần thì anh đã mất.  

Cũng như cô Thảo đã mất.  Cô mất lúc nào Ngà chẳng hay, chỉ biết tin nhờ cái tật tò mò gì cũng đọc.  Ngà nhớ mình đã lật tới lật lui tờ báo Người Việt như thể sẽ tìm thêm ra được chữ trên bài báo về ông giám đốc nhân sự mới của tỉnh.  Chính là anh ta, nét mặt ấy vóc dáng ấy, cái tên ấy, và những chi tiết về cha mẹ - trên đời làm gì có quá nhiều trùng hợp đến thế, và vậy là cô Thảo đã mất được 10 năm, nghĩa là năm cô chỉ khoảng 68 tuổi, còn quá trẻ.  Cô mất vì bịnh gì?  

Ngà thấy buồn mênh mang, bởi cô Thảo là người bạn đầu tiên của Ngà trên đất lạ.  Cô mang cả một Sài Gòn theo với cô, trong tính cách con người, trong cách cư xử với lũ trẻ như Ngà, và cả trong việc cô giễu cợt Ngà dùng chữ Việt Cộng.  Những khi cô Thảo ghẹo Ngà thấy hơi quê, nhưng Ngà tự hiểu, nỗi buồn của Ngà tựa như tự ái của đứa con nhà nghèo phải mặc quần áo chắp vá vạ vịt vì không có gì để mặc, và tủi phận khi bị chê cười.  Còn cô, chọc ghẹo Ngà vậy thôi chứ cô thường bảo Ngà trạc tuổi con trai lớn của cô.  Ngà hiểu, cô thương Ngà hai mươi tuổi bơ vơ trên xứ lạ không một tình thân, không như gia đình cô đủ đôi bên nội ngoại đã đi thoát từ 1975.  Nhưng cô nào hiểu, tuổi 20 Ngà không hề muốn khóc trao nỗi lòng dù với mẹ cha huống gì kẻ lạ, Ngà nào muốn ai thương hại mình khốn khó bơ vơ.  Cô càng thương Ngà càng muốn xa, và rồi Ngà đã bỏ cái hãng nhỏ ấy để lấy một việc làm khác có lương cao hơn và nhiều quyền lợi.

Ôi, cô Thảo, Ngà cứ cảm nghĩ mình thiếu nợ cô mà không biết nợ nần gì, và Ngà cũng đã muốn xa cô thật xa mà chả biết tại sao.  Cũng không phải là không biết, chỉ là biết mơ hồ.  Nếu màu da xác nhận với người địa phương cái gốc Á châu của Ngà thì những chữ trời ơi nơi cửa miệng xác nhận với người đồng chủng rằng Ngà đến từ xứ cộng sản.  Nhưng làm sao xóa được cái hậu Sài gòn khi Ngà đã ở lại 4 năm, đã rước vào đầu những chữ vớ vẩn dẫu thâm tâm không thể nào chấp nhận được họ.  Ngà không có lỗi dẫu nói sai, mà cô Thảo càng chẳng có lỗi khi nói đúng tiếng Sài Gòn.  Ngà và cô như bộ đồ trà đã bể vụn, 2 miếng sành vỡ không còn ghép lại được, bởi cô biết đến Ngà qua phim ảnh báo chí truyền thông và Ngà biết cô bằng quá khứ cho dẫu cô với Ngà là hai cảnh đời xa lạ.  

Quá khứ của cô là trường Marie Curi đài các, là ngồi cát xê quán kem Phi Điệp của gia đình, là anh thiếu úy phi công hào hoa, thông gia với chỉ huy trưởng Tân Sơn Nhất.  Sài Gòn của cô thật dày bóng mát.  Còn Ngà, cái trường Gia Long là kỷ niệm hiển hách và duy nhất của cuộc đời quá khứ.  Cái hiển hách ấy bao gồm 2 tấm áo dài tê tơ rông trắng mỗi năm và ngày ngày đạp xe ra phố giúp má dọn hàng.  Và Ngà cũng có hình bóng một người lính trong lòng dẫu không biết mặt và không thể là người tình.

