Hôm nay,  

Ngu Yên Và Lễ Hội “Rước Sách”

28/08/202601:18:46(Xem: 462)
 
 
RMS-Ngu-Yên-hình-4-cột
Hàng trên từ trái: Hòa Bình đại diện ban tổ chức/Việt Báo, họa sĩ Ann Phong, nhạc sĩ Nguyễn Thảo. Hàng giữa từ trái: MC Ysa; Nhà văn/nhà thơ Ngu Yên ký tặng sách; nhà báo Đinh Quang Anh Thái; Hàng dưới: quan khách tham dự.

Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà.

Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.”
 
Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa.

Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.” Cũng phải. Người ta thường ra mắt một cuốn, Ngu Yên đem ra giới thiệu một lượt năm cuốn. Ban tổ chức tiết lộ con số ấy thật ra đã là kết quả của một cuộc “thương lượng quyết liệt”: Việt Báo phải mặc cả mãi mới kéo được từ… 50 cuốn xuống còn năm cuốn.

Điều hợp chương trình, hẳn nhiên, là khuôn mặt văn hóa sáng và khả ái Lê Đình Y Sa, Giám đốc Hội Văn Hóa Nghệ Thuật Việt Mỹ (VAALA). Trên thiệp ghi 3 giờ 30, nhưng mới hơn 3 giờ khách bốn phương gần như đã tề tựu đông đủ — một hiện tượng cũng khá hiếm trong sinh hoạt người Việt, đủ cho thấy Ngu Yên có sức mời gọi mọi người đến với sách vở mạnh đến đâu.

Y Sa mở đầu bằng lời chào mừng quan khách và những khuôn mặt quen thuộc trong giới văn hóa, văn chương và nghệ thuật: giáo sư Trần Huy Bích; các họa sĩ Nguyên Khai, Nguyễn Việt Hùng, Ann Phong, Nguyễn Đình Thuần, Phan Chánh Khánh; các nhà văn, nhà thơ Cung Tích Biền, Phan Tấn Hải, Trịnh Y Thư, Đặng Thơ Thơ, Nguyễn Hoàng Nam, Phạm Quốc Bảo, Thùy Hạnh; các nhà báo Đinh Quang Anh Thái, Doãn Hưng, Thanh Huy, Tino Cao, Trịnh Thanh Thủy… cùng đông đảo thân hữu từ các hội đoàn văn hóa tại Quận Cam và những nhóm văn nghệ từ Washington, D.C., Houston về dự.

Giới thiệu Ngu Yên — một tên tuổi có lẽ chẳng cần giới thiệu dài dòng với độc giả văn chương hải ngoại — Y Sa nói đến nét riêng trong thế giới sáng tác của ông, nơi thơ, văn, nhạc và bình luận chính trị chẳng chịu đứng yên trong ngăn kéo có phân loại. Chị đọc hai bài thơ ngắn, như một cách để Ngu Yên tự giới thiệu mình bằng chính chữ nghĩa của ông. Đặc biệt bài “Màu Kỷ Niệm” cho thấy những gam màu của Ngu Yên chẳng hề giống màu của ai. Từ đó Y Sa mời họa sĩ Ann Phong lên nói về Ngu Yên từ góc nhìn của một người đọc, một họa sĩ và một người bạn lâu năm.

Họa sĩ Ann Phong kể lần đầu gặp ông cách đây khoảng 20 năm, trong một cuộc triển lãm tranh tại Houston. Ngu Yên phỏng vấn chị trên đài. Đang nói chuyện nghệ thuật tạo hình ngon lành, bỗng nhiên ông nổi hứng… ca cải lương.

“Thấy ông này lạ!”

Cả phòng lại bật cười. Những ai từng quen Ngu Yên, hoặc chỉ cần đọc ông đủ lâu, đều hiểu chữ “lạ” ấy hoàn toàn không có ý chê.

Ann Phong ví người viết với người họa sĩ. Người nghệ sĩ bắt đầu bằng mắt và óc để nhìn, qua trái tim để cảm, rồi dùng bàn tay mà diễn tả. Người họa sĩ dùng màu. Ngu Yên dùng chữ. Nhưng chữ trong tay ông lại không chịu chỉ làm một nghề: khi thành thơ, khi thành văn, khi thành bình luận, lúc lại biến thành những nốt nhạc, lời ca. Nói cách khác, ông không ngại mang hết các “môn võ” ra biến hóa, pha chế.

