Hôm nay,  

Tiếp Thị Hay Sùng Bái Cá Nhân?

4/3/202600:00:00(View: 564)

sung bai
Một băng-rôn khổ lớn mang hình Tổng thống Donald Trump được treo bên ngoài trụ sở Bộ Tư pháp Hoa Kỳ. Những băng-rôn tương tự cũng đã xuất hiện trên nhiều công sở liên bang kể từ đầu nhiệm kỳ thứ hai của ông.

 

Từ thương trường bước vào chính trường, Donald Trump mang theo cùng một thứ nhãn hiệu: tên ông. Trong thời làm ăn, đó là thương hiệu. Nó in lên cao ốc, chai rượu, thịt bít-tết. Đó là lối tiếp thị của một nhà buôn, ồn ào nhưng vẫn còn nằm trong khuôn khổ tư doanh. Nhưng khi người mang thương hiệu ấy đã thành nguyên thủ quốc gia, câu chuyện đổi tính chất. Nó không còn là quảng cáo nữa. Nó là dấu hiệu về quyền lực và về cách người cầm quyền nhìn quốc gia.

Trong nhiệm kỳ thứ hai, tên Trump không chỉ là chữ trên tài sản riêng. Nó bước vào cơ quan công quyền: tòa nhà liên bang mang tên ông, băng-rôn treo mặt ông, chương trình của chính phủ in chữ ký ông, phi trường đổi sang tên ông. Tên một người đang dần đi vào các biểu tượng của quốc gia. Đó là điều mà một nền cộng hòa phải cảnh giác.

Trump có thể chối rằng ông không đặt những cái tên ấy. Nhưng khó có “sáng kiến tự phát” nào xảy ra liên tiếp, đồng bộ, và có lợi rõ rệt cho một cá nhân, mà lại hoàn toàn thiếu dấu tay của quyền lực. Lấy ví dụ Trung tâm Kennedy: cơ sở vốn được lập ra để tưởng niệm cố Tổng thống John F. Kennedy, nay hội đồng do Trump chủ tọa lại biểu quyết đổi tên theo ông. Khi bị hỏi, Trump nói ông ngạc nhiên. Nhưng vài tuần trước đó, ông đã buột miệng nhắc tới “Trump-Kennedy Center” như thể kết quả ấy đã nằm sẵn trong đầu.

TrumpRX, Trump Gold Card, Trump Accounts — ba chương trình của chính phủ, mang chung một đặc điểm: tên và mặt Trump. Có cái còn in chữ ký ông. Chúng cho thấy một quan niệm đơn giản mà nguy hiểm: chính sách công chỉ có sức nặng khi gắn với danh xưng cá nhân.

Sử gia Ruth Ben-Ghiat của Đại học New York gọi đây là biểu hiện của “sùng bái cá nhân.” Trong thế kỷ 20, đó thường là bước đầu của quá trình tập trung quyền lực quanh một người, làm mờ ranh giới giữa công và tư, giữa nhà nước và cá nhân.

Ai đã sống ở Việt Nam sau 1975, từng đi qua đường phố, cơ quan, trường học mà đâu đâu cũng thấy ảnh treo, tượng đài, và biểu tượng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hẳn hiểu rằng việc treo mặt một lãnh tụ không bao giờ chỉ là chuyện trang trí. Đó là cách quyền lực lấn ép không gian công cộng, để cái tên và khuôn mặt của người đứng đầu trở thành một phần của đời sống chính trị hằng ngày. Nói cách khác, khi hình ảnh lãnh tụ phủ khắp nơi, người ta không còn chỉ thấy một cá nhân, mà thấy cả sức mạnh quyền lực đứng sau cá nhân ấy.


Nước Mỹ vốn được dựng lên để tránh mô hình quân chủ, để người cầm quyền luôn ở trong giới hạn của luật pháp. Tổng thống không phải biểu tượng của dân tộc, mà chỉ là người tạm quản một định chế. Vì vậy, tên họ của họ thường chỉ được dùng sau khi rời nhiệm sở, nhiều khi chỉ sau khi qua đời. Còn ở đây, một tổng thống đương nhiệm lại thấy tên mình phủ trên lãnh thổ và công sản quốc gia. Điều đó nói lên rất nhiều về cách ông hiểu quyền lực — và về chính ông trong vai trò đó.

Sử gia Barbara Perry của Đại học Virginia nhắc rằng, trong nền cộng hòa, người lãnh đạo phải được nhìn như người của dân. Trump làm điều ngược lại: tự đặt mình lên bệ thờ chính trị bằng gương mặt và chữ ký phủ khắp nơi. Với người khác, đó là sự phô trương; với Trump, đó là phương pháp.