Tuổi mười lăm nhiều mắc cở vụng về, ăn chưa no lo chưa tới.  Ngà đạp xe mini yên sau chở thùng đựng đá chứa trăm thứ lẩm cẩm từ cửa hàng lụp xụp về nhà.  Tới ngã tư đèn đỏ thì thùng nghiêng lệch sửa soạn đổ mà cái xe mini không cho phép Ngà dựng chân để sửa.  Xe Suzuki đỏ bên cạnh là hai người lính, anh ngồi sau lẹ làng nhảy xuống sốc thùng đồ trên xe Ngà lên ngay ngắn cột lại chặt chẽ.  Vừa kịp đèn xanh lên, anh thót trở lại yên sau và chiếc xe lăn nhanh theo dòng lưu chuyển.  Ngà không kịp nhìn mặt, anh không chờ lời cám ơn.  Tấm áo lính mờ bụi in xuống lòng đường Ngà đã qua, in vào quá khứ của Ngà một cách êm đềm không cầu gợi chút niềm thân mật.

Sài Gòn của Ngà rồi còn gập ghềnh hơn những năm sau chiến tranh.

Làm sao tránh được cái tranh giành chụp giựt cả trong những việc thật nhỏ mọn bởi chậm là đói.  Làm sao không dòm ngó người khác bởi sơ ý thì sẽ mắc nhiều cái vạ không biết đâu mà gỡ.  Có bao nhiêu lần Ngà thấy ngượng cho mình vì không muốn nói lập trường tào lao thì phải đành moi xấu nhau cái chuyện quần thấp guốc cao trong những buổi họp hành kiểm thảo.  Hoặc nói dối hoặc nói bậy, người ta không có quyền im, không có quyền Take The Fifth!!!  Ngà đã bỏ đi không luyến tiếc, đâu ngờ vết dao quá lớn quá sâu.  Ngà cứ ngỡ mình bỏ đi rồi thì Sài Gòn chỉ còn là mảnh đất chập chờn ẩn hiện lúc nhớ thương, chứ nào biết nó ngày đêm theo với cuộc sống của Ngà trên đất lạ.

Khác với cô Thảo yên tâm xây lập cuộc đời mới trên đất mới, Ngà sống quanh cái miệng chén Sài Gòn.  Tay nào đi làm kiếm sống, túi nào dành chút tiền lẻ gửi về, và những đêm nào mộng mị miệt mài đi tìm Sài Gòn đã mất. 

Ngà lại cầm cuốn sách của anh Lâm để lại đây lần bỏ qua Texas.  Sài Gòn của triết Đông triết Tây.  Sài Gòn của Chiến Tranh và Dân Tộc.  Những năm 80 ấy Ngà cũng đọc bá vạn thứ như vầy, chả biết tại sao mình muốn đọc, phải đọc.  Anh Lâm đã đi qua Sài Gòn bằng một phần của tuổi trẻ, Ngà chỉ mới bước khỏi thềm tuổi thơ.  Phải chăng mất cội rễ người ta phải tìm, và tìm đâu hơn là tìm ở những gì từ vạn thuở xa xưa đã nuôi lớn một dân tộc cho dẫu nó chỉ còn lưu lại trên trang giấy.  Nhưng Nam Hoa Kinh, Ngà nghĩ, cũng chỉ là một cứu cánh cho anh Lâm thấy vết thương của mình chẳng là gì cả sẽ không là gì cả, để lòng bớt đau hồn bớt mỏi, để thoát ra cái bế tắc của cuộc đời hiện tại.  Còn Ngà, ngày Ngà đi làm hết cả hơi, đêm về dỗ giấc ngủ bằng cuốn kinh thánh dày như tự điển Nguyễn Văn Khôn cũng qua được từng đêm.

