Hôm nay,  

Khi Cuba Có Dầu Hỏa

06/11/200800:00:00(Xem: 12390)

Khi Cuba Có Dầu Hỏa

Tuấn Minh (VNN)
Trong số bốn nước còn lại trên thế giới vẫn theo chế độ cộng sản (Cuba, Bắc Hàn, Trung Cộng và Việt Cộng) thì quốc gia ở Nam Mỹ là nước bị Hoa Kỳ chơi ép nhất, mà lý do để biện minh nhiều phần thiếu tính thuyết phục. Thật vậy, Hoa Kỳ đã mở cửa và hợp tác mạnh mẽ từ lâu với Trung Cộng chỉ vì quyền lợi kinh tế cấp thời, ham đồ với giá rẻ mà nhiều khi không chịu nghĩ đến cái hại về lâu dài đối với đối thủ đáng ngại và có thể dễ dàng quay sang đối đầu. Sau đó, Hoa Kỳ cũng đã hợp tác với CS Việt Nam, kẻ thù cũ trong cuộc chiến hơn ba thập niên về trước, mà quyền lợi thu về cho Hoa Kỳ thật ra cũng chẳng đáng là bao, ngoại trừ yếu tố được nhiều người nói đến là mong giữ được một đồng minh mới để kềm chân Trung Cộng trong tương lai khi cần thiết. Riêng với Bắc Hàn thì Hoa Kỳ không có quyền lợi cụ thể nào hết, cũng như không có sự lo sợ nào cho sự an nguy của mình, ngoại trừ nhiệm vụ hiện hữu để bảo đảm cho sự an ninh của hai đồng minh là Nhật Bản và Nam Hàn. Ấy vậy mà cuối cùng dường như Hoa Kỳ cũng sẵn sàng nới lỏng sự kềm kẹp với quốc gia này, chẳng hạn như sắp loại bỏ tên ra khỏi danh sách các nước khủng bố để mở màn cho giai đoạn bình thường hoá quan hệ ngoại giao.
Nhưng với Cuba thì khác. Hoa Kỳ, dưới thời chính quyền Bush, vẫn cương quyết giữ vững lập trường "chống Cộng đến cùng", quyết giữ vững chính sách cô lập ngoại giao và cấm vận kinh tế, khởi đi từ năm 1962 sau vụ tấn công ở Vịnh Con Heo nhằm lật đổ Fidel Castro bị thất bại, cho dù đã có nhiều vị dân cử phe Cộng Hoà đã không còn ủng hộ chính sách này nữa. Và thật ra thì ảnh hưởng của khối di dân gốc Cuba ở Miami cũng không còn mạnh để tác động lên chính sách toàn quốc của Hoa Kỳ. Vì giống như các khối di dân khác, nếu như thế hệ cao niên vẫn còn sắt son với lý tưởng chống chế độ cộng sản ở Cuba và nuôi mộng một ngày nào đó lật đổ được thể chế độc tài Castro thì thế hệ con em của họ không còn quan tâm đến vấn đề đó nữa. Ấy là chưa kể dân gốc Cuba không còn chiếm một đa số đáng kể tại tiểu bang Florida, và những di dân gốc Nam Mỹ khác không hẳn chia sẻ cùng quan niệm chống lại Cuba như họ.
Từ vài năm qua, đã có nhiều tiếng nói kêu gọi Hoa Kỳ nên thay đổi chính sách cứng rắn đối với Cuba để đẩy mạnh các phong trào hay dịch vụ giao thương hoặc du lịch với hai nước, được coi như là một phương tiện hữu hiệu và êm dịu nhất để giúp thay đổi bộ mặt của một chế độ độc tài, tương tự như quan niệm của các chính quyền Mỹ đối với Trung Cộng và Việt Cộng. Nhiều vị dân biểu và nghị sĩ Cộng Hoà đã đệ nạp những dự luật nhằm cho phép các hãng dầu của Mỹ được phép làm ăn với Cuba, ít ra là có thể khai thác ngoài khơi đảo quốc này để mong tìm được những nguồn dầu hoả, nếu có, sẽ dễ dàng phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ to lớn của Hoa Kỳ. Trong cuộc vận động tranh cử hiện nay, không thấy hai vị ứng viên có lên tiếng về chuyện này, nhưng nhiều người nhận định rằng một vị tổng thống phe Dân Chủ như ông Obama có lẽ sẽ dễ dàng lắng nghe những tiếng nói để có thể thay đổi chính sách. Nhất là trong tình hình mới đây khi hãng dầu quốc doanh Cubapetroleo, viết tắt là Cupet, vừa đưa ra một tuyên bố khá động trời là khối lượng dầu hoả ngoài khơi Cuba được ước tính lên đến 20 tỷ thùng. (Để dễ so sánh, Hoa Kỳ có khối lượng dầu hoả vào khoảng 29 tỷ thùng).
