Hôm nay,  

50 năm sau...

19/04/202619:49:00(Xem: 920)
Tản mạn

 boat-people

“Như chim hồng, chim hạc. Dù lưu lạc mười phương, chúng ta vẫn bay mãi trên vùng trời quê hương.
Đuôi xòe đóa sen, lưng chở núi, lòng ôm mặt trời, đôi mắt trừng trừng nhìn hư không xanh,
và đôi cánh lộng làm rơi rụng nghìn dặm cách chia.
(Logo tạp chí Quê Mẹ, Paris)

 

Nếu có thể nào thu tóm lại một đám mây, thứ hơi nước mang hâm hấp nhiệt độ, một ân tình của biển bốc hơi nơi xa xăm? Tôi sẽ cất giữ lại dù biết rằng đó chỉ là ảo tưởng hư hao. Mây sẽ trắng bay, điểm cho trời xanh bật dậy hẳn lên, hay mây sẽ vươn trong buổi cuối chân ngày làm ráng cam óng đỏ. Mây cũng có thể cuồn cuộn đen màu ly biệt ngậm ngùi. Mây rất có thể làm nhiều điều. Và mây sẽ bay mãi trong bầu trời lữ thứ. Có một chốn về chăng? Không, đời vô định vì bản thể của mây vốn là hơi. Vì thân thế ấy sẽ ngưng đọng thành mưa khi thời tiết, điều kiện cho phép. Còn nếu không? Mây sẽ lang thang mãi không định hướng. Như một định mệnh.
 
Năm mươi năm trước những đám mây đen đã bay qua đời... Những vầng mây hải đảo tiếp tục bay theo chiều đếm của 50 mùa xuân, mây bay trên đầu và mây bay trong ký ức. Như một chiều cuối tháng tư Phú Quốc, những đám mây đen nặng chì, chồm xuống màu biển thẫm. Nắng hấp hối núp sau mây vạch từng tia quái gở xuống lòng vịnh.
 
Sau khi nghe tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng trên đài phát thanh Saigon, đơn vị tôi rã ngũ, chưa biết phải đi đâu nhưng chắc phải ra khơi, chẳng còn lựa chọn nào khác.
 
Thương thuyền Challenger neo ngoài xa trong vịnh Phú Quốc, không hẹn mà như điểm đến. Suốt mấy đêm qua, tàu nhỏ đã di chuyển hàng ngàn người ra tàu Challenger. Thì ra vậy, mọi sự việc đã được an bài, mọi kế hoạch đã được tính toán. Những mắt xích của guồng máy sẽ được tháo gỡ và vứt bỏ khi chúng không còn cần thiết nữa. 
 
Những người lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ gác ở cầu thang tàu Challenger chỉ cho đàn bà và con nít lên tàu, theo truyền thống lady first của Mỹ. Ph. và gia đình đã được lên trước, tôi là người cuối cùng may mắn thoát được lên tàu trong một khắc giây định mệnh.  Vừa bước lên boong tàu, tôi liền nghe tiếng khóc dội vang theo tiếng sóng rầm rì đập vào mạn tàu. Thì ra tàu đã nhổ neo rời đi. Gia đình chia cắt, người lên được, kẻ thân yêu còn kẹt lại bên dưới, khóc than khôn xiết. Khúc phim của một quê hương đau khổ quay thật lẹ trong đầu, tôi đứng bất động nhìn biển khơi giữa những người đang cùng chung số phận. Cuộc chiến chấm dứt đột ngột, không hề có kẻ thắng người thua, nhân dân hai miền đất nước đều thua lỗ. Xa khuất phía bờ, Việt Nam bây giờ là một dải thẫm đen mờ cuối chân trời, xa dần, xa dần... Đất nước tôi đang chìm vào màn đêm đen đặc. Không hiểu vì lý do nào, hay từ một linh tính, tôi thầm vẫy tay chào. Chào gì nhỉ? Tôi không biết. Lòng tôi tắt tiếng, hồn tôi bâng khuâng, cảm giác của sự mất mát tuôn trào không nói được. Chiếc thương thuyền hướng mũi ra khơi càng lúc càng nhanh cho kịp vào vùng biển quốc tế vì bấy giờ Việt Nam đã hoàn toàn nằm trong tay kiểm soát của Hà nội. Giữa tiếng khóc bốn bề, nhớ mấy câu thơ bài Ai Sính của Khuất Nguyên khi ông nhìn dân gian chạy loạn, lúc đất Sở mất về tay Tần, Miễu bất tri kỳ sở chích / Thuận phong ba dĩ tòng lưu hề / Yên dương dương nhi vị khách. (Chẳng biết sẽ đặt chân đâu / Theo sóng gió mà trôi nổi a / Biết lênh đênh về chốn nào. – Đào Duy Anh dịch). Tình cảnh mấy ngàn năm trước sao vẫn giống như hôm nay!
 
