Mùa hè năm nay, con trai tôi từ trường võ bị West Point về nhà nghỉ hè được hai tuần trước khi đi thực tập ở căn cứ quân sự Fort Hood tại thành phố Killeen, bang Texas. Trong lúc gia đình sum họp, con tôi có cho tôi xem một số hình ảnh về cuộc sống học tập của nó ở trường. Một bức ảnh đã khiến tôi dừng lại rất lâu sau khi con tôi cho biết đó là tượng đài “The Trail of The Fallen”. Con tôi đã chụp bức ảnh này trong một lần tập quân sự leo lên đỉnh núi Popolopen Torne. Có những bức ảnh không để lại ấn tượng nào cho tôi, một số bức ảnh gây cho tôi nhiều ngạc nhiên, thích thú và xúc động. Bức ảnh mà con tôi chụp tượng đài “The Trail of The Fallen” đã gợi lên trong tôi nhiều cảm xúc vì câu chuyện đằng sau bức ảnh này thật sự lay động lòng người.
Bà Phương ngắm nghía những đòn bánh tét mới vớt ra trong nồi đầy thích thú. Nó nhỏ bằng nắm tay, trông xinh xắn làm sao. “Vậy là mình yên tâm phần nào rồi, vì hai hôm nay đã gói được bánh ít đen, bánh lọc, bánh tét và làm chả chay xong.” Bà vừa dọn dẹp các thứ vừa nhìn đồng hồ điểm 2 giờ sáng - mau lẹ ngủ thôi, mai còn dậy sớm đi thăm đám nữa.
Tháng Tám của những ngày cuối hạ, cái nóng bứt rứt người. Bà ghé chở bà Minh cùng đến nhà quàn thắp nén hương đưa tiễn người đi. Sau đó bà muốn ghé chợ mua thức ăn. “Mai có đám giỗ mẹ chồng, hôm qua đã mua chợ gần nhà một xe rồi, vẫn chưa đủ.” Bà vừa nói với bạn vừa mở Google tìm chợ nào gần nhất vùng San Jose. Hai bà chọn chợ Đại Thành.
Bolsa đây là tên một con đường ở Little Sài Gòn, nhưng từ lâu đã được xem như là tên của một khu vực, một nơi chốn mà chúng ta thường gọi là “thủ đô tỵ nạn”, tiêu biểu của Quận Cam-Orange County. Có lẽ vì đại lộ Bolsa huyết mạch nơi tập trung nhiều quán xá, cửa hiệu, văn phòng, trung tâm sinh hoạt của cộng đồng người Việt. Chỉ cần nói “Bolsa” là chúng ta, đều hiểu nói về khu vực của cộng đồng người Việt tự do ở Orange County. Tôi nghĩ rằng, Bolsa-Cali không chỉ là nơi đến ưa thích của tôi mà của rất nhiều người Việt hải ngoại, dù họ ở các tiểu bang khác trên đất Mỹ hoặc ở các nước khác ngoài nước Mỹ, nhưng ít nhiều ai cũng "dính líu" tới Bolsa: có người thân, người quen, từng là nơi họ đến hội họp trường cũ, đồng hương xưa… và nhiều lý do khác. Về Bolsa-Cali như là tìm về "quê hương".
Bà Sue là người bạn Mỹ đầu tiên và cũng là gia đình người bạn Mỹ thân nhất với gia đình chúng tôi từ nhiều năm qua.
Bà gặp con trai tôi ở trường trung học khi bà là người quản thủ thư viện ở đó. Bà hiểu những khó khăn của những đứa trẻ châu Á khi mới sang Mỹ và giúp đỡ con trai tôi rồi sau này cũng chính bà giúp tôi học tiếng Anh và chuẩn bị kỳ thi vào quốc tịch cho tôi. Bà nhờ chồng mình là ông Robert và 1 người hàng xóm thực tập phỏng vấn tôi để tôi có được trải nghiệm về chất giọng khác nhau của người Mỹ và bà cho tôi thực tập như một buổi phỏng vấn quốc tịch thật để tôi thêm tự tin trong ngày phỏng vấn thật. Bà muốn tôi phải tập nghe nhiều giọng nói, cách phát âm của nhiều người để không phải bối rối và phân tâm hay lo sợ. Nhờ vậy, lúc vào phỏng vấn quốc tịch, tôi đã vô cùng tự tin và đậu ngay lần đầu.