Từ nhiều thập niên qua, người dân Cuba nhìn về hướng bắc để chỉ mơ tưởng về một làn sóng có thể đẩy đưa những con thuyền mong manh đưa dân tị nạn đến được bến bờ Florida của đại lân bang ở phía bắc là Hoa Kỳ để mong hưởng được một đời sống tự do và tốt đẹp hơn. Nhưng gần đây, họ có thể bắt đầu mơ tưởng về một niềm tin mới, có thể giúp đem lại trù phú cho đất nước mình, khi những nhà địa chất học đưa ra những bản thẩm định mới cho rằng có khoảng từ 5 đến 10 tỷ thùng dầu đang nằm dưới lòng biển ngoài bờ biển Cuba về phía tây bắc. Nếu điều này là hiện thực, thì biết đâu nó sẽ giúp cho Cuba, quốc gia duy nhất trên bán cầu này còn theo thể chế cộng sản, thoát khỏi vòng lệ thuộc vào các nước có nhiều dầu hoả như Liên Sô (lúc xưa) hoặc Venezuela (ngày nay). Và từ đó có thể nhanh chóng vượt ra khỏi vòng nghèo khó.
Thật ra thì Cuba đã có dầu hoả từ lâu. Nhưng Cuba chỉ sản xuất được mỗi ngày cỡ 60,000 thùng, nhưng nhu cầu tiêu thụ mỗi ngày lại lên đến 150,000 thùng. Vì thế cho nên Cuba lúc nào cũng cần phải nhập cảng dầu thô, hay đúng hơn là cần sự tiếp tế vì nền kinh tế nghèo nàn của Cuba không đủ sức để trang trải chi phí mua hàng nhập cảng. Lúc xưa vai trò của đồng minh hảo tâm là Liên Sô, nhưng sau này là Venezuela, mỗi ngày cung ứng với giá rẻ cho Cuba khoảng 100,000 thùng.
Vào năm 2004, Cơ quan giám định địa chất của chính phủ Mỹ (US Geological Survey, USGS) đưa ra con số thẩm định đầu tiên từ 5 đến 10 tỷ thùng, ước lượng nằm ở vùng tây bắc ngoài khơi, thường được gọi là Vùng Đặc Quyền Kinh Tế (Exclusive Economic Zone, EEZ). Nhưng trong một cuộc họp báo vào tuần trước, hãng dầu Cupet đã đưa ra con số thẩm định mới to lớn hơn nhiều là 20 tỷ. Ông Rafael Tenreyro, giám đốc ban thăm dò, còn nói với các phóng viên rằng "đây không phải là chuyện đùa". Ông cho rằng bản thẩm định mới được dựa trên những nghiên cứu mới nhất để so sánh về những điểm tương đồng giữa các mỏ dầu tại Cuba với các mỏ dầu khác trong vùng Vịnh Mễ Tây Cơ. Ông nói: "Chúng tôi có nhiều dữ liệu hơn USGS," nhưng không đưa thêm những bằng chứng cụ thể nào khác.
