Hôm nay,  

MANUAL & MÒ

02/09/202209:23:00(Xem: 8176)
Phiếm

manTôi vừa đi Los Angeles thăm gia đình về, nhận được thư bạn viết chỉ trích  không bao giờ tôi chịu đọc “Manual” hay “Instruction” của các món hàng mới mua về. Tôi xin trả lời thư bạn ngay. Đáng lẽ trước khi trả lời bạn, tôi phải tra tự điển Anh-Việt để hiểu rõ nghĩa của chữ này ra sao. Nhưng thôi, tôi cứ hiểu sao thì trả lời như vậy theo đúng tinh thần không bao giờ đọc Manual của tôi.

 

Chữ Manual, theo tôi hiểu, nghĩa thông thường của nó là “Cẩm nang hướng dẫn” cho việc sử dụng một món hàng nào đó do nơi sản xuất món hàng đó viết ra và cung cấp cho khách hàng. Bạn là người luôn đọc “Cẩm nang hướng dẫn” trước khi sử dụng món hàng bạn mới mua về. Còn tôi thì ngược lại, không đọc Manual. Không đọc Manual vì lý do có đọc cũng không hiểu hoặc lười hay vì cả hai lý do trên xảy ra cùng một lúc.

 

Thế này nhé, nguyên tắc chính để thay thế Manual của người không chịu đọc Manual là MÒ. MÒ sao cho sử dụng được món hàng đó mới thôi. Nhưng MÒ không phải là một độc quyền chỉ dành cho người không đọc Manual, mà đôi khi người đọc Manual cũng vẫn cứ phải MÒ như thường. Bạn đừng vội trách tôi là tại sao không chia sẻ công việc MÒ đó với bạn. Ta hãy cùng nhau chấp nhận nguyên tắc không đọc Manual thì phải MÒ như một nguyên lý trong vật lý, hay một định đề trong toán học. Một chân lý, không cần biện luận thêm.

 

Có hai vấn đề được đặt ra là MÒ CÁI GÌ và MÒ RA SAO?

 

MÒ cái gì thì thật dễ hiểu, thật hiển nhiên là ta sẽ MÒ CÁI GÌ TA MUỐN MÒ, để ta có thể biết được một phần hay biết cả toàn phần về cái đó. MÒ không phải chỉ dành cho những người mù tịt hay tối mò mò, nghĩa là chỉ dành cho người mù hay chỉ mò khi tối hay đợi tới tối mới mò, mà MÒ cũng phải dựa trên một số căn bản hiểu biết hay kinh nghiệm nào đó. Chính vì dựa trên tri thức và kinh nghiệm nên MÒ cũng có cấp bậc khác nhau. Có người MÒ đạt tới mức cao cấp, tuyệt chiêu như những điều bạn đang đòi hỏi ở tôi. Hay cũng có người chỉ MÒ ở cấp sơ đẳng, nghĩa là chỉ MÒ MÒ.

 

Để vấn đề MÒ được trở nên đơn giản, tôi xin đơn cử một thí dụ:

 

Tôi vừa mua một cái máy ảnh. Tôi cần biết sử dụng nó mà không chịu đọc Manual của nhà sản xuất thì tôi phải làm sao, tôi phải MÒ. Việc đầu tiên là tôi phải cầm chiếc máy ảnh lên quan sát xem phải MÒ cái gì trước và MÒ cái gì sau. Trước hết, dễ hơn cả, là MÒ phần CỨNG, nghĩa là phần ta dễ nhận ra, có thể mó máy bằng chân tay được. Thí dụ như xem cái ZOOM thò ra thụt vào được bao xa, nhìn vào cái lỗ “KHẨU ĐỘ” (tiếng chuyên môn trong nhiếp ảnh) đóng mở thế nào mỗi khi ta SHOT (bấm máy), tiêu cự (F) càng nhỏ càng tốt, tức ống kính sáng có thể chụp được trong đêm với bao nhiêu LUX. Thêm nữa, là xem cái TIMER tự động nó ở chỗ nào và để biết thời gian dùng mà ta chạy cho kịp, vân vân...

 

Sau đó là tôi MÒ tới phần MỀM. Phần mềm thì ta chỉ có một chỗ để MÒ là mò cái bộ phận “setting”. Trăm chuyện nằm trong cái bộ phận oái oăm đó. Ai cũng tưởng nó đơn giản như chuyện trời sinh, nhưng thật ra nó lại là phần quan trọng hơn cả.