Như thế, tôi cùng với một số bạn bè Hải quân theo tàu Challenger làm chuyến hải hành cuối cùng bất đắc dĩ.
 
Tàu chạy suốt đêm. Sáng hôm sau, tàu thả trôi ngoài khơi Vũng Tàu để vớt thêm ghe của dân chúng từ bờ ào ạt tiến ra. Vang vang từ radio của dân chúng mang theo trên tàu lời kêu gọi lính Ngụy ra đầu thú của đài phát thanh Mặt trận Giải phóng Miền Nam. Ngoài kia biển Vũng Tàu lấm chấm đen hàng vạn con thuyền nhỏ bé bấp bênh trôi. Như những chiếc lá rụng mùa thu dù bấy giờ chỉ mới mùa xuân. Câu hát thuở ấu thời không dưng hiện về, đời như chiếc thuyền nan,Tính tính tính tình tang tang tang / Cuộc đời mình như chiếc thuyền nan / Trôi nó trôi bềnh bồng... Bây giờ trăm nghìn bá tánh bềnh bồng số phận sau cuộc đổi dời. Rồi cũng sẽ đến Tokyo, Chicago, Karachi, Mexico, và nhiều nơi khác nữa trên khắp châu lục nhưng nào phải là những cuộc du hí vui tươi như lời bài hát “Chiếc thuyền nan”.
 
Những chiếc thuyền nhỏ bé như thế tiếp tục ra khơi trong hơn 20 năm sau 1975. Sóng gió, bão tố, hải tặc chờ đợi người vượt biển. “Thuyền nhân”, dịch từ tiếng Anh “Boat People”, thành danh từ thông dụng đầu môi của cộng đồng hải ngoại sau 1975 và thập niên 80, 90 để gọi những người bỏ nước tìm tự do. Ở trong nước, chính quyền gọi họ là những kẻ “vượt biên” với chủ ý ám chỉ một việc làm phi pháp. Nhưng có bao giờ Nhà Nước tự hỏi vì sao người dân bỏ nước ra đi?
 
Danh từ thuyền nhân nói lên sự quyết chí trong vô vọng vì lý tưởng sống cho xứng đáng nhân phẩm của con người. Thuyền Nhân là Kẻ Vượt Thoát, quyết định nắm lấy sinh mệnh của chính mình để thách thức quyền lực nhân danh Giải Phóng. Họ là những cử tri tuyệt vời nhất, sử dụng lá phiếu bằng chính đôi chân của mình, một lựa chọn nhân bản đẹp nhất trên cuộc đời để đối đầu với bạo tàn, với bóc lột vô nhân đang xảy ra trên quê hương. Dẫu rằng mỗi chuyến ra đi đều có thể là một hành trình đưa đến tử biệt, Thuyền trôi xa về đâu ai biết / Thuyền có về ghé bến tự do? Bài “Lời Kinh Đêm” của Việt Dzũng hát ở thời đại oan khiên ấy nói hết thân phận của người vượt biển, Thuyền Nhân. Không chỉ biển vô tình, nhân loại làm ngơ, chính sách hà khắc của Nhà Nước trên quê hương đã xua đuổi nhân dân ra biển lớn.
 