Nhiều người đã tỏ ra hoài nghi về con số quá lạc quan này, và cho rằng đó có thể là một mánh khoé để kích động sự tò mò của các hãng dầu hoả muốn đầu tư trở lại, giữa lúc mà giá dầu đang tụt dốc gần đây có thể khiến nhiều người bớt hăng hái. Cuba càng ngày càng mong muốn có nhiều hãng dầu quốc tế chịu nhảy vào để đầu tư trong các công trình thăm dò và khai thác rất tốn kém trong bước đầu. Nhất là trước áp lực hiện nay của giá dầu thô giảm, sẽ khiến cho đồng minh Venezuela bị mất bớt lợi nhuận và sẽ khó khăn hơn để giúp đỡ hết mình cho Cuba. Đó là nhận định của ông Jorge Pinon, một chuyên gia nghiên cứu về dầu hoả tại Cuba hiện đang làm việc tại Đại học Miami, khi cho rằng phía Cuba đang bị áp lực để tìm cách đẩy mạnh chương trình phát triển tài nguyên dầu hoả trong nước.


Nhưng cũng có nhiều chuyên gia độc lập khác đưa ra những nhận định thuận lợi khác. Ông Chris Schenk, trưởng toán điều hợp của USGS tại vùng biển Caribbean đã làm cuộc thăm dò vào năm 2004 và đưa đến con số từ 5 đến 10 tỷ thùng, cũng công nhận rằng các chuyên gia địa chất học của Cuba "rất xuất sắc". Tuy vậy, ông cũng nói thêm rằng "chúng ta mong muốn nhìn thấy thêm nhiều dữ kiện nữa" và lấy làm tiếc rằng tình hình cấm vận hiện nay, cộng thêm những chính sách cô lập thông tin của Cuba đã khiến cho nhiều chuyên gia không thể hội thoại nhiều hơn để tìm hiểu. Một chuyên gia khác là ông Jonathan Benjamin-Alvarado, một phân tích gia làm việc tại trường Đại học Nebraska, đã nhận định: "Nếu đúng là 20 tỷ thùng, thì quả là một sự chấn động có khả năng thay đổi cục diện." Tuy không hoài nghi về khả năng của các nhà địa chất học ở Cuba, nhưng ông Benjamin-Alvarado cho rằng con số 20 tỷ là quá đáng: "Tôi tin tưởng họ là những chuyên gia nghiên cứu về dầu hoả, và những con số đọc được từ các cuộc đo lường về địa chất có thể đúng, nhưng cho đến khi nào chúng ta thấy được những con số khác, từ những chuyên gia độc lập khác, thì những con số mới này vẫn còn bị hoài nghi."
Tuy vậy cũng đã có vài hãng dầu quốc tế bắt đầu nhảy vào để thử thăm dò. Đầu tiên là công ty năng lượng Repsol-YPF của Tây Ban Nha đã ký một hợp đồng liên doanh với Cupet, và sẽ bắt đầu thăm dò khoan dầu tại vùng EEZ vào đầu năm 2009. Tiếp đến là các công ty năng lượng khác như StatoilHidro của Na Uy và Oil & Natural Gas Corp. (Công ty Dầu và Khí) của Ấn Độ. Công ty năng lượng quốc doanh của Venezuela là Petroleos de Venezuela lại không được xem là sẽ đóng vai trò quan trọng vì không có khả năng và kinh nghiệm trong lãnh vực khoan dầu ngoài biển sâu. Các hãng dầu của Trung Cộng cũng có thể ngắm nghé đến trong tương lai, nhưng cho đến nay chỉ chú trọng vào việc khai thác dầu hoả trên đất liền tại Cuba. Chính phủ Cuba hiện đang có những thảo luận quan trọng với hãng dầu Petrobras của Ba Tây, là công ty vừa mới khám phá kho dầu lớn ngoài bờ biển gần thành phố Rio de Janeiro. Nếu những cuộc điều đình này đi đến thoả thuận, thì Petrobras sẽ là một bạn hàng hợp tác quan trọng đối với Cuba trong ngành khai thác dầu ngoài khơi.    
