Hôm nay,  
Buổi sáng, chúng tôi rời bến Liberty State Park trên chuyến phà băng qua cửa sông Hudson - nơi dòng nước hòa vào vịnh New York trước khi đổ vào Đại Tây Dương. Trời lất phất mưa, một làn sương mỏng phủ lên không gian phía trước. Từ trong làn sương ấy, bức Tượng Nữ thần Tự do dần hiện ra, mỗi lúc một rõ, một gần hơn. Tôi ngước nhìn ngọn đuốc giơ cao giữa nền trời xám, lòng chợt chùng xuống trong một cảm giác bồi hồi khó tả. Dường như, tôi đang chạm vào một biểu tượng sống động của tự do. Và trong khoảnh khắc ấy, tâm trí tôi bất giác quay ngược về những câu chuyện của những con người đã từng đi qua nơi này.
(Xem: 32)
Gặp ông Thịnh ở phi trường O’hare hôm chủ nhật tuần trước. Ông mặc chiếc áo sơ mi trắng và thắt cà vạt màu rượu chát. Mái tóc ông Thịnh nâu đen, chải ngôi giữa và xịt dày keo, không chừng mới hớt, nhuộm sáng nay nên trông ông trẻ ra - ít nhất cũng hai tuần. Dù không thân cho lắm, nhưng ông Thịnh làm nghề địa ốc, báo nào cũng thấy đăng quảng cáo hình của ông nên hầu như ông Thịnh được nhiều người biết đến. Có người gọi một cách giản dị là “Thịnh Địa Ốc” cho dễ phân biệt với một ông Thịnh khác đang làm ngành bán bảo hiểm ở đây. Tôi tiến lại chào: - Chà anh Thịnh đi đón ai mà chưng diện bảnh thế? Ông Thịnh chúm chím cười, đưa tay che một bên miệng nói nhỏ, dù chung quanh chẳng có ai. - Đón bà xã từ Việt Nam qua.
(Xem: 23)
Trước thảm trạng các di tích lịch sử của Mỹ đang bị đập phá cũng như mùa Spring Break đang tới, tôi viết bài này để kể lại những kỷ niệm mình đã có với các di tích đó và hy vọng rằng dù chúng sẽ không còn tồn tại nhưng chúng sẽ sống mãi trong tâm trí của mọi người. Theo truyền thống của trường học, con gái tôi sẽ cùng các bạn trong lớp đi tham quan thủ đô Hoa Thịnh Đốn trong vòng một tuần lễ vào tháng Tư. Qua chuyến đi này, các em sẽ được các cô giáo đi cùng dạy các bài học về lịch sử nước Mỹ. Chi phí cho mỗi học sinh là $3500. Phụ huynh nào muốn đi theo để phụ giúp cũng phải trả số tiền đó. Bà xã tính nhẩm: -Với $3500, cả nhà mình bốn người có thể đi viếng thăm Hoa Thịnh Đốn.
(Xem: 37)
Chiếc hộp quà còn trong gói giấy hoa bất thình lình rơi xuống dưới chân từ trên cao, khi tôi kiễng chân kéo chiếc giỏ lớn xếp tuốt trên đầu tủ, những đồ đạc ít khi dùng đến, chiếc hộp quà chưa mở còn được gói trang trọng bằng giấy hoa đầy những trái tim nhỏ li ti, làm tôi hết sức ngạc nhiên! Tôi cúi xuống, nhặt lên, từ từ mở ra. Chiếc vòng cổ bằng hạt ngọc trai! Tôi thử ướm lên cổ, rất vừa vặn vòng tròn cổ, màu ngọc trai sáng bóng long lanh như những giọt nước nhỏ, làm tôn vinh thêm chiếc cổ cao thon của tôi. Ủa mà món quà bất ngờ này ai đã tặng cho tôi? Hồi nào, mà sao giờ này tôi mới thấy trong chiếc túi xách cũ xưa được nhét trên nóc tủ? Tôi đã chưa hề mở ra từ bao nhiêu năm nay! Một tờ giấy nhỏ ngả vàng gấp đôi được đặt dưới đáy chiếc hộp vuông nhỏ, dưới chiếc vòng ấy: “Think of me in the times to come” BC, Feb 1990.