 

Phần MỀM điều khiển phần CỨNG. Cái máy đắt tiền là tùy thuộc vào những “options” ở trong cái phần MỀM này. Nếu ta không sử dụng phần MỀM cho nhuần nhuyễn hay sử dụng sai thì bức hình chụp ra không thể đạt được phẩm chất mong muốn. Như muốn chụp “portrait” mà không “Set” được “khẩu độ” thì không thể điều chỉnh được ĐỘ SÂU (tiếng chuyên môn) của ảnh.

 

Không MÒ để “Set” cho đúng, ta sẽ làm buồn lòng cả phần CỨNG lẫn phần MỀM. Chiếc máy đắt tiền sẽ chẳng khác gì máy rẻ tiền, và cũng chẳng khác nào tiên nữ lại lọt vào tay anh thợ cầy vậy (các cụ ta thường ví như thế!) Đấy là những gì ta phải MÒ.

 

Còn muốn MÒ cho đúng cách và nhanh ta cần phải MÒ cho có phương pháp, nghĩa là phải biết cách MÒ RA SAO?

 

Không phải chỉ sử dụng tay không thôi, mà tùy thuộc đối tượng, đôi khi ta phải dùng luôn cả khứu giác, vị giác, thính giác, xúc giác, và cả… tri giác nữa. Dùng danh từ nhà Phật là ta cần "quán chiếu" tới cái thâm sâu của đối tượng cần MÒ. Khi ta nhận diện ra được bản chất nó, ắt phương pháp MÒ tự nhiên nẩy sinh. Cùng họ với MÒ là MÓC và MOI. Nhiều khi ta phải áp dụng cả ba phương pháp trong cùng một lúc hay có thể nhiều hơn nữa. Nói thì nói vậy, dù là ta có đạt được đến mức cao độ, đến mức tuyệt chiêu của MÒ của MÓC của MOI, thỉnh thoảng ta vẫn bị Tổ trác. Khi Tổ trác thì chỉ còn vứt món hàng đó đi.

 

Tốt hơn hết là bạn cứ nên tiếp tục dùng Manual, nếu có phải MÒ thì cũng chỉ MÒ những phần nho nhỏ, MÒ cho vui. Để đạt đến tuyệt chiêu MÒ như tôi, thú thật cũng tốn kém quá nhiều công sức và xương máu. Nếu bạn cảm thấy mình có nhiều thì giờ, còn nhiều sức lực và ham vui thì cứ vứt Manual đi, MÒ như tôi hoặc chúng ta cùng MÒ những đối tượng cần MÒ.

 

Tôi xin kể bạn nghe về một câu chuyện có thật (cười!) vừa mới xẩy ra cách đây mấy hôm. Số là, chiều hôm đó, tôi đi tới một “dealer xe”, nơi bán xe hơi cả cũ lẫn mới. Tôi chọn mua một chiếc xe vừa đủ với túi tiền mình có, thuộc loại “cũ người, mới ta”. Sau khi thanh toán tiền nong sòng phẳng với những thủ tục cần thiết tôi trở thành chủ nhân ông hoàn toàn và chính thức của chiếc xe đó. Bạn nghĩ là câu chuyện đã chấm dứt ở đó?

 

Không! Nếu chỉ có thế thì tôi cần gì phải kể cho bạn nghe. Thế này nhé. Trước khi tôi lái xe ra về, tôi muốn biết một số chi tiết cần thiết về chiếc xe này mà không cần phải đọc Manual. Tôi liền gọi anh đại diện bán xe (dealer) đến để anh ta chỉ dẫn cho tôi về những chi tiết mà tôi muốn biết.

 

Anh “dealer” này là một anh chàng Mỹ da đen cao lênh khênh so với cái chiều cao rất khiêm nhường của tôi. Anh ta luôn luôn tỏ ra mình là một tay “lái buôn” chuyên nghiệp thứ thiệt, đã vui vẻ tận tình chỉ cho tôi cách sử dụng, nào từ những cái chỗ bật “đèn pha”, “đèn đim” đến những chỗ gạt nước nhanh hay chậm khi trời mưa, nào từ cách điều chỉnh sao cho cái ghế ngồi của “driver” lên cao hay xuống thấp, ...  rồi nào từ những cái NÚT điều chỉnh con con đến những cái NÚM xinh xinh. Nhiều và rất nhiều.