Tuy vậy, tất cả những hợp đồng này cũng chỉ mới chiếm 1/4 diện tích to lớn khoảng 43,000 dặm vuông của vùng EEZ mà Cuba muốn khai thác. Hầu hết các chuyên gia đều nhận định rằng lý do chính khiến các công ty năng lượng ngần ngại nhảy vào thị trường Cuba vì những khó khăn cơ bản và hạ tầng cơ sở một khi muốn làm ăn tại đây. Bởi vì nếu muốn nhập cuộc, các công ty này phải đầu tư rất nhiều từ vốn liếng, cơ sở, dụng cụ, và kiến thức cùng với nhân viên chuyên môn. Hơn nữa, địa thế của Cuba mỗi năm dễ gánh chịu nhiều trận cuồng phong thổi vào với sức tàn phá kinh khủng cũng khiến cho việc khai thác không dễ dàng và êm thắm. Đó cũng là lý do khiến cho công ty năng lượng Sherritt của Gia Nã Đại mới đây cũng đã rút ra khỏi giao kèo khai thác tại Cuba.
Theo chuyên gia Benjamin-Alvarado thì quốc gia duy nhất có thể cung ứng vốn liếng và khả năng chuyên môn hữu hiệu nhất để khai thác dầu hoả tại bờ biển Cuba không ai khác hơn chính là Hoa Kỳ. Nếu như Cuba có thể chứng minh một cách khá xác tín về kho tài nguyên lên đến 20 tỷ thùng để khai thác, thì việc thu hút các quốc gia đầu tư khác như Ba Tây cũng không phải là điều khó. Câu hỏi được đặt ra là trong trường hợp đó, liệu Hoa Kỳ có sẵn sàng tháo gỡ hàng rào cấm vận để nhập cuộc hay không" Ông Kirby Jones, chủ tịch của Hội Mậu Dịch Hoa Kỳ và Cuba, một trong những người chống đối chính sách cấm vận, cho rằng các chuyên viên của Cupet đã chứng tỏ khả năng chuyên môn đáng tin cậy của mình trong quá khứ, và do đó ông có thể tin rằng những con số thẩm định mới này không có gì là quá đáng. Trong trường hợp đó, câu hỏi đặt ra cho Hoa Kỳ, theo ông Jones, sẽ là: "Hoa Kỳ sẽ trả giá như thế nào nếu như tiếp tục chính sách cấm vận" Nó sẽ làm thay đổi nhanh chóng bộ mặt của Cuba và khiến cho Hoa Kỳ sẽ không còn ảnh hưởng đáng kể nữa."
Điều này có thể đúng, nhưng trong tương lai gần, theo nhận định của nhà báo Tim Padgett, trong một bài phân tích đăng trên tạp chí Time đề ngày 23-10-08, thì những con số khám phá mới tại Cuba có thể khiến cho áp lực muốn khai thác dầu hoả ngoài khơi Hoa Kỳ sẽ càng tăng cao. Phó tổng thống Dick Cheney và nhiều viên chức cao cấp khác trong chính quyền Bush thường biện minh cho những tài nguyên mới khám phá tại Cuba là lý do chính đáng để mở rộng việc khai thác dầu hoả tại bờ biển của Mỹ. Những cuộc thăm dò dư luận gần đây tại những tiểu bang dọc bờ biển như Florida cho thấy là số đông dân chúng sẵn sàng ủng hộ đường hướng này, tuy rằng những nhà bảo vệ môi sinh vẫn tiếp tục chống đối. Cùng lúc đó, những người ủng hộ biện pháp cấm vận thì tiếp tục vận động tại Quốc Hội để thông qua những dự luật, nếu thành hình, có thể trừng phạt bằng cách từ chối chiếu khán nhập cảnh Hoa Kỳ cho các viên chức điều hành các công ty năng lượng làm ăn tại Cuba. Lập luận của phe này là: nếu như chính quyền Cuba càng có thêm tiền thu về từ dầu hoả, thì chính quyền đó sẽ càng ít bị áp lực hơn để đẩy mạnh các chính sách cải tổ theo mô hình tự do dân chủ.
Nhận xét này có lẽ đúng. Tuy vậy, mối tương quan giữa hai lân bang Hoa Kỳ và Cuba xem chừng như vẫn còn giậm chân như trong thời kỳ xung đột của Chiến Tranh Lạnh. Và vì thế cho nên, cho dù có khám phá hay không con số 20 tỷ thùng dầu ngoài khơi Cuba, thì ở cả hai thủ đô Hoa Thịnh Đốn và Havana, sự tương quan này cũng chưa chắc thay đổi dễ dàng hoặc nhanh chóng.  
