Hôm nay,  

Tình Em Pha Lê

18/09/202600:00:00(Xem: 494)
 
bo-sach-vvnm
Bộ sách VVNM
 
Thủy Lâm Synh sinh quán tại Đức Hải, Quảng Ngãi, Việt Nam. Ông vượt biển tháng Giêng 1978, sau khi tạm trú tại Singapore 3 tháng, định cư tại Chicago, IL. Ông làm chuyên viên cho Eastman Kodak 20 năm. Năm 2000 sáng lập Bán Nguyệt San Chicago Việt Báo và điều hành đến 2015 thì sang lại và về nam Cali nghỉ hưu. Thủy Lâm Synh tham dự chương trình VVNM từ tháng 12 năm 2025. Sau đây là bài viết mới của ông kể về một người con gái với tình yêu thầm lặng giữ kín trong lòng cho đến cuối cuộc đời.
 
***
 
Bà ngoại sinh đôi - má tôi và dì Vân. Má tôi ra trước dì Vân đúng 20 phút nên được làm chị. Bà ngoại đặt má tôi tên Huyền, nên có khi bà gọi một lượt:
 
- Huyền Vân đâu rồi, tới giờ đi tắm, đi ngủ, thức dậy ăn sáng, đi học...
 
Lúc nhỏ ngoại thường cho hai chị em mặc đồ giống nhau, cắt tóc giống nhau. Mà không giống cũng không được; theo bà ngoại kể lại thì má tôi sao cũng xong, ngược lại dì Vân luôn luôn đòi mặc đồ, mang màu dép cho giống má tôi; nếu không dì ấy giẫy nẫy phụng phịu, khiến nhiều người ưa đùa: "không khéo sau nầy con Vân nó đòi lấy chung chồng với chị của nó chẳng chơi."
  
Thời gian lặng lẽ trôi bên một gia đình tương đối đầm ấm. Dù bà ngoại chỉ sinh hai cô con gái rồi tịt luôn không sinh đẻ gì nữa mà ông ngoại tôi chẳng có thêm bà ngoại hai, ngoại ba nào, hoặc có mà không công khai nên chỉ có trời đất mới biết mà thôi. Láng giềng tấm tắc khen gia đình bà Thuận An có cặp gái sinh đôi ngoan hiền, nết na và hiếu học. Ngoan hiền thì không biết, nhưng hiếu học là cái chắc; cả hai chị em sau nầy đều có trong tay mảnh bằng dược sĩ.
 
Những bộ đồ đồng phục thuở ấu thơ không còn thích hợp. Năm cuối của chương trình đệ nhất cấp dì Vân và má tôi không còn cắt tóc giống nhau, những cặp sách và dụng cụ cũng dần dần khác. Hình như đến cái tuổi nào đó, các cô cậu thấy quê khi mặc đồng phục với anh chị em song sinh của mình khi ra đường. Dù vậy, nếu ai để ý sẽ thấy dì Vân cố gắng trang trí chiếc xe của dì để cho giống y chiếc xe của má.
 
Đến khi lớn lên, phòng ngủ dì Vân cũng rập khuôn như phòng ngủ má tôi; từ giường, tủ trang điểm, tranh ảnh trang trí đều giống. Má tôi mua cái gì cho phòng của bà là mấy ngày sau dì Vân cũng mua thứ đó khiến bà ngoại buột miệng:
 
- Con Vân nầy thiệt, phòng con Huyền sao, nó làm giống vậy. Hổng biết sau nầy có hai đứa con trai nào giống nhau cho hai đứa nó không!
 
Hôm nay dì Vân đã không còn, người ta bảo hồng nhan thì bạc phận cũng đúng. Dì qua đời để lại nỗi thương tiếc sâu đậm cho gia đình chúng tôi. Đặc biệt, má tôi khóc nhiều lắm; hai chị em cùng sinh ra nhưng nay đã âm dương cách biệt. Lật từng trang hình ảnh để tìm lại những dung nhan ngày cũ ai cũng thấy dì Vân không quá đẹp nhưng càng nhìn nét đẹp càng tiềm ẩn trên gương mặt hơi vuông tạo cho người đối diện một niềm cảm mến. Nét sang trọng mà bà ngoại đã không hề cố gắng lưu lại qua hình ảnh dì Vân để có những điểm trội hơn hẳn má Huyền của tôi. Gương mặt của dì Vân và má tôi hao hao giống, nhưng môi và mắt thì gần giống như diễn viên Thẩm Thúy Hằng theo lời kể. Nếu thi hoa hậu về sắc diện và vóc dáng, dì Vân dám đoạt giải lắm. Đó là chưa kể cái lịch thiệp trong ăn nói của dì đã đẩy má tôi xuống một vị trí thấp hơn.
 