Năm nay mùa An Cư Kiết Hạ ở chùa Quang Minh, thành phố Chicago được tổ chức từ ngày 09/06/2026 đến ngày 19/06/2026 tức là từ ngày 24 tháng tư đến ngày 5 tháng năm, Bính Ngọ. Tôi được thầy chủ trì mời tham dự sự kiện tâm linh quan trọng và nhiều ý nghĩa của Phật Giáo là một vinh dự quý báu kể từ ngày tôi định cư ở Mỹ đến giờ.
An Cư Kiết Hạ là một thuật ngữ Phật Giáo có nghĩa là ở yên một chỗ (tiếng Phạn là Varsika, tiếng Anh là Retreat Season) trong ba tháng Hạ theo truyền thống Phật Giáo Đại Thừa, mỗi năm đều có ba tháng an cư cho Tăng, Ni kể từ rằm tháng Tư đến rằm tháng Bảy. Tại sao lại là rằm tháng Tư? Vì ở Ấn Độ, Việt Nam, Trung Hoa và một số nước Đông Nam Á, tháng Tư là tháng bắt đầu mùa mưa và mưa rất nhiều. Vào tháng này cây cối bắt đầu chu kỳ đâm chồi, nẩy lộc, các loài côn trùng, bò sát cũng sinh sôi nẩy nở và bò ra đường rất nhiều. Các chư Tăng Ni cũng như dân chúng trong sinh hoạt hằng ngày đi đây đi đó khó tránh khỏi giẫm đạp lên chúng.
Trương Hữu Hiền, sinh năm 1958, quê quán Quảng Nam. Năm 1980, vượt biển và được tàu cứu vớt đưa đến trại tị nạn Okinawa, Nhật Bản. Từ 1983 đến 2000 sống ở Tokyo. Năm 2000 cùng gia đình chuyển sang sống ở Boston, Massachusetts (Hoa Kỳ). Hiện làm việc tại trung tâm phục hồi chức năng cho người bị chấn thương não. Tác giả tham dự chương trình VVNM từ tháng 12/2025. Bài viết kỳ này là câu chuyện cảm động về tấm lòng tử tế của vợ chồng Tiến sĩ Robert H. Spaethling, những người bạn thân thiết một thuở của gia đình tác giả.
Vậy là đã mười năm kể từ khi tôi đi du lịch châu Âu lần đầu tiên. Tôi đã kể chuyến du lịch ấy vào năm 2016 qua một bài viết (Từ Mỹ Đi Một Vòng Âu Châu - Viết Về Nước Mỹ - Việt Báo Viết Về Nước Mỹ) rất dài trên mục Viết Về Nước Mỹ. Lần đó, gia đình chúng tôi du lịch bằng du thuyền (cruise) chỉ trong vòng mười ngày. Vì phần lớn thời gian ở trên du thuyền, chúng tôi ít có dịp tiếp xúc và cảm nghiệm cuộc sống của người dân địa phương tại các nơi chúng tôi tới thăm. Lần này, chúng tôi du lịch bằng chủ yếu là xe lửa và chuyến đi dài những năm tuần, chúng tôi có nhiều dịp tiếp xúc và hòa mình vào cuộc sống của người dân bản địa hơn. Vì là chuyến đi tự túc, tôi phải tốn rất nhiều thời giờ để đặt phòng khách sạn, mua vé xe lửa, mua vé vào các nơi du lịch, lên kế hoạch tham quan, ăn uống. Cũng may là bây giờ có internet nên việc đặt phòng rất tiện lợi.