Người buông xuôi về nơi đáy nước
Người có mộng một nấm mộ xanh.
Biển ngây ngô hay biển man rợ
Biển có buồn hay biển chỉ làm ngơ.
(Lời kinh đêm – nhạc Việt Dzũng)
 
Và tôi bắt đầu cuộc đời tỵ nạn tại trại Orote Point nơi Guam mù mờ ốc đảo, có nắng dài ngày, có đêm thức rỗng, chờ đợi những mịt mù ngày tới. Tôi rướm lệ khi tình nguyện viên tập cho chúng tôi hát bài “This land is your land” ở trại tỵ nạn. Có thật vậy, chúng ta đã mất quê hương?
 
Những năm lưu xứ tiếp tục trôi qua, chuyện cơm áo, gia đình, như bất cứ người tỵ nạn nào, trở thành chuyện bình thường của đời sống.
 
Tôi đã trở về Việt Nam lần đầu sau 32 năm xa xứ. Nhớ nước đưa chân tôi về. Không gì khác. Buổi sáng đầu tiên hít thở không khí quê nhà, tôi đã ghi lại như thế này trong tập Bắt Nắng:
 
“Nắng đầy lên lòng mắt. Nắng vỡ xuống rừng tùng. Ve râm ran dài suốt một vùng đồi. Tiếng hát diệu kỳ lâu lắm chưa được nghe, người hẫng trong dãy phượng đỏ chói chan những ngày mới lớn. Thơ ấu đi và thơ ấu trở về giữa không gian quê nhà. Khoảng đời ở giữa là nỗi trống lưu vong. Những chuyến về Đông phương nói theo anh Thi Vũ là những lần “recharge our batteries”. Những thỏi pin cạn dần chất điện, hao hớt nguồn năng nơi những vật lộn xứ người. Người khô héo miền đất khách như cây quít Hương Cần đem trồng nơi xứ tuyết. Cho đến sáng hôm nay tôi được tắm lại khung trời của nắng, gió và hơi hám người phương đông. Bây giờ hương quê là hít thở thật gần, trầm trầm khí quản. Mọi lời nói ngưng và không cần thiết khi buồng phổi căng gió, những cơn nồm của biển xa một thời và ngọn gió bấc mùa tháng chạp thuở trước quay về làm nổi ụ làn da vừa se lên trong cơn nắng.”
(32 năm nhìn lại, Bắt Nắng, Vũ Hoàng Thư)
 
Trở lại Nhatrang, mái nhà xưa đã không còn, biết bao kỷ niệm từ nơi ấy một thuở thiếu thời. Tất cả đã đổi thay, cảnh vật cũng như lòng người. Tôi đâm thấy mình xa lạ ngay trên quê hương. Những háo hức nay thành hụt hẫng. Ngậm ngùi với ý nghĩa của hai chữ lưu vong. Khi cất bước ra đi như thân cây chỉ còn núm rễ đứt, èo uột những rễ con còn lại bám vào đất mới, thế rồi một ngày tôi nhận ra mình chẳng thuộc về đâu, bên đó hay bên này... Lại bước đi, có lẽ.
 
đêm cuối ở nhatrang
hàng phi lao còn sót lại
vi vút gào ký ức
gởi lại em một mùa xanh
khi tóc cùng màu như liễu
tôi sẽ đi như 32 năm trước
tôi sẽ đi vội vã
           như một lần
có thật đã 32 năm?
(Đêm cuối ở Nhatrang – Vũ Hoàng Thư)
 
oOo
 
Năm 1975 đối với người Việt là một năm tràn đầy biến động, đổi dời định mệnh, trên phương diện cá nhân cũng như của nước nhà. Nói như ông thủ tướng cộng sản Võ Văn Kiệt, có một triệu người vui thì cũng có một triệu người buồn. Ông chỉ nói đúng một phần nhỏ, thực sự có hơn ba triệu người “di tản” buồn bên ngoài và hàng chục triệu người không-di-tản buồn bên trong.
 