 

Có lẽ những câu hỏi của tôi quá nhiều đến độ làm anh ta trở nên mất kiên nhẫn. Anh ta nhìn tôi mỉm cười, cũng cái mỉm cười rất chuyên nghiệp, nghĩa là luôn coi “khách hàng là Thượng đế”, và đưa cho tôi một cuốn Manual dầy cộm với một câu rất lịch sự và lễ phép:

 

– Thưa Ngài, xin Ngài hãy đọc cuốn Manual này. Trong ấy có đầy đủ những điều mà Ngài muốn biết.

 

Tôi nhìn “hắn ta” với cái nhìn đầy thất vọng và có chút gì bực tức. Tôi định nói với hắn là: “Tôi đọc Manual mà hiểu được thì tôi hỏi anh làm cái cái đếch gì”. Tôi cứ loay hoay mãi với cái vốn liếng tiếng Anh nghèo nàn của mình. Tôi không thể tìm đâu ra được chữ “cái đếch gì” trong tiếng Anh có khả năng diễn tả đầy đủ ý nghĩa “hỷ nộ ái ố” của nó như trong tiếng Việt. Tôi còn đang ngẩn người ra để tìm kiếm chữ đó thì anh “lái buôn” này đã bỏ đi hơi xa xa, quay lại mỉm cười với tôi, nói vọng tới:

 

– Good luck and enjoy!

 

Tôi định hắt vào mặt hắn một câu ngắn gọn: “Enjoy cái mốc xì ấy!” Lại cái chữ “mốc xì”, nó hại tôi như chữ “cái đếch gì” trước đó. Tôi không thể đào đâu ra được cái tiếng Anh đồng nghĩa với nó nên đành ấm ức lái xe về nhà để tự MÒ.

 

Thế là cái tối hôm ấy, cái tối không trăng không sao, tôi lại phải bật đèn MÒ những cái NÚT con con và những cái NÚM xinh xinh lấy một mình.

 

Nghĩ cho cùng, trên đời này có bao nhiêu thứ mà ta phải MÒ, phải đủ điều vất vả với chúng, nhưng để rồi cuối cùng, ta cũng chẳng khác gì “anh xẩm RỜ voi”.

 

Thôi. Tôi xin lập lại. Tốt hơn hết, bạn cứ nên dùng Manual. Xin được chấm dứt lá thư ở đây.

 

– Nguyễn Giụ Hùng

 

VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.
Người Việt Nam chúng ta vừa trải qua, ôn lại ký ức tháng 4 với đầy rẩy u buồn, đau thương và tiếc nuối kèm cả oán hận âm ỷ trong lòng. «… 30-04-1975 hàng loạt đạn pháo cuồng nộ đâm xuống biển, tung lên những cột nước cao dìm sâu xuống biển những ghe thuyền tìm cách vượt biên tìm tự do, những con tàu nhỏ, những con người vô phước trúng đạn tung tóe gỗ nát trộn thịt da, chấm dứt những tháng ngày vất vả sống với chế độ độc tài cộng sản miền Bắc tràn vô Nam…» Đúng thế, họ dựa vào thế lực và sự hậu thuẫn của bè đảng Nga Tầu, họ cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Họ vô nhân đạo cưỡng chiếm của cải tài sản của dân miền Nam qua hai lần đổi tiền tháng 9-1975 và tháng 5-1978. Họ đánh tư sản vơ vét của cải của dân miền Nam thu gom vào túi cán bộ và mang về miến Bắc.
Tháng tư ngửa mặt nhìn trời | Nhớ xem hồng nhạn đã rơi phương nào | Cánh chim gãy sợi tóc đau | Con đò chở khẳm nỗi sầu lưu vong.
Tôi mất ý thức về phương hướng. Không gian chỉ còn một chiều, phía trước, phía sau. Phía sau là quê nhà, phía trước là sự chọn lựa. Biển xanh như ngọc khi chúng tôi ra đến hải phận quốc tế. Nó chờ chúng tôi ở đó, hiện hữu ngay cả trước đại dương. Hải phận quốc tế là một huyền thoại. Ai cũng nhắc đến, nhưng không ai biết nó là gì. Ra đến hải phận quốc tế, thì con người không thuộc về đất nước của mình nữa, mà thuộc về cộng đồng thế giới, thích chưa? Lúc ấy trời đất cảm nhau mà biến hóa, từ một sinh hai, từ hai sinh bốn, từ bốn sinh tám. Cứ thế liên miên, bất tuyệt, mọi vật sinh trưởng, người với đất với trời là một. Tồn tại ung dung, có sanh có diệt mà không sanh diệt.
Và nếu bài viết này góp được một phần nhỏ bé vào việc hàn gắn những vết thương âm thầm ấy, thì nó đã làm tròn sứ mệnh của nó.
Năm mươi năm trước những đám mây đen đã bay qua đời... Những vầng mây hải đảo tiếp tục bay theo chiều đếm của 50 mùa xuân, mây bay trên đầu và mây bay trong ký ức. Như một chiều cuối tháng tư Phú Quốc, những đám mây đen nặng chì, chồm xuống màu biển thẫm. Nắng hấp hối núp sau mây vạch từng tia quái gở xuống lòng vịnh...
Cùng trên một con đường, nhà tôi cạnh nhà Thức, cách 2 căn nữa là nhà Vân Ù và tiếp theo là nhà Liên. Bốn đứa chúng tôi chơi thân nhau từ bé và cùng lứa tuổi. Trước 1975 đoạn đường này, nhà nào cũng có cửa hàng buôn bán. Bố mẹ Thức bán quán giải khát giống như nhà tôi, sau 1975 chuyển sang bán bún riêu trước cửa nhà, Thức có hai người chị là giáo viên. Nhà Vân Ù đâu kém gì, trước 1975 là một depot lớn chuyên bán bia, nước ngọt, nước đá, mỗi ngày xe hãng BGI đến giao hàng chục két bia hàng chục cây nước đá, những cây đá này chất đầy trong một cái tủ lớn và ủ trấu, sẽ bỏ mối và bán lẻ cho khách hàng. Người ta gọi bố mẹ Vân Ù bằng cái tên nghề nghiệp "Ông bà Đề Pô".
Ngôi nhà của Anne rất đẹp. Ý tôi muốn nói là chiếc giày. Đó là một ngôi nhà lý tưởng. Những người nào chưa bao giờ nhìn thấy nó sẽ không thể tin được rằng một chiếc giày có thể đẹp đến thế, tức là một ngôi nhà có thể đẹp đến thế. Thực ra, nhu cầu của con người rất giản dị, Anne thầm nghĩ. Bạn không cần phải có lầu cao cửa rộng, không cần phải có nhiều trang sức và tiền bạc lắm. Bạn chỉ cần có một đời sống đầy đủ, thức ăn, áo mặc, chỗ ngủ, vài cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn và nhạc Trịnh hay Taylor Swift bên cạnh. Một chiếc giày hoàn toàn có thể phục vụ cho những mục đích đó.
Năm 1956, một phụ nữ trẻ qua đời trên bàn sinh ở Bệnh Viện Trung Ương Huế. Đứa bé mồ côi được các soeur tại Cô Nhi Viện Tây Lục đem về nuôi, đặt tên là Th. Sau này, anh Th nghe các soeur kể rằng cha anh là một “ông Tây nhà đèn” đã hồi hương từ trước khi mẹ anh biết có thai. Dù được các soeur thương yêu và dạy học, cậu bé Th thích phiêu lưu hơn chữ nghĩa nên đã bỏ ra đời kiếm sống bằng nghề đánh giày từ năm mười ba tuổi. Trong thời gian kiếm ăn trên khắp các nẻo đường, cậu đã ngưỡng mộ hình ảnh oai hùng của các anh lính VNCH. Vì thế, khi vừa đủ mười tám tuổi, anh Th tình nguyện nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện ở trung tâm Giạ Lê, Thừa Thiên, Huế, anh đã chính thức trở thành Binh Nhì của Đại Đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 1.
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù. ( In old Burmese belief, every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to take revenge.)
Anh đã đến căn nhà cũ, 76 Bạch Đằng. Đứng bên kia đường, đối diện, nhìn nhà mình. Mái tóc phai màu, mất thăng bằng, sụp xuống mé phải, cài một cần ăng-ten cong vẹo như chiếc lược hàng nội. Đôi cánh cửa sổ bụi như ghèn bỏ thí trên đôi mắt phụ nữ không buồn trang điểm nữa. Thềm xi măng trước cửa nứt nẻ — nơi mẹ anh thường dội nước những trưa hè cho bớt hơi nóng bốc nực phòng khách. Anh đã gõ cửa nhà mình, lịch sự, như khách. Không ai mở. Cả xóm không còn ai quen. Anh đứng một lúc rồi đi, cảm giác mình là con ma vô hình lục lọi trong nghĩa địa giữa mùa cúng vàng mã.
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì. Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.