Lùi lại thời gian. Mùa xuân năm 1975 trước khi chính quyền Nam Việt Nam hoàn toàn bỏ ngõ. Đó là thời gian mọi người dân phía nam vỹ tuyến sốt cả ruột gan. Thế tấn công như chẻ tre của quân đội phía bắc đã kéo bao nhiêu phần đất phía nam thuộc về họ, đến nỗi họ ngỡ ngàng vì sức chống cự yếu ớt của quân đội Miền Nam. Cái chiến thắng dễ dàng đã khiến lòng kiêu binh sau nầy của “bên thắng cuộc” giãn nở trở thành cao ngạo không cần thiết. Ngay trong những ngày định mệnh; hàng hàng, lớp lớp người có ít nhiều dính dáng đến chế độ Miền Nam sợ hãi bỏ nước ra đi. Ông ngoại tôi là giám đốc Ngân Hàng Phát Triển Nông Thôn nên cũng theo tàu ra đi. Chiếc tàu quảng đại Việt Nam Thương Tín đưa hàng ngàn người vượt biển Đông, tương lai là gì chưa ai định được. Chỉ biết xót ra khi rời xa tổ quốc, rời xa mảnh đất, mái nhà suốt đời gắn bó.
 
Cả nhà ngoại tôi di dân sang Mỹ năm 1975. Con đường dài hạn của cặp sinh đôi lặng lẽ theo thời gian trôi mau trên xứ người như bao gia đình người Việt di tản khác. Bước đường học vấn của dì Vân và cả má tôi cứ song hành như một cặp bài trùng. Môn nào hai người cũng ngang ngửa nhau. Chỉ có một điều khác là má tôi có vài mối tình, mà dì Vân thì hình như chẳng cặp với ai. Sau khi cả dì Vân và má tôi xong chương trình hậu đại học. Cả hai đều là dược sĩ; má tôi làm trong Walmart và làm đám cưới với ba tôi. Dì Vân có ngay công việc trong một đại dược phòng Johnson & Johnson. Hai năm sau dì Vân trở thành một viên chức quản trị có mười tám nhân viên toàn dược sĩ và cán sự trong nhà thuốc. Con đường hoạn lộ thênh thang như thế, mà đường tình của dì Vân hình như ngắn ngủi.
 
Chủ nghĩa độc thân mà dì Vân tôn thờ vẫn còn hấp dẫn để dì thoải mái và yêu đời. Dì Vân sắp xếp thời gian thật khéo, giờ nào chơi thể thao, thể dục cho thân thể, giờ nào ngồi tĩnh lặng cho tâm đều không chểnh mảng. Đã gần ba mươi tuổi mà chưa thấy dì Vân dắt bạn trai về giới thiệu cùng gia đình. Trong khi đó má tôi đã sinh thằng cu đầu lòng, đó chính là tôi. Bà ngoại kể lại trong bữa tiệc sinh nhật bốn tuổi của tôi có đông đủ mọi người, bà ngoại nhìn dì Vân thốt:
 
- Mầy định ở vậy không lấy chồng sao Vân?
 
Dì Vân cười đáp:
 
- Con đã nói với má là 'Có một lời thề' con phải giữ.
 
Má tôi xen vào:
 
- Con nầy, lời thề gì mà ràng buộc đến nỗi không lấy chồng?
 
Mặt dì Vân tiu nghỉu, đôi mắt như rưng rưng muốn khóc, dì hạ thấp giọng:
 
- Em đã trót yêu một người, mà người ấy đã có gia đình.
 
Má tôi bĩu môi.
 
- Tưởng gì! Nó có vợ thì mình lấy người khác.
 
- Em thấy không đơn giản chút nào. Hình bóng anh ta lúc nào cũng ở trong em.
 
Nói xong dì Vân quay mặt đi nơi khác để giấu che nỗi khổ tâm. Má tôi rời chỗ ngồi, qua bên phía dì Vân đang nhìn, hai tay đặt trên vai dì Vân, nhìn thẳng vào mắt của dì, bà dõng dạc:
 
- Nó có yêu vợ nó không?
 