Tuấn Minh

Có những tuần trôi qua lặng lẽ. Có những tuần giống như một chuyến tàu lượn siêu tốc, nó bắt hành khách phải ôm cùng lúc nhiều cảm xúc lẫn lộn, vừa có nỗi đau, có phẫn nộ, có sợ hãi và cả sự hoài nghi. Không cho một khoảnh khắc nào để thở. Đến cả những dây thần kinh thô ráp nhất của linh hồn cũng phải trỗi dậy, để hỏi thế nào là lòng trắc ẩn? Thế nào là lương tâm của loài người?
Trong hơn 2 năm tạm cư tại Hoa Kỳ, nhờ công việc, nên tôi được đi lại khá nhiều. Từ các tiểu bang bờ Đông xuống Florida. Tại bờ Tây, tôi được đi từ tiểu bang Washington xuống dọc đến San Diego, thành phố cực nam của tiểu bang California. Tại phía Nam nước Mỹ, tôi được đi băng ngang qua nhiều tiểu bang dọc theo biên giới Mexico, kể cả một số tiểu bang miền Trung nước Mỹ, trong đó có Arkansas – nơi tôi lái xe đến thăm gia đình Luật sư Võ An Đôn.
Theo kết quả khảo sát của Pew, mức độ tin tưởng vào ông Trump đã sụt giảm tại 16 trong số 24 quốc gia so với năm ngoái, và không có quốc gia nào được khảo sát ghi nhận sự gia tăng thái độ tích cực đối với vị tổng thống này. Chỉ 23% số người được hỏi cho biết họ tin tưởng ông Trump sẽ đưa ra những quyết định đúng đắn trong các vấn đề toàn cầu. Ông Wike cho biết những người được hỏi dành nhiều sự tin tưởng hơn cho Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron (43%), Tổng Thống Ukraine Volodymyr Zelensky (35%), Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (34%) và Tổng Thống Nga Vladimir Putin (31%). Chỉ có Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu là nhận được mức độ tin tưởng thấp hơn ông Trump, ở mức 18%.
Các bậc quốc phụ Hoa Kỳ muốn thành lập một nền Cộng hòa chớ không phải một nền Dân chủ. Tuy nhiên, ngày nay, Hoa Kỳ là một quốc gia dân chủ hơn nhiều so với những mà gì các nhà cách mạng Mỹ muốn tưởng tượng trong những giấc mơ điên rồ nhất của họ – hoặc những cơn ác mộng. Đồng thời, có một vài nỗi sợ hãi tệ hại nhất liên hệ đến thuật ngữ "dân chủ" trong thời cách mạng Mỹ dường như đang xảy ra trong hiện tại. Ngay trong bài diễn văn từ biệt năm 1796 của George Washington, tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, ông đã cảnh báo cho đồng bào về "những tác động tai hại của tinh thần đảng phái", mà nó có thể thúc đẩy cho người dân trong việc "tìm kiếm sự an toàn và yên tĩnh trong quyền lực tuyệt đối của cá nhân"...
Đối với đời người thì 250 năm đã dài gấp hai lần rưỡi tuổi thọ mà một con người có thể đạt đến nhiều nhất, nếu một người có thể sống tới 100 tuổi. Nhưng đối với một quốc gia thì 250 năm không phải là thời gian dài, bởi vì có những nước như Việt Nam có niên đại tồn tại lâu tới bốn, năm ngàn năm. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói ở đây không phải là tuổi thọ dài hay ngắn của một quốc gia hay của nước Mỹ mà là trong suốt hai thế kỷ rưỡi đó đất nước này đã làm được gì có giá trị để đời và đã đánh mất thứ gì quý giá trong những điều cốt lõi làm nên một nước Mỹ thịnh trị hùng cứ một phương.