Danh từ “di tản” thường được dùng trong thuật ngữ quân đội. “Di tản chiến thuật” để nói đến việc di dời đội quân tạm thời cho một chiến thuật nhất định nào đó trong tương lai gần. Có thể nói di tản là triệt thoái để chỉnh đốn cho nhu cầu mới. Thời chống Pháp ta có tản cư để tránh giặc và hồi cư là trở về lại nguyên quán. Khi di tản không còn là tạm thời, hồi cư là vô vọng, tương lai đầy chông gai trước mặt nơi xứ lạ quê người, người Việt lưu vong buồn trong chờ đợi. Họ trở thành “người di tản buồn” khi “chiều rơi nhanh và đêm xuống rất mau”. Họ nhìn qua phía bên kia chân trời, giọng nhừa nhựa Khánh Ly như châm chích thêm niềm đau, “nhìn xa xăm về quê hương rất xa”. Bài hát “Người di tản buồn” của Nam Lộc càng lúc nghe càng thấm thía.
 
Những năm sau, trong cái buồn chung lưu xứ, bắt đầu hé ra đôi tia sáng, hy vọng. Tin kháng chiến dậy lên hừng hực lòng người hải ngoại. Mọi con tim trông chờ để rồi cuối cùng tắt ngúm trong tuyệt vọng của mọi người. Mặt khác, điểm nổi bật là báo chí truyền thông Việt bắt đầu ra đời làm việc kết nối đồng bào tỵ nạn năm châu. Những tờ tiên phong lúc ban đầu có Quê Mẹ ở Pháp, Hồn Việt, Văn Nghệ Tiền Phong ở Mỹ, v.v...
 
Tạp chí Quê Mẹ - Paris khởi xướng chiến dịch “Một Chiếc Tàu Cho Việt Nam” đến biển Đông cứu vớt người vượt biển bằng con tàu Île de Lumière (Đảo Ánh Sáng). Chiến dịch này đã được sự ủng hộ mạnh mẽ của hơn 160 nhân vật nổi tiếng trên thế giới bao gồm các nhà văn, nhà báo, công đoàn và chính giới đủ mọi khuynh hướng. Ngoạn mục nhất, những trí thức thân tả của Pháp trước đây như Jean Paul Sartre, Raymond Aron vẫn thường đứng về phía cộng sản nay xoay qua ủng hộ cho người vượt biển Việt Nam. Ngoài ra Quê Mẹ còn chủ xướng phong trào “Chuyển lửa về Việt Nam” bằng cách gửi bài vở, tin tức, truyền đơn, báo chí hải ngoại về trong nước. Chủ đích là phá vỡ bức trường thành che đậy ngu dân từ nhà nước, và khai sáng, chiêu hồi cán bộ cộng sản, giúp họ bỏ chất cộng để trở lại bản thể Việt của người Việt, không còn là Việt cộng u muội nữa. Được như vậy, “chuyển lửa về Việt Nam” sẽ tạo nên một phong trào quốc kháng mạnh mẽ trong nước. Quốc kháng là gì? Nhà tranh đấu nhân quyền Thi Vũ – Võ Văn Ái chủ nhiệm báo Quê Mẹ giải thích:
 
Toàn dân đã hận là hận sự dại khờ phá phách, hận sự phung phí di sản của tiền nhân, hận sự giam người không xét xử, đày người không lý do, giết người không gớm tay. Cho nên bung thức đầu tiên là niềm Quốc hận, mà kỳ thực chứa ngầm một ý thức Quốc Kháng.
 
Vì sao quốc kháng? Ý thức quốc kháng là gì?
 