(Xem: 48)
Có những mất mát đi qua chiến tranh không bao giờ khép lại, chỉ lắng xuống trong ký ức của những người còn sống. Từ một người con có cha mất trong trại cải tạo năm 1979, đến hành trình chăm sóc người mẹ suốt 20 năm với căn bệnh Alzheimer, và một mái gia đình được gìn giữ trên đất nước Hoa Kỳ, câu chuyện này không chỉ là hồi ức cá nhân, mà còn là lát cắt của một thế hệ đã đi qua biến động và tìm được nơi định cư an lành. Có những câu hỏi, người ta mang theo suốt đời mà không cần một câu trả lời. “Giọt lệ biết làm sao ngưng” với tôi không chỉ là tên một bài viết, một cuốn sách, mà là một trạng thái của đời sống, một dòng chảy âm thầm của ký ức và cảm xúc, đi qua năm tháng mà không bao giờ thật sự dừng lại. Cuộc đời của một con người đôi khi không được đo bằng những gì đạt được, mà bằng những gì đã mất đi và những gì còn giữ lại sau tất cả.
(Xem: 17)
(Viết theo lời kể của một người – Tên nhân vật và địa danh đã được thay đổi) Cái tên Lũ như một lời nguyền định mệnh vận vào đời cô ngay từ lúc chào đời. Vào một đêm tối trời năm ấy, Cao Bằng chìm trong thác lũ, mưa to, gió lớn, bão bùng, nước từ thác núi đổ xuống cuốn trôi tất cả sản nghiệp của cái bản làng vốn đã nghèo xơ xác. Vì hoảng sợ, người mẹ trẻ bỗng trở dạ sinh non. Xóm làng ngập trong biển nước, nhà nhà kêu cứu, người người khóc than. Bà mẹ miền núi một mình sinh con, tự dùng miếng lạt tre cắt rốn cho bé gái. Và cái tên “bé Lũ” được đặt cho cô như để ghi dấu ngày cả xã bị thiên tai. Lũ lớn lên giữa đại ngàn, mang vẻ đẹp thoát tục của đóa hoa lê rừng, nhưng tâm hồn lại chứa đựng cả một đại dương u uẩn và mầm mống nổi loạn. Hàng ngày sau giờ học chữ, Lũ mang gùi lên rẫy cuốc đất trồng khoai cùng cha mẹ, nhưng trong thâm tâm cô gái vùng cao luôn ước mơ về một chân trời xa lạ. Do đó về sau, cuộc đời cô là một chuỗi những chuyến thiên di đẫm máu và nước mắt.