Con chó Taichito đã theo sát Aung San Suu Kyi suốt bao năm. Nhưng nó không được phép đi theo bà vào nhà giam khi quân đội lật đổ chính quyền của bà cách đây năm năm. Tháng trước, con chó tai cụp ấy chết tại nhà bà ở Yangon, thủ đô cũ, thọ 15 tuổi, vẫn như còn chờ bà trở về. Nó là món quà người con trai, Kim Aris, tặng mẹ khi bà ra khỏi nhà giam lần trước, năm 2010. “Tôi nghĩ đó là điều tốt nhất tôi từng tặng bà. Nó rất trung thành với bà,” ông Aris nói trong một cuộc phỏng vấn tại Luân Đôn.
Tôi cũng đã đến Mỹ như là một di dân tị nạn sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào cuối tháng 4/1975, sống trong trại tị nạn Camp Pendleton cùng với hàng vạn người Việt khác sau khi rời bỏ quê hương trong hoảng loạn và lo sợ. Năm đó chẳng có lễ hội, chẳng có pháo hoa mừng Lễ Độc lập 4/7 trong trại vì mọi người ai cũng đang lo nghĩ khi nào sẽ được đi định cư, băn khoăn về tương lai trên đất mới sẽ làm gì để sống, có được tiếp tục đi học, người Việt có bị kỳ thị không. Lúc đó có tin loan truyền là bang California không muốn cho người Việt định cư nên không biết tương lai sẽ về đâu, gian truân ra sao. Người quen của tôi gặp nhau trong trại, có anh đi Seattle, bang Washington, có anh về Napa, ở miền bắc California hay có chị về Downey ở nam California. Bạn ở chung lều trại người đi bang Colorado, người về San Francisco, mấy anh lính hải quân ra tận hải đảo Hawaii. Nhìn quanh thấy người Việt được định cư khắp nơi trên nước Mỹ.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa thế hệ Gen Z và một thế hệ người Mỹ đã quá chán nản với những con đường mòn rập khuôn, nỗi sợ hãi không dám “lệch đảng.” Ở Gen Z, họ có một nguồn năng lượng mà những chiếc ghế lâu năm ở Quốc Hội không thể có. Kết quả của bầu cử sơ bộ 2026 ở tiểu bang Colorado đã cho thấy khá rõ nét điều này. Một thế hệ Gen Z cho rằng "hệ thống đã đổ vỡ và chúng tôi nhận ra sẽ không có ai đến cứu chúng tôi ngoài chính chúng tôi.”Họ, là những người sinh trưởng trong gia đình di dân.
Mấy tuần đầu World Cup trên đất Mỹ là một chuyện lạ: giải đấu diễn ra đã vài tuần mà tên Donald Trump ít được nhắc đến. Người ta coi bóng, bàn luật, uống bia và cãi nhau, khán giả quốc tế thấy nước Mỹ tổ chức một kỳ bóng đá vui vẻ, tử tế. Ông tổng thống thì bận mừng 250 năm nước Mỹ, chưa để mắt vào sân bóng. Nhưng đâu dễ “too good to be true” như thế. Thẻ đỏ của Folarin Balogun xảy ra vài ngày trước, trong trận gặp Bosnia: anh tranh bóng với hậu vệ Tarik Muharemović. Xem nhanh, pha bóng chẳng có gì đặc biệt. Vào phòng VAR, quay chậm cho thấy mũi giày cà xuống sau ống chân, cổ chân xoắn lại. Trọng tài rút thẻ đỏ. Theo luật, thẻ đỏ ở World Cup thì trận sau nghỉ. Không kháng cáo, không ngoại lệ. Lẽ ra chuyện kết thúc ở đó.
Tổng thống Donald Trump đến Ankara với đe dọa hơn là củng cố quan hệ với NATO. Ông văng ra những điều khó nghe, sẽ rút quân Mỹ khỏi châu Âu nếu không chiếm được Greenland, vô cùng bất mãn vì các nước Âu châu không tham gia chiến tranh Iran, và tuyên bố cắt hết mậu dịch với Tây Ban Nha. Nhưng trước khi ra về, ông lại nói đến “tình bằng hữu to lớn” giữa các đồng minh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.