Quốc kháng là sự đối kháng của toàn dân. Tính chất tiêu cực của đối kháng là quốc hận và tính chất tích cực của quốc hận là quốc kháng.” (30-4-1978)
 
Dần dà văn nghệ sĩ hải ngoại kết hợp làm báo văn học, đáng kể phải nói đến tạp chí Văn Học Nghệ Thuật, Văn, Văn Học, Khởi Hành, Làng Văn, v.v... Cho đến khi kỹ thuật liên mạng phát triển, nhiều trang mạng văn học của người Việt xuất hiện làm đầu cầu cho việc sáng tác, nghiên cứu văn chương Việt đi thẳng đến đại chúng nhiều hơn, nhanh hơn báo giấy. Đầu tiên là trang Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng của Phạm Chi Lan, Gio-O của Lê Thị Huệ, Talawas của Phạm Thị Hoài. Không hẹn mà giới nữ lưu đứng đầu tiên phong trong việc sử dụng internet để giao lưu văn học cùng đại chúng. Sau đó rất nhiều trang mạng, blog của người Việt mọc lên khắp nơi trên thế giới.
 
Sự ra đời của báo giấy, báo liên mạng văn học của người Việt hải ngoại đã thiết lập lại nền văn học nhân bản có từ thời Việt Nam Cộng Hòa. Một cộng đồng văn chương Việt ở ngoài nước, nuôi dưỡng và làm sáng, làm đẹp ngôn ngữ Việt. Văn học Việt hải ngoại có phải là cánh tay nối dài của văn học Miền Nam trước 1975 hay không đó là một câu hỏi đáng được bàn luận. Tuy nhiên hít thở trong không khí tự do và vun xới tinh thần độc lập từ những giá trị căn bản con người ở các nước dân chủ tự do, giới sáng tác người Việt hải ngoại đã tạo cho mình một chỗ đứng rất riêng biệt trong văn học Việt Nam. Họ đã tạo nên một thành trì đối kháng với nền văn hóa chỉ đạo Marxist, văn công, ca ngợi chế độ vẫn còn duy trì ở trong nước. Đó là mốc son của giới cầm bút ở bên ngoài. Hà nội đã lo sợ và không ngừng đả phá cũng như xâm nhập chia rẽ hàng ngũ văn nghệ sĩ hải ngoại. Không thể không nhắc đến nhà văn Trần Hoài Thư một mình một ngựa, gìn vàng giữ ngọc bằng cách sưu tầm và phổ biến lại tài liệu, văn thơ của văn học Việt Nam Cộng Hòa trước 1975. Hà nội chẳng thể tiêu diệt được nền văn học đó với chính sách đốt sách vở, học đòi chiêu thức phần thư khanh nho từ thời Tần Thủy Hoàng, từ đám vệ binh đỏ Maoism sau khi “giải phóng” miền Nam. Nền văn học đó vẫn hiên ngang tồn tại ở hải ngoại.
 
oOo
  
50 mươi năm sau, đủ dài cho hai, ba thế hệ nối tiếp. Một bên trong, một bên ngoài. Ác mộng chiến tranh hầu như chỉ còn sót lại trong tâm tưởng của một thiểu số người Việt. Tất cả như nguội dần trong quên lãng. Tuy nhiên Cờ vàng vẫn tung bay mỗi lần lễ lạt, tưởng niệm, sinh hoạt cộng đồng và đã trở thành nghi thức. Đó là ID, là căn cước xác định một tập thể người Việt hải ngoại, độc lập với đảng cầm quyền trong nước. Một cộng đồng hải ngoại nhà nước không lay chuyển được nhưng vẫn được mời gọi đóng góp những khi cần. Hà nội vẫn tiếp tục chiến dịch mưa dầm thấm đất cho đến khi địch thủ ngã xuống trong mòn rữa. Vì vậy người cầm bút hải ngoại đừng quên ghi nhớ và nhắc lại thời kỳ đen tối ở quê nhà, chẳng phải vì muốn đào xới thêm lên thù hận cũ, nhưng để lịch sử sẽ không tái diễn trong tương lai. Gần nửa thế kỷ trước nhà thơ Cao Tần tự hỏi cho mình mà cũng chính cho hết chúng ta, Ta làm gì cho hết nửa đời sau? Cao Tần đã phó thác hết cho cơn mộng, một cơn mộng dữ đồng bào anh em phải gánh chịu bên ngoài cũng như bên trong quê hương,
 
