Hôm nay,  

YÊU

21/06/202221:24:00(Xem: 6265)

Truyện ngắn

sad woman

Tất cả bọn họ đã bỏ về cả rồi. Phòng khách trống vắng, những điếu thuốc lạnh tanh, chén đĩa bẩn thỉu, những cái gạt tàn đầy ắp, tất cả khiến tôi buồn nôn...

 

Ủa, cái gì vậy, Marie đã bỏ quên chiếc khăn quàng đỏ thật đẹp của cô nàng kìa.

 

Một buổi tối thật vui! Mọi người đã đến đông đủ. Nhưng không thấy chàng đâu cả. Tôi đã mong mỏi, hy vọng biết bao rằng chàng sẽ đến. Tôi đã phải hầu hạ mọi người, rồi nói, rồi cười. Nhưng tôi, tôi chỉ muốn có một điều, đó là nhìn thấy mái tóc đen rối bời và tia nhìn chế giễu của chàng. Tôi tưởng tượng hình ảnh của chàng đứng tựa vào khung cửa và nói:

 

– Hình như ta quen nhau phải không?

 

Không, tôi và chàng không quen biết nhau, không, tôi không hề biết chàng, tôi không bao giờ biết chàng sẽ làm gì, sẽ nói những gì, tôi luôn hồi hộp, chờ đợi, mong muốn.

 

Những lúc chàng ở bên tôi, tôi nhảy từ ngôi sao này sang ngôi sao khác, tôi lắc lư, đong đưa trên ông trăng, tôi lượn quanh dải Ngân Hà, và từ nơi tận cùng của tâm hồn mình, cuối cùng tôi biết vì sao tôi được sinh ra. Chỉ vì như vậy thôi, để tôi mất hút trong mớ tóc của chàng, để lấy ngón tay vẽ lên mi mắt của chàng, để được chàng hôn.

 

Khi chàng không có đây, trái tim tôi tan nát, tư tưởng của tôi phủ một màu đen tối, tôi hụt hẫng vì vắng đôi tay chàng, không có bất cứ điều gì làm cho tôi nguôi ngoai sự thiếu vắng đó, trái tim tôi thổn thức đau buồn, toàn thân tôi tan biến, tôi không còn niềm vui nào nữa. Tại sao chàng không đến? Chàng biết tôi trông đợi chàng mà; lần sau cùng gặp nhau, tôi không muốn năn nỉ, nên chỉ nói:

 

– Anh sẽ ghé chứ?

 

Ôi, tại sao tôi dùng cái động từ ngu xuẩn thế nhỉ – "ghé qua " – Tôi đã tổ chức buổi tiệc này là cho chàng, để giới thiệu chàng với tất cả bạn bè của tôi! Chúng tôi đã đi lại với nhau trong suốt sáu tháng trời mà chưa ai biết mặt chàng cả!

 

Tôi muốn chàng lẫn vào thế giới của tôi, tôi muốn mọi người nhìn thấy chàng và tôi tay trong tay, tôi muốn dùng chữ "Chúng Tôi", tôi muốn vặn cổ sự cô đơn của tôi, vào ngày trong đại ấy, vào buổi tối quan trọng ấy, để mình không còn là con số lẻ nữa.

 

Hỏng bét! Suốt buổi tối hôm đó tôi có cảm tưởng như mình là con số 1 To Tướng – cô đơn, lẻ loi.

Ôi, tôi nghĩ mình là gì vậy?

 

Chàng chưa bao giờ nói tiếng yêu với tôi. Chưa bao giờ hứa hẹn tôi bất cứ điều gì. Không. Chàng nhận tôi vì tôi đã dâng cho chàng, bởi vì tôi muốn sở hữu lấy chàng trên tất cả mọi thứ, tôi cần phải biết từng hạt phân tử của làn da chàng, hơi thở của chàng, mùi hương của chàng, bởi vì với tôi, dâng cho chàng có nghĩa là chiếm lấy, chiếm lấy chàng, giữ lấy chàng trong hàng nghìn giây, một buổi yến tiếc thật sự, một sự tràn ngập về giác quan và tâm hồn, say mê, sở hữu.