***

Ngà thức dậy đã 11 giờ sáng.  Ngày bây giờ trọn vẹn của mình, không phải chạy với kim đồng hồ thật sướng.  Bao người hăm rằng sẽ buồn chán, sẽ bị trầm cảm, thiệt vậy không?  Ngà chỉ biết đời mình đã rẽ, rẽ vào chặng cuối cùng, và cho dẫu vào hơi sớm cũng chẳng có gì để luyến tiếc con đường bụi loạn vừa bỏ lại.  Hưu rồi mới thấy ra, mình đã quá mệt mỏi từ biết bao lâu nay và không hiểu mình đã loay hoay ra sao để cáng đáng những ngày 25 tiếng đã qua.  Nhưng thật buồn cười, hưu việc rồi cũng hưu cả nhà thờ - Ngà không còn nhớ lần cuối mình đến nhà thờ là lúc nào.  Ngà thấy dường như mình chẳng còn muốn gì và chẳng còn thấy có gì quan trọng.  Mới ngày nào còn thơ Ngà đã từng đếm tuổi – rằng đến cái năm mà mọi người lo tận thế mình vẫn chưa được nửa trăm năm!

Ngà vào bàn bắt đầu thoa kem bôi phấn.  Ngà vẽ mắt thật tỉ mỉ sao cho mắt lớn rộng ra để bù đắp cái co cụp tuổi đời đè xuống.  Vẽ mắt rồi lại chậm thêm phấn đặc che cái “thượng thọ” nơi quầng dưới mắt.  Rồi lại phấn nâu để thuôn má phệ.  Rồi lại mascara cho đen dài tấm mi thưa…  Ôi, nhan sắc.  Ngà bật cười nhớ lần đầu Má giúp đánh phấn, Má quét cho một lớp thật dày trắng xóa, mi mày chẳng còn thấy chi.  Kịp đến anh chàng phó nhòm chụp cho một loạt hình kiểu cũng cho người dặm lên mặt mình không biết bao nhiêu là những má hồng với chì với son với mày với tóc.  Ngà biết ra mình cần thấy chính mình và tự trang điểm cho chắc ăn!  

Mặc vào bộ quần áo trắng, giờ tha hồ mặc màu nhạt không sợ cọ quẹt lấm lem, Ngà lên xe lần theo địa chỉ để đón Mai.

Mai đích thị tiểu thư, đời nhung lụa nhàn nhã, sống bên kia cửa thiên đường mộng mơ nên dẫu học chung lớp mà có bao giờ Ngà bước lại gần để kết bạn.  Cả cái trường đại học theo đuổi Mai, từ trò đến thầy, từ bạn đến thù dẫu Mai yểu điệu tơ đào thì làm gì có kẻ thù - chỉ là những kẻ khổ đau không được kết bạn kết tình với một cánh sao kiêu sa.  Ngà không biết sau 40 năm xa cách thì Mai ra sao và cuộc gặp gỡ này rồi có trở thành tai vạ.  Nghĩ, rồi lòng chợt bâng khuâng.  Phân cách xã hội đã đeo đẳng hoài trong tâm trí mà Ngà chả bao giờ nhận ra.

Ngà bước vào, Mai đang nói điện thoại với bà dì, chỉ nhẹ nhàng đến ôm Ngà hôn lên má.  Xong cuộc nói chuyện, Mai đến xoay người Ngà ngắm nghía cười khanh khách, “Ngà vẫn như xưa!”  Cái hồn nhiên vui vẻ cười thành tiếng của Mai nói với Ngà rằng lớp vỏ e dè khép nép vì xã hội vì cách biệt của buổi đổi đời đã được bóc gột sạch.  Nơi trời đất mới, cánh mai nay được nở bung bừng tươi sức sống.  Mai mang theo mình cái ăn diện tỉ mỉ của những cô gái Sài Gòn xưa, như trong hàng ngàn hàng trăm những tấm ảnh mà đâu đó người ta đã lưu lại để bây giờ mang ra cho mình xem mà nhớ mà thương.  Ôi Sài Gòn của Ngà.  Ôi tuổi thơ của Ngà.  Ngà nào đã được biết gì, được đi đến đâu được sống bao nhiêu trong cái thành phố hằng thương tưởng ấy.  Ngà như đóa hoa chưa kịp nở đã phải bị héo quặt bứt rời mà hồn chẳng cam nên cứ hoài lưu luyến.