Hãy đem hết những đổi đời tan tác
Gói giùm vào cơn mộng dữ đêm qua
(Cao Tần)
 
Nhà thơ Cung Trầm Tưởng trong bài “Ainsi Parlait Le Poète” đã cảnh báo về chế độ tù đày cải tạo khắc nghiệt của chế độ cộng sản như thế này: "Thế kỷ hung man này có những vết chàm riêng của nó. So với đồng nghiệp xa xưa, tên cai tù hiện đại tinh vi hơn, kiến hiệu hơn, tỉnh táo hơn, giỏi hơn trong cái ngón nghề hành hạ và làm khổ tha nhân.”
 
Chiều nay dưới giàn hoa thơm ngát êm đềm... Lời ca Tuấn Khanh nhắc lại một ngày xanh tươi mát mẻ trong quá khứ. Có yên tĩnh quê nhà, có nắng hanh ngủ ngày dưới giàn hoa thiên lý. Hoa thiên lý có màu vàng, thơm ngát, tên thiên lý gọi kêu vạn dặm muôn trùng xa. Dù có xa bao xa, ta vẫn nhận ra người. Những cái xa còn lay lắt khôn nguôi. Vươn tay ra tìm dù không nắm được cái đã mất, nhưng cái mất vẫn nằm mãi ngay trong hồn.
 
 “Người di tản buồn” có còn buồn sau 50 năm? Có lẽ... cho đến cuối đời. Một điệu buồn man mác như sợi khói bay lên từ mái rạ cuối chiều ở một nơi xa xăm ngút ngàn ký ức.

 

– Vũ Hoàng Thư

(Năm thứ 50 lưu xứ)

 

(Trích Tự do cùng ngôn ngữ, 50 Năm Văn Học Tiếng Việt Hải Ngoại, Gió-O sắp xuất bản).