Hôm nay là ngày giỗ thứ 41 của chồng tôi – ngày anh vĩnh viễn rời xa cõi đời, để lại bốn mẹ con tôi bơ vơ giữa cuộc sống nơi xứ người với nỗi nhớ thương chưa bao giờ nguôi.
Ngày anh ra đi, tóc tôi còn xanh, các con mới vừa 11, 13 và 15 tuổi. Thấm thoắt đã hơn bốn mươi năm. Nay tóc tôi đã bạc, còn các con đã bước sang tuổi 52, 54 và 56; tất cả đều trưởng thành, lập gia đình, có con cái và đã tạo dựng được cuộc sống, sự nghiệp riêng.
Dù cuộc đời có bao đổi thay, dù mỗi người ở một nơi, bận rộn với công việc và gia đình, nhưng cứ đến ngày 30 tháng 7 hằng năm, mẹ con chúng tôi luôn cố gắng thu xếp để được về bên nhau, khi thì tại nhà tôi, khi thì tại nhà các con, cùng làm bữa cơm giỗ Bố với những món ăn mà lúc sinh thời Bố yêu thích. Thường thì sau khi bày biện bàn thờ, mẹ con và các cháu cùng thắp hương, kính cẩn đứng trước di ảnh Bố, cầu nguyện cho Bố được thanh thản nơi cõi vĩnh hằng và xin Bố phù hộ cho con cháu luôn mạnh khỏe, bình an, hạnh phúc, may mắn và thành công trong học hành
Chúng ta vừa nhận được tin buồn - Biển Cát, một tác giả Viết Về Nước Mỹ được nhiều người yêu mến, đã từ trần. Tác giả Lê Xuân Mỹ đã viết vội những dòng văn đầy cảm xúc sau đây, như nén hương lòng tiễn biệt chị, Mong chị nhẹ nhàng đi vào miền bình yên, như màu vàng của dã quỳ tan vào trong gió.
Tôi thật sự không biết phải bắt đầu những dòng này như thế nào, bởi tin chị Biển Cát đột ngột qua đời đến với tôi quá bất ngờ. Mới hôm qua thôi, tôi còn nhìn thấy bài viết mới nhất của chị đăng trên báo, bài “Màu vàng của gió”. Tôi không thể ngờ rằng đó lại là những dòng chữ cuối cùng của chị mà tôi được đọc khi chị còn hiện diện trên cõi đời này.
Bài viết mở đầu bằng những câu thơ thật đẹp, thật buồn:
“Ở lại nhé anh
Đồi dã quỳ dập dờn vàng màu gió
Tan vào hư không
Tuổi mười tám rạng ngời…”
Mùa đông ở vùng ngoại ô Virginia không có khái niệm về sự dịu dàng. Nó là một khối xám xịt của bầu trời mọng nước, chuẩn bị đổ xuống những cơn mưa tuyết mù mịt. Trong căn bếp nhỏ của gia đình, bà Liên ngồi bên bậu cửa sổ, nhìn ra hàng rào sắt đang đóng một lớp băng mỏng. Bà đã sống ở đây gần năm mươi năm, nhưng dường như tâm hồn bà chưa bao giờ thực sự đi qua khỏi cửa sân bay. Bà sống trong một "ốc đảo" của riêng mình. Trong căn bếp đó, mùi nước mắm kho cá luôn đánh vật với mùi lavender từ chiếc máy xịt phòng tự động mà chị Hai gắn trên tường. Trên tivi, những bản tin tiếng Anh của đài CNN trôi qua tai bà như tiếng gió hú ngoài khe cửa.
Chúng tôi sử dụng cookie để cung cấp cho bạn trải nghiệm tốt nhất trên trang web của chúng tôi. Nếu tiếp tục, chúng tôi cho rằng bạn đã chấp thuận cookie cho mục đích này.