Hai đứa vào quán ăn đã hẹn trước với một vài bạn.  Tiếng cười gọi tiếng cười, chuyện quẩn quanh vẫn là những gì đã xảy ra cho từng đứa khi mọi người đứng bên nhau mà lòng văng muôn ngả.  Những mảnh vụn được dần ghép lại để Ngà thấy ra lứa của Ngà đã thiếu mất một phần niên thiếu.  Tâm trí Ngà lại từ từ trôi giạt, tiếng cười nói như những mảnh vụn bánh mì rơi xuống mặt bàn.  Ngà nhìn Mai, nhìn chị Thi, nhìn Thiện, nhìn ngược lại mình.  Ngà buồn rầu nghĩ mình chỉ còn là con ma sống dai trên dương thế.

Con ma ấy ngày ngày qua phố Sài Gòn Nhỏ, đi len lỏi trên lề hẹp đầy những quầy bán sách báo vàng nhang ảnh tượng quần áo thời trang từ Việt nam gửi sang, những loại cây cảnh quê nhà phải ương trồng 5,7 năm mới ra hoa trái, những rổ rau quả các cụ lấy từ vườn nhà đem bán mua vui, để thấy bồi hồi tưởng mình đi trên khúc đường Lê Thánh Tôn ngày cũ với tủ kính mát, sạp hoa ni lông, sạp áo thun, sạp nón, sạp giày, tiệm thuốc tây, tiệm huy chương An Thành, tiệm quần áo trẻ con, tiệm vân vân.  À, tiệm thuốc tây, tiệm thuốc tây có cô chị cao lớn mặc áo dạ hội vai trần bó ngực dài phết đất, má phấn môi son đẹp như tài tử ngoại quốc đi dạ vũ ở Maxim, có cô em nhỏ người xinh như búp bê cũng không kém phần lộng lẫy một lúc lâu sau mới ra tưởng như em là cô bé lọ lem mãi rồi mới lựa thóc đậu xong để được bộ quần áo kiêu sa mà đi phó hội.  Ôi, Sài Gòn của Ngà, cái Sài Gòn xưa với đủ mọi sắc màu tươi thắm lấm lem, cổ tích với dân dã, ngọt ngào lẫn tủi cực, cái Sài Gòn mà người ta nhất quyết bôi xóa, nó đã mọc lên ở đây, ở cái khe đất người bản xứ không chú ý, như những cây me con con đã nhờ gió thổi hạt bay tứ phương rồi lén lút trồi lên ở bất cứ rãnh đất trống nào, trong khi Sài Gòn ngày nay ở quê nhà lại như những con phố ngoại quốc lòe loẹt cửa hàng thời trang với những tòa nhà chọc trời che hết thổi bay hết các sắc mùi quê hương yêu dấu.  

Đâu chỉ cô Thảo, anh Lâm, những người mà Ngà đã biết đã gặp trong buổi đầu đời trên đất lạ nay mất đi.  Chính Ngà cũng biệt tăm, như những khe trống của đường ranh giới đoạn nổi trên tấm bản đồ của một thành phố đã mất.