Mỗi năm nhân loại xếp hạng lại bảy kỳ quan trên thế giới. Bảy Kỳ Quan của nhân loại được kê khai ra phải đạt được những tiêu chuẩn: Đẹp, lạ, có di tích lịch sử, vẻ đẹp tồn tại của thiên nhiên hoặc một kỳ công của con người. Thí dụ bảy kỳ quan dưới đây: Núi Hy Mã Lạp Sơn: Taj Maha (Kiến trúc nổi tiếng thuộc Agra-India,) Grand Canyon- Mỹ, Kênh Đào Panama, Tòa Cao Ốc Empire State Building(102 từng ở NY; xây1930-1931), Nhà Thờ St. Peter Basilica (Rome),Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc.) Những kỳ quan này thu hút cả thế giới, thu hút những người muốn chinh phục thiên nhiên (Hy Mã Lạp Sơn). Những khách du lịch muốn được xem tận mắt những kỳ công của nhân loại (Empire State Building; Agra-India) Muốn mở lại những trang lịch sử của nhân loại trên những di tích phế, hưng( như Vạn lý Trường Thành; St. Peter Basilica)
Dù trận đấu chưa diễn ra, họ đã biến phòng ăn chật hẹp thành một lễ hội đường phố thu nhỏ. Họ mang theo tinh thần hoang dại, rực lửa, giăng cờ, ca hát và hò reo cổ vũ vô cùng náo nhiệt. Nhìn nhóm Brasil nhuộm vàng cả một góc phòng, tôi hiểu rằng họ có thể chia rẽ vì nhiều thứ, nhưng khi khoác lên mình màu áo biểu tượng quê hương, họ là một thể thống nhất.
Như tên gọi, tứ sắc gồm những quân bài có tên: tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã, và chốt. Mỗi thứ có bốn màu: vàng, đỏ, xanh, trắng, mỗi màu có 4 con. Như vậy mỗi bộ tứ sắc có 112 quân bài và bốn người chơi. Đây là môn bài dân gian rất phổ biến, nhất là ở Huế, nhưng lại là một trong những môn khó chơi nhất vì rất nhiều quy luật tỷ mĩ không thể kể hết ở đây. Phải đủ bốn người mới đủ để gầy sòng tứ sắc.Thời đó ở vùng quê VN dĩ nhiên chưa có điện thoại, cell phone thuận tiện gọi tiếng là có như bây giờ, vì vậy muốn ráp sòng việc đầu tiên phải có người chạy từ đầu đến cuối xóm, đến từng nhà rủ rê hẹn hò. Nhà ông tôi luôn là địa điểm lý tưởng nhất để gầy sòng vì có phòng khách rộng rãi mát mẻ, và nhất là có hai người làm túc trực để sai bảo. Đang chơi ai cần ly nước chè, hay vấn giùm điếu thuốc Cẩm Lệ, vv… đều được phục vụ chu đáo.
Năm giờ sáng. Bàn viết vẫn trống. Tôi nhìn tờ giấy trắng dưới ánh đèn vàng như nhìn vào miệng hố sâu. Ngoài cửa sổ, Manhattan vẫn chưa tỉnh hẳn. Từ căn studio tầng sáu này, tôi nghe thấy tiếng xe rác nghiến bánh trên phố Mott, ai đó la hét bằng tiếng Quảng Đông ở góc phố. Ba mươi hai tuổi. Sáu năm bỏ luật khoa. Bốn năm làm phụ bếp để trả tiền thuê. Hai năm gửi truyện không ai nhận.
Có nhiều lần bà giải thích với các cháu là mình phải tự mình niệm phật, như tự độ cho mình, lúc còn có thể hiểu kẻo khi già yếu quá, lưỡi líu lại, không nói thành tiếng nữa chúng tôi nắm tay già nua của bà thưa rằng khi bà yếu quá dĩ nhiên tụi cháu niệm phật dùm bà hoặc sẽ có ban độ niệm tiếp tục bà đừng lo lắng…Bà tôi cười hiền: mình lo cho mình yên trí hơn người khác làm dùm mình… vả lại ban hộ niệm có tới niệm phật giúp, thì mình cũng may ra có 2,3 phần cứu rỗi… còn lại 7,8 phần là công đức phước đức của người niệm… bà còn lý giải xa hơn: các con ơi, cây sẽ đổ nằm về phía nó đã chọn nghiêng. Bà tôi cũng lý giải xa xôi bóng bẩy mà có lúc chúng tôi chỉ có thể hiểu lơ mơ lờ mờ…