Theo Ann Phong, chữ nghĩa của Ngu Yên không thích đóng khung. Ông viết như đang nói chuyện với chính mình, dễ lọt tai người đọc. Câu chữ dí dỏm nhưng phía sau cái cười lại có điều gì khiến người ta phải dừng lại suy nghĩ. Có lúc ý tưởng rất ‘triết lý’, nhưng cách nói lại “bình dân học vụ,” thành ra cao mà không lên gân, sâu mà không làm người đọc hụt hơi.

Chị đọc mấy câu trong bài “1986. Buồn Tầm Thường,” Ngu Yên viết cách đây gần 40 năm:

Xưa nay có ai mà không buồn.
Nặng trong hồn chút gì vấn vương.
Ngày xưa mới lớn buồn cẩm cẩm.
Nay tuổi trung niên buồn bình thường.

Rồi từ một Ngu Yên của gần 40 năm trước, chị bước sang Ngu Yên của năm 2026, với bài “Bí Mật Của Sáng Trong Khi Tác”:

Quen thuộc và mới lạ
Như hai gã sinh đôi
Lưng dính nhau mặt nhìn hai hướng…
Viết bài thơ, câu chuyện, ca khúc, vẽ bức tranh
Quen thì chán, mới thì sợ…

Theo Ann Phong, đọc Ngu Yên thường gặp những điều tưởng rất “bình thường” mà xét kỹ lại chẳng “tầm thường” chút nào. Ông thích lật chữ, xoay nghĩa, đi tìm cả những “sáng tác” lẫn những “tối tác” — những khoảng sáng tối mà người làm nghệ thuật nhìn thấy rồi khoái chí vì mình nhận ra chúng và chúng nhận ra nhau.

Khi thay mặt Việt Báo, ban tổ chức và tác giả cảm ơn quan khách, nhà báo Hòa Bình cũng nhắc đến sức sáng tác và sự đam mê làm việc của Ngu Yên, mượn hình ảnh ví von của nhạc sĩ Nguyễn Thảo cho rằng người nghệ sĩ hẳn đã “bị quỷ ám.”

Bạn bè văn nghệ lâu năm đọc và hiểu Ngu Yên đều hiểu đó là một cách ví yêu. Bởi nếu quả có con quỷ nào đủ sức bắt một người ngày đêm làm thơ, viết văn, bình luận, làm nhạc, đọc sách, suy nghĩ, viết và viết mãi, thì con quỷ ấy hẳn cũng phải làm việc ‘overtime’. Điều người ta thấy ở Ngu Yên, sau cùng, vẫn là tài hoa cộng với một sức làm việc nghiêm túc, bền bỉ, ngày đêm văn ôn võ luyện để mỗi ngày mỗi “vượt trên chính mình”.

Xen giữa những cuộc chuyện trò là phần văn nghệ của bạn hữu từ Houston, Washington, D.C. và Quận Cam, với Nga Mi, Vũ Tiến Dũng, D Hồng, Ngô Mẫn cùng nhiều thân hữu với nhiều tiết mục văn nghệ đặc sắc.

Hình-trang-nhất-nhỏ-2-cột

Tác giả Ngu Yên và vợ Ngọc Phụng, cùng ban tổ chức và thân hữu. Từ trái: Janine Trang Nguyễn, Thúy Hằng, Hòa Bình, Quyên Trần, Hằng Nguyễn, và họa sĩ Ann Phong.


Đặc biệt là phần trình diễn của hai anh em Ngu Yên và nhạc sĩ Nguyễn Thảo với tiết mục “Sách và Nhạc” qua hai ca khúc “Cười Đáp Trả Thanh Xuân” và “Bóng Nắng Khuya” — ở đây, âm nhạc cũng giống văn thơ Ngu Yên, đang nghe quen quen, bỗng rẽ khúc sang một nhịp điệu mà chẳng ai có thể đoán trước, thú vị và bất ngờ.

Chương trình khép lại bằng tiết mục “Mặt Nạ Sách” của Ngu Yên và bà xã của ông là Ngọc Phụng, và bài thơ “Người Con Gái Mặc Quần” của Bùi Giáng, được ông diễn bằng một lối pha trộn nhạc và thơ khó gọi tên nào khác hơn là cách trình diễn đậm tính ‘Ngu Yên’, cái lối mà theo nhà báo Đinh Quang Anh Thái, không những không “ngu” mà chẳng hề chịu “yên”, vừa nhộn vừa rộn.
 