 

Còn chàng thì chưa bao giờ nói điều gì, chàng chỉ thích lặng lẽ, chàng thể hiện lời nói bằng thân thể, đôi tay, đôi môi chàng. Rồi khi chàng ra đi tôi chỉ còn sự im lặng ở lại với tôi. Không có cả một cuộc gọi, không có một dấu hiệu nào, một sự lãnh đạm thật tệ hại, một bậc thầy về sự xa cách, ôi cả một nghệ thuật của sự thiếu vắng!

 

Tất cả những cảm xúc đó thật tôi không thể nào chịu đựng nổi, quá sức to lớn, chúng mang tôi đi xa quá, vì sau đó tôi không thể nào trở lại như trước được nữa, tôi không biết phải hiện hữu như thế nào, tôi không biết phải có cử chỉ động tác nào nữa, không biết chữ nào nữa, và tất cả mọi thứ khác đều như những hải đảo thật xa xôi.

 

Tiếng chuông ngoài cửa vang lên. A, đúng rồi, Marie, và khăn quàng của cô ta.

 

Mái tóc đen rối bời, tia nhìn chế giễu, đứng tựa vào khung cửa.

 

Trên nền trời màu xanh sẫm như biển, chị Hằng tròn vo, sáng chói, đang nháy mắt nhìn tôi.

 

– Constance Delange

(tháilan dịch)

 

VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.
Người Việt Nam chúng ta vừa trải qua, ôn lại ký ức tháng 4 với đầy rẩy u buồn, đau thương và tiếc nuối kèm cả oán hận âm ỷ trong lòng. «… 30-04-1975 hàng loạt đạn pháo cuồng nộ đâm xuống biển, tung lên những cột nước cao dìm sâu xuống biển những ghe thuyền tìm cách vượt biên tìm tự do, những con tàu nhỏ, những con người vô phước trúng đạn tung tóe gỗ nát trộn thịt da, chấm dứt những tháng ngày vất vả sống với chế độ độc tài cộng sản miền Bắc tràn vô Nam…» Đúng thế, họ dựa vào thế lực và sự hậu thuẫn của bè đảng Nga Tầu, họ cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Họ vô nhân đạo cưỡng chiếm của cải tài sản của dân miền Nam qua hai lần đổi tiền tháng 9-1975 và tháng 5-1978. Họ đánh tư sản vơ vét của cải của dân miền Nam thu gom vào túi cán bộ và mang về miến Bắc.
Tháng tư ngửa mặt nhìn trời | Nhớ xem hồng nhạn đã rơi phương nào | Cánh chim gãy sợi tóc đau | Con đò chở khẳm nỗi sầu lưu vong.
Tôi mất ý thức về phương hướng. Không gian chỉ còn một chiều, phía trước, phía sau. Phía sau là quê nhà, phía trước là sự chọn lựa. Biển xanh như ngọc khi chúng tôi ra đến hải phận quốc tế. Nó chờ chúng tôi ở đó, hiện hữu ngay cả trước đại dương. Hải phận quốc tế là một huyền thoại. Ai cũng nhắc đến, nhưng không ai biết nó là gì. Ra đến hải phận quốc tế, thì con người không thuộc về đất nước của mình nữa, mà thuộc về cộng đồng thế giới, thích chưa? Lúc ấy trời đất cảm nhau mà biến hóa, từ một sinh hai, từ hai sinh bốn, từ bốn sinh tám. Cứ thế liên miên, bất tuyệt, mọi vật sinh trưởng, người với đất với trời là một. Tồn tại ung dung, có sanh có diệt mà không sanh diệt.
Và nếu bài viết này góp được một phần nhỏ bé vào việc hàn gắn những vết thương âm thầm ấy, thì nó đã làm tròn sứ mệnh của nó.
Năm mươi năm trước những đám mây đen đã bay qua đời... Những vầng mây hải đảo tiếp tục bay theo chiều đếm của 50 mùa xuân, mây bay trên đầu và mây bay trong ký ức. Như một chiều cuối tháng tư Phú Quốc, những đám mây đen nặng chì, chồm xuống màu biển thẫm. Nắng hấp hối núp sau mây vạch từng tia quái gở xuống lòng vịnh...
Cùng trên một con đường, nhà tôi cạnh nhà Thức, cách 2 căn nữa là nhà Vân Ù và tiếp theo là nhà Liên. Bốn đứa chúng tôi chơi thân nhau từ bé và cùng lứa tuổi. Trước 1975 đoạn đường này, nhà nào cũng có cửa hàng buôn bán. Bố mẹ Thức bán quán giải khát giống như nhà tôi, sau 1975 chuyển sang bán bún riêu trước cửa nhà, Thức có hai người chị là giáo viên. Nhà Vân Ù đâu kém gì, trước 1975 là một depot lớn chuyên bán bia, nước ngọt, nước đá, mỗi ngày xe hãng BGI đến giao hàng chục két bia hàng chục cây nước đá, những cây đá này chất đầy trong một cái tủ lớn và ủ trấu, sẽ bỏ mối và bán lẻ cho khách hàng. Người ta gọi bố mẹ Vân Ù bằng cái tên nghề nghiệp "Ông bà Đề Pô".
Ngôi nhà của Anne rất đẹp. Ý tôi muốn nói là chiếc giày. Đó là một ngôi nhà lý tưởng. Những người nào chưa bao giờ nhìn thấy nó sẽ không thể tin được rằng một chiếc giày có thể đẹp đến thế, tức là một ngôi nhà có thể đẹp đến thế. Thực ra, nhu cầu của con người rất giản dị, Anne thầm nghĩ. Bạn không cần phải có lầu cao cửa rộng, không cần phải có nhiều trang sức và tiền bạc lắm. Bạn chỉ cần có một đời sống đầy đủ, thức ăn, áo mặc, chỗ ngủ, vài cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn và nhạc Trịnh hay Taylor Swift bên cạnh. Một chiếc giày hoàn toàn có thể phục vụ cho những mục đích đó.
Năm 1956, một phụ nữ trẻ qua đời trên bàn sinh ở Bệnh Viện Trung Ương Huế. Đứa bé mồ côi được các soeur tại Cô Nhi Viện Tây Lục đem về nuôi, đặt tên là Th. Sau này, anh Th nghe các soeur kể rằng cha anh là một “ông Tây nhà đèn” đã hồi hương từ trước khi mẹ anh biết có thai. Dù được các soeur thương yêu và dạy học, cậu bé Th thích phiêu lưu hơn chữ nghĩa nên đã bỏ ra đời kiếm sống bằng nghề đánh giày từ năm mười ba tuổi. Trong thời gian kiếm ăn trên khắp các nẻo đường, cậu đã ngưỡng mộ hình ảnh oai hùng của các anh lính VNCH. Vì thế, khi vừa đủ mười tám tuổi, anh Th tình nguyện nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện ở trung tâm Giạ Lê, Thừa Thiên, Huế, anh đã chính thức trở thành Binh Nhì của Đại Đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 1.
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù. ( In old Burmese belief, every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to take revenge.)
Anh đã đến căn nhà cũ, 76 Bạch Đằng. Đứng bên kia đường, đối diện, nhìn nhà mình. Mái tóc phai màu, mất thăng bằng, sụp xuống mé phải, cài một cần ăng-ten cong vẹo như chiếc lược hàng nội. Đôi cánh cửa sổ bụi như ghèn bỏ thí trên đôi mắt phụ nữ không buồn trang điểm nữa. Thềm xi măng trước cửa nứt nẻ — nơi mẹ anh thường dội nước những trưa hè cho bớt hơi nóng bốc nực phòng khách. Anh đã gõ cửa nhà mình, lịch sự, như khách. Không ai mở. Cả xóm không còn ai quen. Anh đứng một lúc rồi đi, cảm giác mình là con ma vô hình lục lọi trong nghĩa địa giữa mùa cúng vàng mã.
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì. Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.