- Làm sao em biết!
 
- Hỏi trực tiếp nó, dì không hỏi để tui hỏi cho.
 
Dì Vân gục đầu vào chị, khóc nức nở:
 
- Không, không thể nào.
 
Dì Vân vụt chạy vào nhà cầu, má tôi chạy theo nhưng cửa đã khóa.
 
Buổi tiệc sinh nhật dù vui dù buồn thì rồi cũng tàn. Dì Vân và ngoại tôi đã về nhà, khách khứa cũng tản mát cả. Má tôi ra bàn ăn, nơi ba tôi đang loay hoay dọn vài cái tách cà phê của mấy người bạn vừa bước chân ra. Má tôi nói với ba tôi:
 
- Anh, con Vân nó có một nỗi buồn.
 
- Dì ấy buồn việc gì?
 
- Nó nói nó thương một người, mà người đó đã có vợ.
 
- Dì có nói thương ai không?
 
- Không, nó chỉ khóc thôi.
 
Nghe thế ba tôi quay mặt ra cửa sổ, ông nói bâng quơ:
 
- Ở đời nhiều khi có những nghiệt ngã, đôi khi chúng ta đành chấp nhận mà không sao biện bạch.
- Anh nói gì em không hiểu – má tôi hỏi lại.
- Anh nói có thể dì Vân có một hoài bão hay là lý tưởng nào đó.
- Em nghĩ dì ấy quá yêu một người, dì đã sống mù quáng mà cứ cho là cao thượng. Thời buổi nầy, ta phải thực tế một chút, tội gì ta phải tù đày trong nỗi dằn vặt triền miên như thế.
- Thôi, chuyện của dì để dì ấy tự lo, mình có phải là dì dâu mà biết.
- Nhưng dì là em mình!
- Em thì em nhưng dì đâu còn là trẻ con.
- Nhưng khi yêu dì mù quáng. Em nói với dì là người ta có vợ thì mình lấy người khác. Dì chỉ khóc thôi, em thấy chúng ta cần có bổn phận.
- Ừ thì em làm sao đó làm, anh có giúp gì chuyện đàn bà với nhau. Nhưng anh mong em đừng nhìn người khác qua lăng kính tư tưởng của mình.
 
Để ngưng câu chuyện, ba tôi mang mấy tách uống cà phê xuống bồn rửa chén. Nơi đó ông đứng lặng lẽ rửa, ý nghĩ đã qua tuôn về: “Anh có thằng bạn đồng nghiệp, nó là kỹ sư phòng nghiên cứu, cũng làm chung hãng Boeing với anh. Nếu dì chịu thì anh sẽ làm mai cho dì.” Dì Vân nhìn sâu vào mắt ba tôi khiến ông lúng túng ngó chỗ khác. Sau đó dì mím đôi môi, có chút dỗi hờn. Dì Vân cố gắng nở nụ cười một cách gượng gạo. Kể từ đấy ba không hề nhắc đến ý kiến làm mai, làm mối gì nữa.
 
Có thể do công việc làm, dì Vân chuyển qua tiểu bang khác. Bà ngoại tình nguyện dọn theo ở với dì, có mẹ có con cho vui. Dì Vân bán ngôi nhà xinh xắn ở Seattle để chuyển về Border Colorado. Thi thoảng dì Vân gọi về thăm gia đình chúng tôi. Năm ngoái má tôi và dì Vân tròn bốn mươi tuổi. Một buổi tiệc sinh nhật được tổ chức chung tại nhà chúng tôi. Dì Vân và bà ngoại bay về lại Seattle trước đó một ngày.
 
Trong buổi tiệc nầy, ai nấy đều ngạc nhiên vì sắc diện của dì Vân xuống một cách thê thảm; những đốm đỏ nổi lên và nhìn dì có vẻ mệt mỏi. Má tôi lo lắng hỏi ngoại:
- Dì Vân đau sao mà lúc nầy trông tiều tụy quá vậy hả mẹ.
 
Ngoại đau buồn trả lời:
 
- Ừ nó đang mắc chứng gì tao cũng không rõ, nhưng nghe nó nói có vẻ bi quan lắm.
 
Má tôi ái ngại đến hỏi trực tiếp dì Vân:
 
- Chị thấy hình như dì đang có bệnh gì phải không, chạy chữa ra sao?
 