(Xem: 30)
Ngày đó, nhà chỉ có hai mẹ con. Họ cô đơn và nghèo lắm. Mẹ Na làm đủ thứ việc lặt vặt ở một thị trấn ven biển miền Trung: phụ bếp cho quán ăn, rồi về vá đồ thuê, nhận thêm hàng gia công. Mẹ làm không ngơi tay. Tiền kiếm được không nhiều, nhưng mẹ luôn cố gắng xoay xở để bữa cơm có chút thịt cá cho con gái. Con bé tên Nghi, gầy và kén ăn vô cùng. Mẹ vẫn hay trêu: Con nhà lính, tính nhà quan. Nghi không thích rau, cũng chẳng mặn mà với trứng. Thứ nó thích nhất là thịt - thịt gà, thịt cá, càng nạc càng tốt. Mỗi lần ăn, Nghi thường lật qua lật lại bát cơm, gắp rất chậm, như thể sợ miếng thịt biến mất. Bởi vì mười bữa ăn thì có đến bảy bữa trứng - đủ loại trứng: kho, chiên, hấp…
(Xem: 36)
Tí đang ngồi học trong phòng, má gõ cửa phòng Tí: - Tí ơi, má nói chuyện với con một chút, được không? Tí ngồi nơi bàn học, má bước vào ngồi bên mép giường, má nói: - Thời gian qua, con biết má thường đi khám bệnh, làm các xét nghiệm, má có nói khi nào xong thì báo cho con biết, nên bữa nay má nói … Tí gật đầu, chờ đợi, má ngập ngừng: - Má mới có kết quả biopsy, bác sĩ kết luận là Breast Cancer. Tí nhìn má, lo lắng, má vội nói: - Nhưng cũng may mắn là ở giai đoạn 2, không đến nỗi nguy hiểm. Đầu tuần sau má sẽ được mổ ở bệnh viện dưới phố, lúc 7 giờ sáng. - Vậy để con nghỉ học buổi sáng đưa má đi.
(Xem: 22)
Hôm nay trong giờ ăn trưa ở công ty Chi đến ngồi cạnh Hân mắt hoe đỏ chìa cái phone cho Hân. “Chị ơi, dạy em làm đơn xin nghỉ phép một tháng để về Việt Nam. Mẹ em mất rồi.” Chi nhỏ giọng tiếng nói nghẹn trong cổ. “Trời, thật sao em…” Hân thảng thốt. Chi gật đầu nước mắt thi nhau lăn dài xuống má. Hân nắm tay Chi siết nhẹ như để chia sẻ nỗi đau vô cùng lớn ấy. Nhìn Chi thút thít giọt vắn giọt dài ký ức Hân ùa về cái ngày đau lòng như vậy của chính mình sáu năm trước. Hôm ấy Hân đang làm nails cho khách, điện thoại sáng đèn hiện lên tin nhắn “Chị ơi má mất rồi.” Hân bàng hoàng chạy vội ra sau tiệm gọi về nhà, lúc ấy ở Việt Nam 12 giờ khuya. Mẹ Hân đã được nhập viện ba hôm rồi, bệnh già thôi tưởng sẽ qua khỏi như những lần trước, nhưng rồi… Giọng em gái đẫm nước mắt: “Hu hu má đi rồi chị ơi, bệnh viện đang làm giấy tờ để mang xác má về nhà, huhuhu…” Hân cố bình tĩnh: “Gắng lên em, để chị thu xếp về ngay, em lo công việc đi, chị gọi lại sau nhe, bye,”
(Xem: 18)
Những đêm cuối tháng Tư, tôi không ngủ được. Trời bên ngoài yên tĩnh, nhưng trong lòng tôi lại xao động với những âm thanh của quá khứ. Tiếng còi xe năm nào chạy vội. Tiếng người gọi nhau giữa phố hoang mang. Và tiếng thở dài não lòng của ba trong đêm vắng. Đã trên 50 năm mà như mới hôm qua. Tôi năm nay bảy mươi lăm tuổi. Tóc đã bạc gần hết. Bạn bè cùng thời nhiều người đã ra đi. Có đứa ở lại quê nhà. Có đứa lưu lạc quê người. Riêng tôi sống những năm dài xa quê trên đất Mỹ, trong một căn nhà nhỏ bình yên. Con cái đã yên bề gia thất. Cháu ngoại cháu nội đầy đủ. Cuộc sống nơi quê người trong những ngày về hưu không giàu có nhưng an nhàn và hạnh phúc. Nhưng mỗi khi đến tháng Tư, tim tôi lại chùng xuống. Không cần ai nhắc, ký ức tự tìm về. Có những điều tưởng đã quên, nhưng thật ra vẫn còn nguyên trong lòng, nhất là trong lòng một người con đã mất cha trong trại tù cải tạo.
(Xem: 16)


NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.