Buổi “rước sách” kết thúc thật vui và nhẹ nhàng, nhưng số sách được độc giả “rước” đi thì không mấy nhẹ. Ban tổ chức cho biết đây là một trong những buổi ra mắt sách bán được nhiều sách nhất, một tin vui ở thời buổi mà số người đọc, có lẽ, sắp ít hơn… số người viết.
 
Nguyên Hòa | Việt Báo

Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
Trong cuốn hồi ký kinh điển viết về nạn khủng bố của nhà nước Sô Viết thời thập niên 1930, cuốn Hope Against Hope, bà Nadezhda Mandelstam kể lại những năm cuối cùng của cuộc hôn nhân với thi sĩ Osip Mandelstam, khi hai vợ chồng phải trốn tránh hết thành phố này đến làng mạc khác, sống nhờ lòng hảo tâm của một số ít bạn bè và người lạ can đảm, bị trục xuất khỏi căn nhà ở Mạc Tư Khoa vì bị xem là kẻ thù của chế độ. Tội trạng chính của Osip chỉ là đã đọc lên, trong một bữa tiệc, một bài thơ mà ông chưa từng viết ra giấy, càng chưa từng cho xuất bản, nhằm chế giễu Stalin và vạch trần chế độ tàn bạo của y.
Concrete Poetry hay Visual poetry, thơ Cụ Thể hay thơ Thị Giác, tôi không thể xác định, có lẽ cả hai. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam là người ngắn tiểu sử. Ông xuất hiện gần như từ đầu của dòng thơ hải ngoại và từ tốn làm thơ. Không tự thắp sáng mình, cũng không tự đốt mình như một số nhà thơ đã cháy. Thoạt nhìn, thơ của ông bình thường nhưng nhìn đi nhìn lại, có thứ gì ẩn núp bên dưới chữ nghĩa hình ảnh rất khác thường, mới một cách không khoe. Ví dụ như những ngày trống, tâm tư đầy quá khiến cảm giác rỗng, ông làm, có phải thơ hay không?
Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu.
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè. Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)
Trong mọi từ của một ngôn ngữ, có lẽ không từ nào vừa nhỏ vừa nặng như chữ tôi. Nó chỉ có một âm, nhưng mỗi lần xuất hiện trong một trang văn hay một câu thơ, nó kéo theo cả một câu hỏi chưa bao giờ được trả lời dứt khoát: ai đang nói đây. Người đọc bình thường có một phản xạ tự nhiên, là tin rằng chữ tôi trên trang giấy chính là tác giả, người có tên in ngoài bìa sách. Nhưng văn học, ngay từ buổi có ý thức về chính mình, đã liên tục phá vỡ phản xạ ấy. Cái tôi trong văn học hiếm khi đơn giản là người viết. Nó là một vai, một mặt nạ, đôi khi là một đám đông giả trang thành một người. Bài viết này thử lần theo những hóa thân ấy, từ cái tôi là chính tác giả, tới cái tôi là kẻ khác, tới cái tôi tập thể mà Annie Ernaux đã đẩy tới tận cùng, rồi quay về với chữ ta đặc biệt của tiếng Việt, và cuối cùng đặt một câu hỏi cay: phải chăng thi ca hiện đại đã lạm dụng chữ tôi.
Vì không cứ nhìn là thấy. Thấy là việc của mắt. Nhìn là việc của tâm hồn. Người ta có thể thấy rất nhiều mà không thực sự nhìn ra điều gì. Có thể đi qua cả một khu vườn, biết tên từng loài cây mà chưa từng nghe tiếng mùa trong lá. Có thể học hết bản đồ sông núi mà không nhận ra điệu nhạc của dòng nước.
Trước đây vài năm, nghe Thư trở bệnh, tôi có viết một bài, ấy là tình bạn, dù xa cách nhau nhưng đều còn chân đi trên mặt đất. Nay Thư đi thật rồi, xin gởi một nén nhang từ biệt. Trước khi viết tiếp, tôi thử gõ vào AI, anh thầy Mo này có nhận xét về nhà thơ họ Phạm như sau: “Phạm Thiên Thư là một hiện tượng khá đặc biệt của thi ca Việt Nam hiện đại. Ở ông có sự hòa quyện hiếm thấy giữa chất lãng mạn của thơ tình và chiều sâu thiền học của Phật giáo. Chính điều đó làm cho thơ ông mang vẻ “nửa đời nửa đạo” — vừa gần gũi, mộng mơ, vừa phảng phất suy tư siêu thoát.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.