Những nét vẽ ngoằn ngoèo, bí ẩn, màu vàng nâu đậm trên hai cánh tay trần của những cô bạn người Ả Rập mỗi khi họ về nước thăm gia đình và quay trở lại sở làm, những nét vẽ huyền bí ấy cứ thu hút ánh mắt tôi, tự hỏi không biết những hình vẽ ấy thể hiện điều gì, hay chỉ là nghệ thuật thôi? Ghislaine, cô bạn thân người Ả Rập làm cùng phòng giải thích: Mỗi người có một tên khác nhau, người vẽ sẽ dựa vào tên, ngày sinh và tính cách của mình mà vẽ, mỗi kiểu đều khác nhau, biểu tượng cho niềm vui, tình yêu, sự sung túc và câu chúc phúc cho người đó, ví dụ hình vẽ tròn, mandala nói lên sự trọn vẹn; những nét vẽ vươn lên như những sợi dây leo, ý nói hy vọng, phát triển đến sự thành công; vẽ con mắt, hình học là sự trừ khử những điều xấu, xui xẻo của cuộc đời. Hình vẽ ấy được gọi là Henna, người phụ nữ Ả Rập rất tin vào nét vẽ bói toán Henna này như bùa hộ mệnh của mình, không những là nét đẹp văn hóa, tín ngưỡng mà còn là thời trang nữa.
Trong tĩnh lặng của bóng đêm, tôi tỉnh dậy. Tôi đi qua phòng ngủ của chồng, tôi thấy anh trăn trở trong giấc ngủ, hơi thở nặng nề. Tội nghiệp anh, mấy hôm nay bơ phờ, đầu óc thất tán, ai bảo ăn thì ăn, bảo làm thì làm. Chẳng biết mình ăn gì và làm gì. Tôi đứng lặng nhìn anh một lúc, mái tóc thưa thớt, bạc như những sợi cước; trên khuôn mặt quen thuộc, những vết gấp của thời gian chồng lên nhau, anh thật sự đã già lắm rồi. Tôi cúi xuống, kéo chiếc chăn lên ngực anh, đặt nhẹ trên trán anh một nụ hôn, an ủi.
Rất nhiều lần, mình đã nghĩ các chú kiến này chỉ có thể là các ông tiên, bà tiên hay những “quân lính” cực kỳ tinh vi từ Vũ Trụ mới có thể “linh” như vậy. Càng thêm thương họ và biết ơn Vũ Trụ khi cho các chú kiến xuất hiện trên cõi đời, để chúng phải luôn dõi theo chúng ta từng bước và “nhặt” sạch những gì chúng ta đã vung vải, không để phí phạm bất cứ một thứ gì!
Tất cả mười đứa con đều được Mạ thương đặc biệt. Con đầu, con út tất nhiên được thương thật nhiều. Con lập gia đình trễ, hoặc có con muộn, con qua Đức chậm phải chịu phận uống nước đục, con qua Đức sớm phải xa Ba Mạ khi tuổi vừa xong trung học, con trực tiếp chăm sóc Ba Mạ… Tất cả đều có lý do để được Mạ thương thật nhiều. Riêng tôi, chẳng có lý do nào rõ ràng, nhưng tôi vẫn cảm thấy tình thương vô bờ của Mạ. Mạ thương mỗi đứa con đặc biệt, đơn giản vì bầy con là con của Mạ. Tôi cảm động rưng rưng khi anh cả nhắc chuyện ngày xưa. Anh kể, lúc tôi còn bé, Mạ thương tôi lạ lùng. Cứ trước khi đặt tôi vào trong nôi để ngủ, Mạ hun tôi không biết bao nhiêu lần. Mạ vừa ru, vừa hò: “À ơi, ru con, con ngủ cho muồi…” Tiếng hò ru con của Mạ cứ theo anh, văng vẳng trong tai mỗi khi anh nghĩ đến Mạ. Lúc đó, dù còn quá nhỏ, nhưng những lời ru ngọt ngào của Mạ đã khắc sâu vào tâm khảm tôi. Ba kể, Mạ hay nựng nịu hai đứa út song sinh, nói, ai đem núi vàng tới, Mạ cũng không đổi hai cục cưng của Mạ.
Xế trưa và cơn buồn ngủ, chập chờn tình xa mộng mị trong giọng khàn khánh ly làm sao em biết đời sống buồn tênh... ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, như gọi từng phiến buồn rơi rất đều...
Sau nhà vợ chồng tôi có khu vườn nhỏ, cây to cây bé chen chúc vào nhau với các tàng cây đủ cao để tách thành một vòm trời riêng biệt và hoa trái tạo hương sắc quanh năm. Khách đến ai cũng thích ngồi, ai cũng khen khu vườn ấm áp. Cả chim chóc cũng kéo đến ríu rít hằng ngày. Dù sao chúng tôi vẫn yêu nhất mùa xuân, những búp lá nụ hoa căng tràn sức sống, như yêu tuổi dậy thì của chúng tôi đã bung nở giữa Sài Gòn.
VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.