Dì Vân uể oải trả lời:
 
- Bác sĩ mới phát hiện em đã bị ung thư máu.
Má tôi há mồm than:
 
- Dì đang chữa thuốc gì?
 
- Loại thuốc đặc biệt do bác sĩ chuyên môn cho, nhưng hình như vô phương bởi ở thời kỳ cuối.
 
Dòng nước mắt lăn dài trên mặt má:
 
- Ơ! Tại sao lại vô phương, mình đang ngồi trên đống thuốc mà.
 
Giọng dì Vân chùng xuống:
 
- Em cũng chẳng biết, có lẽ em không sống được lâu!
 
Má tôi mím chặt môi, ôm lấy đứa em sinh cùng ngày, cùng tháng khóc nứt nở. Vòng tay thâm tình ghì chặt nhau không muốn dứt ra.
 
Sau buổi sinh nhật không lấy gì vui vẻ đó, bà ngoại và dì Vân về lại Colorado. Dì Vân vẫn thuốc men đều đặn nhưng mẫu tin ngoại tôi gọi qua một tháng sau đó làm cả nhà choáng váng. Bà ngoại cho biết dì Vân đang vào cấp cứu tại bệnh viện Denver University Hospital trong tình trạng nguy kịch.
 
Trên chuyến bay Southwest Airline 213, ba má tôi ngồi lặng lẽ, không nói chuyện nhau nhiều. Hình như cái chết của dì Vân sẽ đến là điều chắc chắn không tránh khỏi. Quả nhiên khi gia đình tôi qua đến nơi, bà ngoại đã bù lu, bù loa:
- Em của tụi con chắc không sao chạy khỏi con số bốn mươi mốt.
 
Nói vừa dứt câu, bà ngoại òa lên khóc, tiếp theo trong nỗi uất nghẹn:
 
- Tôi già rồi, trời phật không để tôi chết thế cho con tôi, hu.hu...
 
Đến ôm vai ngoại, má tôi nức nở:
 
- Tiếc quá, tiếc quá, dì đã vội ra đi.
 
Nước mắt chảy đầy hai má, mắt của ngoại và má tôi đỏ ngầu. Ba tôi ngồi ở bàn ăn lặng lẽ, hai tay ông đan vào nhau chống dưới cằm.
 
*
 
Theo lời căn dặn của dì Vân trước khi mất. Ngoại sẽ ở lại Denver để lo làm thất, sau bốn chín ngày, ngoại đem tro về Seattle. Ngoại tôi đã được luật sư cho xem các di chúc và các giấy tờ liên hệ đến tài sản dì Vân để lại. Tất cả tài sản kể cả trương mục ngân hàng và bảo hiểm nhân thọ, sẽ chia ba: Một cho ngoại, một cho gia đình chúng tôi, một cho Hội Nghiên Cứu Ung Thư Máu Hoa Kỳ. Sau đó ông Allen Olive - luật sư tìm gặp riêng ba tôi, mở cặp ông lấy một phong bì dán kín, ông được dì Vân dặn là chỉ trao thư cho một mình ba tôi-Mr. Hoàng Thanh Vũ mà thôi.
 
Sau nhiều đêm suy nghĩ, ba tôi quyết định bóc thư ra xem:
 
"Anh Vũ, em không muốn chị Huyền của em buồn và khó chịu mỗi khi nhìn di ảnh của em. Hai mươi năm trôi qua là hai mươi năm em sống trong âm thầm chịu đựng. Tại sao anh lại cưới chị Huyền của em, mà không là người nào khác. Em đã yêu anh một cách điên dại, yêu như một đứa trẻ yêu tha thiết một món đồ chơi không bao giờ rời được. Do những nghĩ suy trường chinh ấy đã dẫn đến suy nhược huyết cầu như sự phân tích của nhiều bác sĩ chuyên khoa.
 
Anh! Cho đến khi em còn đủ sức viết những dòng nầy, em cũng chưa bao giờ có một lời trách hờn anh. Thực tình, em cố xua đuổi hình bóng của anh ra khỏi tâm trí của em vì cho đó như là một lỗi lầm. Nhưng lý lẽ của con tim vẫn là những gì khó giải thích. Càng xua đuổi nó càng hiển hiện. Những ngày cuối cuộc đời tại bệnh viện, em ước ao được một lần nắm lấy bàn tay anh, nhìn thẳng vào mắt anh nhưng dường như những thứ ấy đối với em rất xa xỉ khó thực hiện. