Hôm nay,  
Có những ngày đi qua trong cuộc đời rồi chìm vào quên lãng, nhưng có những ngày dù năm tháng có trôi xa đến đâu người ta không thể quên được, hình ảnh, âm thanh, và nỗi đau của nó. Ngày 11 tháng 9 năm 2001 là một ngày như thế đó. Hai mươi lăm năm, một phần tư thế kỷ đã trôi qua trong dòng chảy của lịch sử. Những đứa trẻ sinh sau ngày ấy, hôm nay đã trưởng thành, những đứa trẻ năm xưa nay cũng bước vào tuổi trung niên, nhiều người đã thay đổi màu tóc, thay đổi cuộc sống.
(Xem: 12)
Tháng Chín, ngày bắt đầu ngắn lại, buổi sáng đã phảng phất chút se lạnh báo hiệu mùa thu đang trở về. Ở xứ cờ hoa, tháng Chín mở đầu bằng Labor Day, ngày lễ tôn vinh người lao động và ghi nhận những đóng góp của họ cho đất nước. Sống ở đây nhiều năm, tôi nhận ra rằng phần lớn những ngày lễ của nước Mỹ đều ít nhiều bắt nguồn từ một tinh thần rất đẹp: lòng biết ơn. Nào là Memorial Day, Labor Day, Thanksgiving, rồi Christmas, Valentine’s Day… Mỗi ngày lễ, dù mang một ý nghĩa riêng, đều nhắc người ta nhớ đến những điều đáng trân trọng trong cuộc đời – tình yêu thương, sự hy sinh, lòng tận tụy và những đóng góp âm thầm dành cho người thân, cho cộng đồng và xã hội. Có lẽ cũng vì thế mà hai tiếng “thank you” được người Mỹ thốt ra một cách rất tự nhiên và chân thành. Lời cảm ơn hiện diện trong những cuộc gặp gỡ thường ngày, từ một hành động nhỏ bé cho đến những điều lớn lao, gần như trở thành một phản xạ đẹp trong đời sống của họ.
(Xem: 13)
Quianna Duyên Bùi sinh trưởng tại Saigon, sang Mỹ định cư năm 17 tuổi, và hiện cư ngụ tại Bắc California. Cô từng hoạt động trong các lĩnh vực khoa học và giáo dục. Đây là lần đầu tiên cô tham gia Viết Về Nước Mỹ. Bài viết kể về hai sự việc trong sinh hoạt đời thường- đám tang và đám cưới dưới cách nhìn chan chứa tình người của tác giả.
(Xem: 16)
Tiếng hát nho nhỏ của bà nội ở phòng bên cạnh vang lên, bà vừa thay đồ vừa lầm bầm bài hát cho thuộc lời. Tôi biết buổi “party” chiều nay bà sẽ làm ca sĩ, nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày cưới của ông Tuấn, bạn thân của gia đình ông bà nội từ bao lâu nay. Bà vừa tìm đôi bông tai trong tủ, vừa ướm thử trong gương xem có hợp với bộ đồ bà mặc không. Bà nội tuy đã hơn 60 nhưng trông bà còn trẻ và yêu đời lắm. Bà có nhóm hát thỉnh thoảng gặp nhau, các ông bà ấy họp lại mỗi người một món ăn đem tới. Hồi xưa nghe kể mọi người không biết nấu ăn ngon, nhưng nhờ đi chơi gặp nhau, chỉ cho nhau kinh nghiệm, cách nêm nếm cho ngon hơn mỗi ngày. Ngay cả việc quần áo mọi người cũng chỉ cách, nếu chật nới ra, rộng bóp lại và thêm những rua, kim tuyến hoặc thêm vào một loại vải khác… sao cho đẹp mắt, tự làm nhà, không bị tốn nhiều chi phí ra tiệm. Các ông chồng thật hài lòng vì được ăn ngon, no bụng, ngắm “vợ đẹp”, nên không còn than thở khi phải bị các bà “tra tấn” lỗ tai vào cuối tuần nữa.
(Xem: 10)
Sau hơn 53 năm chia sẻ thăng trầm, tôi mất người chồng hiền lành gần bốn năm nay. Thay vì tiếp tục ngồi ngụp lặn trong niềm đau xé tâm hồn, trí não sa trong cơn mù sương càng ngày càng mờ mịt lui dần trong mơ hồ quá khứ thì bỗng tôi nhớ lại cái ước mơ của tuổi thanh xuân. Đó là 7 "notes" nhạc trên 6 sợi dây đàn. (Sẵn thì phải kể dông dài luôn cho có đầu có đuôi và cũng nhắc cho mình đừng có quên những chi tiết và những cái tên, tên người tên địa điểm khi đầu óc mình còn nhớ rõ). Năm 14 tuổi. Trong nhà, người anh cô cậu có cây đàn "guitar", hàng xóm có anh kia 17 tuổi biết đàn vọng cổ 6 câu mùi hết xẩy, nghe ai cũng kêu tên là "anh Lộc". đón đường nhờ anh dạy cho tui đàn. Anh ừ liền. Bèn hẹn nhau lên cái gác nhà dì tui. Học thuộc, đàn được một câu đầu rồi nhưng sao tui cứ thấy cái đầu của dì tui thập thò lên gác ngó hai đứa rồi bỗng một hôm, Ba tui nói NGƯNG, hổng cho học nữa.
(Xem: 19)
Với những bận rộn, tất bật của đời sống thường nhật, có nhiều ngày trôi qua dường như không đọng lại chút gì trong tâm trí, nhưng chúng ta vẫn may mắn có thể có những thời khắc thật đáng nhớ. Những ngày qua tôi được cùng đồng hành với Justin, con trai tôi, khi Justin bắt đầu một chặng đường mới, nhận nhiệm sở với tư cách kỹ sư điện toán phục vụ Hải quân Hoa Kỳ. Trong suốt hàng chục năm, tôi đã nhiều lần đưa con đến trường, đón con sau giờ học, ngồi cạnh con trong những buổi khải đạo hay rong ruổi cùng con trong hàng trăm buổi cắm trại xa nhà do Hướng Đạo tổ chức. Cũng không biết bao nhiêu lần tôi quây quần cùng gia đình thưởng thức, ủng hộ con trong các buổi hòa nhạc hay trình diễn theo đội hình của đội kèn trong suốt 4 năm dài con theo học tại trường trung học Westminster High, hay cùng gia đình chung vui trong ngày con tốt nghiệp cử nhân ngành điện toán.
(Xem: 271)
VĂN HÓA có thể hiểu một cách đơn giản là những gì còn lại. Còn lại qua nhiều biến động, qua nhiều giai đoạn lịch sử, nhiều thế hệ khác nhau, bất kể đó là di sản Văn Hóa vật thể (Tangible Cultural Heritage) hay phi vật thể (Itangible Cultural Heritage). Trong suốt bốn nghìn năm lịch sử trong đó hơn một nghìn năm bị Tàu đô hộ và đồng hóa, người Việt Nam vẫn giữ được ngôn ngữ của mình, đó là cái còn lại quí báu nhất, thiêng liêng nhất. Tiếng Việt bao gồm tiếng nói và chữ viết là một thứ Văn Hóa đặc biệt của người Việt, đã có từ thuở người Việt xuất hiện trên hành tinh này và tồn tại cho đến bây giờ. Chữ Việt dùng để ghi tiếng Việt theo cách phát âm đã có từ thời Alexandre de Rhodes, theo mẫu tự La Tinh, đã trở thành chữ Quốc Ngữ từ mấy trăm năm, tồn tại đến ngày hôm nay và sẽ tồn tại lâu dài.
(Xem: 20)
Mùa hè năm nay, con trai tôi từ trường võ bị West Point về nhà nghỉ hè được hai tuần trước khi đi thực tập ở căn cứ quân sự Fort Hood tại thành phố Killeen, bang Texas. Trong lúc gia đình sum họp, con tôi có cho tôi xem một số hình ảnh về cuộc sống học tập của nó ở trường. Một bức ảnh đã khiến tôi dừng lại rất lâu sau khi con tôi cho biết đó là tượng đài “The Trail of The Fallen”. Con tôi đã chụp bức ảnh này trong một lần tập quân sự leo lên đỉnh núi Popolopen Torne. Có những bức ảnh không để lại ấn tượng nào cho tôi, một số bức ảnh gây cho tôi nhiều ngạc nhiên, thích thú và xúc động. Bức ảnh mà con tôi chụp tượng đài “The Trail of The Fallen” đã gợi lên trong tôi nhiều cảm xúc vì câu chuyện đằng sau bức ảnh này thật sự lay động lòng người.
(Xem: 15)
Bà Phương ngắm nghía những đòn bánh tét mới vớt ra trong nồi đầy thích thú. Nó nhỏ bằng nắm tay, trông xinh xắn làm sao. “Vậy là mình yên tâm phần nào rồi, vì hai hôm nay đã gói được bánh ít đen, bánh lọc, bánh tét và làm chả chay xong.” Bà vừa dọn dẹp các thứ vừa nhìn đồng hồ điểm 2 giờ sáng - mau lẹ ngủ thôi, mai còn dậy sớm đi thăm đám nữa. Tháng Tám của những ngày cuối hạ, cái nóng bứt rứt người. Bà ghé chở bà Minh cùng đến nhà quàn thắp nén hương đưa tiễn người đi. Sau đó bà muốn ghé chợ mua thức ăn. “Mai có đám giỗ mẹ chồng, hôm qua đã mua chợ gần nhà một xe rồi, vẫn chưa đủ.” Bà vừa nói với bạn vừa mở Google tìm chợ nào gần nhất vùng San Jose. Hai bà chọn chợ Đại Thành.
(Xem: 21)
Bolsa đây là tên một con đường ở Little Sài Gòn, nhưng từ lâu đã được xem như là tên của một khu vực, một nơi chốn mà chúng ta thường gọi là “thủ đô tỵ nạn”, tiêu biểu của Quận Cam-Orange County. Có lẽ vì đại lộ Bolsa huyết mạch nơi tập trung nhiều quán xá, cửa hiệu, văn phòng, trung tâm sinh hoạt của cộng đồng người Việt. Chỉ cần nói “Bolsa” là chúng ta, đều hiểu nói về khu vực của cộng đồng người Việt tự do ở Orange County. Tôi nghĩ rằng, Bolsa-Cali không chỉ là nơi đến ưa thích của tôi mà của rất nhiều người Việt hải ngoại, dù họ ở các tiểu bang khác trên đất Mỹ hoặc ở các nước khác ngoài nước Mỹ, nhưng ít nhiều ai cũng "dính líu" tới Bolsa: có người thân, người quen, từng là nơi họ đến hội họp trường cũ, đồng hương xưa… và nhiều lý do khác. Về Bolsa-Cali như là tìm về "quê hương".
(Xem: 22)


NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.