Mỗi năm nhân loại xếp hạng lại bảy kỳ quan trên thế giới. Bảy Kỳ Quan của nhân loại được kê khai ra phải đạt được những tiêu chuẩn: Đẹp, lạ, có di tích lịch sử, vẻ đẹp tồn tại của thiên nhiên hoặc một kỳ công của con người. Thí dụ bảy kỳ quan dưới đây: Núi Hy Mã Lạp Sơn: Taj Maha (Kiến trúc nổi tiếng thuộc Agra-India,) Grand Canyon- Mỹ, Kênh Đào Panama, Tòa Cao Ốc Empire State Building(102 từng ở NY; xây1930-1931), Nhà Thờ St. Peter Basilica (Rome),Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc.) Những kỳ quan này thu hút cả thế giới, thu hút những người muốn chinh phục thiên nhiên (Hy Mã Lạp Sơn). Những khách du lịch muốn được xem tận mắt những kỳ công của nhân loại (Empire State Building; Agra-India) Muốn mở lại những trang lịch sử của nhân loại trên những di tích phế, hưng( như Vạn lý Trường Thành; St. Peter Basilica)
Dù trận đấu chưa diễn ra, họ đã biến phòng ăn chật hẹp thành một lễ hội đường phố thu nhỏ. Họ mang theo tinh thần hoang dại, rực lửa, giăng cờ, ca hát và hò reo cổ vũ vô cùng náo nhiệt. Nhìn nhóm Brasil nhuộm vàng cả một góc phòng, tôi hiểu rằng họ có thể chia rẽ vì nhiều thứ, nhưng khi khoác lên mình màu áo biểu tượng quê hương, họ là một thể thống nhất.
Như tên gọi, tứ sắc gồm những quân bài có tên: tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, và chốt. Mỗi thứ có bốn màu: vàng, đỏ, xanh, trắng, mỗi màu có 4 con. Như vậy mỗi bộ tứ sắc có 112 quân bài và bốn người chơi. Đây là môn bài dân gian rất phổ biến, nhất là ở Huế, nhưng lại là một trong những môn khó chơi nhất vì rất nhiều quy luật tỷ mĩ không thể kể hết ở đây. Phải đủ bốn người mới đủ để gầy sòng tứ sắc.Thời đó ở vùng quê VN dĩ nhiên chưa có điện thoại, cell phone thuận tiện gọi tiếng là có như bây giờ, vì vậy muốn ráp sòng việc đầu tiên phải có người chạy từ đầu đến cuối xóm, đến từng nhà rủ rê hẹn hò. Nhà ông tôi luôn là địa điểm lý tưởng nhất để gầy sòng vì có phòng khách rộng rãi mát mẻ, và nhất là có hai người làm túc trực để sai bảo. Đang chơi ai cần ly nước chè, hay vấn giùm điếu thuốc Cẩm Lệ, vv… đều được phục vụ chu đáo.
Năm giờ sáng. Bàn viết vẫn trống. Tôi nhìn tờ giấy trắng dưới ánh đèn vàng như nhìn vào miệng hố sâu. Ngoài cửa sổ, Manhattan vẫn chưa tỉnh hẳn. Từ căn studio tầng sáu này, tôi nghe thấy tiếng xe rác nghiến bánh trên phố Mott, ai đó la hét bằng tiếng Quảng Đông ở góc phố. Ba mươi hai tuổi. Sáu năm bỏ luật khoa. Bốn năm làm phụ bếp để trả tiền thuê. Hai năm gửi truyện không ai nhận.
Có nhiều lần bà giải thích với các cháu là mình phải tự mình niệm phật, như tự độ cho mình, lúc còn có thể hiểu kẻo khi già yếu quá, lưỡi líu lại, không nói thành tiếng nữa chúng tôi nắm tay già nua của bà thưa rằng khi bà yếu quá dĩ nhiên tụi cháu niệm phật dùm bà hoặc sẽ có ban độ niệm tiếp tục bà đừng lo lắng…Bà tôi cười hiền: mình lo cho mình yên trí hơn người khác làm dùm mình… vả lại ban hộ niệm có tới niệm phật giúp, thì mình cũng may ra có 2,3 phần cứu rỗi… còn lại 7,8 phần là công đức phước đức của người niệm… bà còn lý giải xa hơn: các con ơi, cây sẽ đổ nằm về phía nó đã chọn nghiêng. Bà tôi cũng lý giải xa xôi bóng bẩy mà có lúc chúng tôi chỉ có thể hiểu lơ mơ lờ mờ…