Bởi khi tên và mặt một người bắt đầu thay thế cho định chế, ta không còn đứng trước một câu chuyện thẩm mỹ chính trị nữa. Ta đang đứng trước quá trình cá nhân hóa quyền lực. Các nhà độc tài trong thế kỷ qua đều đi cùng một con đường: gắn tên mình vào công trình, treo ảnh mình ở công sở, khắc chân dung mình lên biểu tượng quốc gia. Quyền lực, nếu không bị kiểm soát, luôn muốn được tôn thờ.

Phía Trump tất nhiên biện hộ rằng tất cả chỉ là lòng mến mộ tự nhiên của dân chúng. Lý lẽ ấy nghe quen lắm: ở đâu có sùng bái, ở đó quyền lực luôn nói rằng “dân tự chọn.” Nhưng khi mọi dấu hiệu đều hướng về một người, người ta khó không thấy bàn tay của quyền lực đang nắn lại hình ảnh quốc gia theo khuôn mặt một cá nhân.

Trump từng nói nhiều năm trước rằng gắn tên mình lên tòa nhà thì “bán chạy hơn.” Giờ đây, ông áp dụng nguyên tắc ấy cho chính quyền. Và đó mới là điều đáng lo: khi chính trị quốc gia biến thành một cuộc tiếp thị tên riêng, nền cộng hòa phải tự hỏi liệu quốc gia còn là của công dân, hay đã trở thành sản phẩm của một thương hiệu mang tên người lãnh đạo.

Nguyên Hòa tóm lược
Nguồn: Theo Tamara Keith và Anusha Mathur, bài “Marketing or a Cult of Personality? Trump’s Name and Face Are All Over the Place,” đăng trên NPR ngày 27 tháng 2 năm 2026.

Có những tuần trôi qua lặng lẽ. Có những tuần giống như một chuyến tàu lượn siêu tốc, nó bắt hành khách phải ôm cùng lúc nhiều cảm xúc lẫn lộn, vừa có nỗi đau, có phẫn nộ, có sợ hãi và cả sự hoài nghi. Không cho một khoảnh khắc nào để thở. Đến cả những dây thần kinh thô ráp nhất của linh hồn cũng phải trỗi dậy, để hỏi thế nào là lòng trắc ẩn? Thế nào là lương tâm của loài người?
Trong hơn 2 năm tạm cư tại Hoa Kỳ, nhờ công việc, nên tôi được đi lại khá nhiều. Từ các tiểu bang bờ Đông xuống Florida. Tại bờ Tây, tôi được đi từ tiểu bang Washington xuống dọc đến San Diego, thành phố cực nam của tiểu bang California. Tại phía Nam nước Mỹ, tôi được đi băng ngang qua nhiều tiểu bang dọc theo biên giới Mexico, kể cả một số tiểu bang miền Trung nước Mỹ, trong đó có Arkansas – nơi tôi lái xe đến thăm gia đình Luật sư Võ An Đôn.
Theo kết quả khảo sát của Pew, mức độ tin tưởng vào ông Trump đã sụt giảm tại 16 trong số 24 quốc gia so với năm ngoái, và không có quốc gia nào được khảo sát ghi nhận sự gia tăng thái độ tích cực đối với vị tổng thống này. Chỉ 23% số người được hỏi cho biết họ tin tưởng ông Trump sẽ đưa ra những quyết định đúng đắn trong các vấn đề toàn cầu. Ông Wike cho biết những người được hỏi dành nhiều sự tin tưởng hơn cho Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron (43%), Tổng Thống Ukraine Volodymyr Zelensky (35%), Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (34%) và Tổng Thống Nga Vladimir Putin (31%). Chỉ có Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu là nhận được mức độ tin tưởng thấp hơn ông Trump, ở mức 18%.
Các bậc quốc phụ Hoa Kỳ muốn thành lập một nền Cộng hòa chớ không phải một nền Dân chủ. Tuy nhiên, ngày nay, Hoa Kỳ là một quốc gia dân chủ hơn nhiều so với những mà gì các nhà cách mạng Mỹ muốn tưởng tượng trong những giấc mơ điên rồ nhất của họ – hoặc những cơn ác mộng. Đồng thời, có một vài nỗi sợ hãi tệ hại nhất liên hệ đến thuật ngữ "dân chủ" trong thời cách mạng Mỹ dường như đang xảy ra trong hiện tại. Ngay trong bài diễn văn từ biệt năm 1796 của George Washington, tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, ông đã cảnh báo cho đồng bào về "những tác động tai hại của tinh thần đảng phái", mà nó có thể thúc đẩy cho người dân trong việc "tìm kiếm sự an toàn và yên tĩnh trong quyền lực tuyệt đối của cá nhân"...
Đối với đời người thì 250 năm đã dài gấp hai lần rưỡi tuổi thọ mà một con người có thể đạt đến nhiều nhất, nếu một người có thể sống tới 100 tuổi. Nhưng đối với một quốc gia thì 250 năm không phải là thời gian dài, bởi vì có những nước như Việt Nam có niên đại tồn tại lâu tới bốn, năm ngàn năm. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói ở đây không phải là tuổi thọ dài hay ngắn của một quốc gia hay của nước Mỹ mà là trong suốt hai thế kỷ rưỡi đó đất nước này đã làm được gì có giá trị để đời và đã đánh mất thứ gì quý giá trong những điều cốt lõi làm nên một nước Mỹ thịnh trị hùng cứ một phương.
Con chó Taichito đã theo sát Aung San Suu Kyi suốt bao năm. Nhưng nó không được phép đi theo bà vào nhà giam khi quân đội lật đổ chính quyền của bà cách đây năm năm. Tháng trước, con chó tai cụp ấy chết tại nhà bà ở Yangon, thủ đô cũ, thọ 15 tuổi, vẫn như còn chờ bà trở về. Nó là món quà người con trai, Kim Aris, tặng mẹ khi bà ra khỏi nhà giam lần trước, năm 2010. “Tôi nghĩ đó là điều tốt nhất tôi từng tặng bà. Nó rất trung thành với bà,” ông Aris nói trong một cuộc phỏng vấn tại Luân Đôn.
Tôi cũng đã đến Mỹ như là một di dân tị nạn sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào cuối tháng 4/1975, sống trong trại tị nạn Camp Pendleton cùng với hàng vạn người Việt khác sau khi rời bỏ quê hương trong hoảng loạn và lo sợ. Năm đó chẳng có lễ hội, chẳng có pháo hoa mừng Lễ Độc lập 4/7 trong trại vì mọi người ai cũng đang lo nghĩ khi nào sẽ được đi định cư, băn khoăn về tương lai trên đất mới sẽ làm gì để sống, có được tiếp tục đi học, người Việt có bị kỳ thị không. Lúc đó có tin loan truyền là bang California không muốn cho người Việt định cư nên không biết tương lai sẽ về đâu, gian truân ra sao. Người quen của tôi gặp nhau trong trại, có anh đi Seattle, bang Washington, có anh về Napa, ở miền bắc California hay có chị về Downey ở nam California. Bạn ở chung lều trại người đi bang Colorado, người về San Francisco, mấy anh lính hải quân ra tận hải đảo Hawaii. Nhìn quanh thấy người Việt được định cư khắp nơi trên nước Mỹ.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa thế hệ Gen Z và một thế hệ người Mỹ đã quá chán nản với những con đường mòn rập khuôn, nỗi sợ hãi không dám “lệch đảng.” Ở Gen Z, họ có một nguồn năng lượng mà những chiếc ghế lâu năm ở Quốc Hội không thể có. Kết quả của bầu cử sơ bộ 2026 ở tiểu bang Colorado đã cho thấy khá rõ nét điều này. Một thế hệ Gen Z cho rằng "hệ thống đã đổ vỡ và chúng tôi nhận ra sẽ không có ai đến cứu chúng tôi ngoài chính chúng tôi.”Họ, là những người sinh trưởng trong gia đình di dân.
Mấy tuần đầu World Cup trên đất Mỹ là một chuyện lạ: giải đấu diễn ra đã vài tuần mà tên Donald Trump ít được nhắc đến. Người ta coi bóng, bàn luật, uống bia và cãi nhau, khán giả quốc tế thấy nước Mỹ tổ chức một kỳ bóng đá vui vẻ, tử tế. Ông tổng thống thì bận mừng 250 năm nước Mỹ, chưa để mắt vào sân bóng. Nhưng đâu dễ “too good to be true” như thế. Thẻ đỏ của Folarin Balogun xảy ra vài ngày trước, trong trận gặp Bosnia: anh tranh bóng với hậu vệ Tarik Muharemović. Xem nhanh, pha bóng chẳng có gì đặc biệt. Vào phòng VAR, quay chậm cho thấy mũi giày cà xuống sau ống chân, cổ chân xoắn lại. Trọng tài rút thẻ đỏ. Theo luật, thẻ đỏ ở World Cup thì trận sau nghỉ. Không kháng cáo, không ngoại lệ. Lẽ ra chuyện kết thúc ở đó.
Tổng thống Donald Trump đến Ankara với đe dọa hơn là củng cố quan hệ với NATO. Ông văng ra những điều khó nghe, sẽ rút quân Mỹ khỏi châu Âu nếu không chiếm được Greenland, vô cùng bất mãn vì các nước Âu châu không tham gia chiến tranh Iran, và tuyên bố cắt hết mậu dịch với Tây Ban Nha. Nhưng trước khi ra về, ông lại nói đến “tình bằng hữu to lớn” giữa các đồng minh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.