Những nét vẽ ngoằn ngoèo, bí ẩn, màu vàng nâu đậm trên hai cánh tay trần của những cô bạn người Ả Rập mỗi khi họ về nước thăm gia đình và quay trở lại sở làm, những nét vẽ huyền bí ấy cứ thu hút ánh mắt tôi, tự hỏi không biết những hình vẽ ấy thể hiện điều gì, hay chỉ là nghệ thuật thôi? Ghislaine, cô bạn thân người Ả Rập làm cùng phòng giải thích: Mỗi người có một tên khác nhau, người vẽ sẽ dựa vào tên, ngày sinh và tính cách của mình mà vẽ, mỗi kiểu đều khác nhau, biểu tượng cho niềm vui, tình yêu, sự sung túc và câu chúc phúc cho người đó, ví dụ hình vẽ tròn, mandala nói lên sự trọn vẹn; những nét vẽ vươn lên như những sợi dây leo, ý nói hy vọng, phát triển đến sự thành công; vẽ con mắt, hình học là sự trừ khử những điều xấu, xui xẻo của cuộc đời. Hình vẽ ấy được gọi là Henna, người phụ nữ Ả Rập rất tin vào nét vẽ bói toán Henna này như bùa hộ mệnh của mình, không những là nét đẹp văn hóa, tín ngưỡng mà còn là thời trang nữa.
Trong tĩnh lặng của bóng đêm, tôi tỉnh dậy. Tôi đi qua phòng ngủ của chồng, tôi thấy anh trăn trở trong giấc ngủ, hơi thở nặng nề. Tội nghiệp anh, mấy hôm nay bơ phờ, đầu óc thất tán, ai bảo ăn thì ăn, bảo làm thì làm. Chẳng biết mình ăn gì và làm gì. Tôi đứng lặng nhìn anh một lúc, mái tóc thưa thớt, bạc như những sợi cước; trên khuôn mặt quen thuộc, những vết gấp của thời gian chồng lên nhau, anh thật sự đã già lắm rồi. Tôi cúi xuống, kéo chiếc chăn lên ngực anh, đặt nhẹ trên trán anh một nụ hôn, an ủi.
Rất nhiều lần, mình đã nghĩ các chú kiến này chỉ có thể là các ông tiên, bà tiên hay những “quân lính” cực kỳ tinh vi từ Vũ Trụ mới có thể “linh” như vậy. Càng thêm thương họ và biết ơn Vũ Trụ khi cho các chú kiến xuất hiện trên cõi đời, để chúng phải luôn dõi theo chúng ta từng bước và “nhặt” sạch những gì chúng ta đã vung vải, không để phí phạm bất cứ một thứ gì!
Tất cả mười đứa con đều được Mạ thương đặc biệt. Con đầu, con út tất nhiên được thương thật nhiều. Con lập gia đình trễ, hoặc có con muộn, con qua Đức chậm phải chịu phận uống nước đục, con qua Đức sớm phải xa Ba Mạ khi tuổi vừa xong trung học, con trực tiếp chăm sóc Ba Mạ… Tất cả đều có lý do để được Mạ thương thật nhiều. Riêng tôi, chẳng có lý do nào rõ ràng, nhưng tôi vẫn cảm thấy tình thương vô bờ của Mạ. Mạ thương mỗi đứa con đặc biệt, đơn giản vì bầy con là con của Mạ. Tôi cảm động rưng rưng khi anh cả nhắc chuyện ngày xưa. Anh kể, lúc tôi còn bé, Mạ thương tôi lạ lùng. Cứ trước khi đặt tôi vào trong nôi để ngủ, Mạ hun tôi không biết bao nhiêu lần. Mạ vừa ru, vừa hò: “À ơi, ru con, con ngủ cho muồi…” Tiếng hò ru con của Mạ cứ theo anh, văng vẳng trong tai mỗi khi anh nghĩ đến Mạ. Lúc đó, dù còn quá nhỏ, nhưng những lời ru ngọt ngào của Mạ đã khắc sâu vào tâm khảm tôi. Ba kể, Mạ hay nựng nịu hai đứa út song sinh, nói, ai đem núi vàng tới, Mạ cũng không đổi hai cục cưng của Mạ.
Xế trưa và cơn buồn ngủ, chập chờn tình xa mộng mị trong giọng khàn khánh ly làm sao em biết đời sống buồn tênh... ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, như gọi từng phiến buồn rơi rất đều...
Sau nhà vợ chồng tôi có khu vườn nhỏ, cây to cây bé chen chúc vào nhau với các tàng cây đủ cao để tách thành một vòm trời riêng biệt và hoa trái tạo hương sắc quanh năm. Khách đến ai cũng thích ngồi, ai cũng khen khu vườn ấm áp. Cả chim chóc cũng kéo đến ríu rít hằng ngày. Dù sao chúng tôi vẫn yêu nhất mùa xuân, những búp lá nụ hoa căng tràn sức sống, như yêu tuổi dậy thì của chúng tôi đã bung nở giữa Sài Gòn.
VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.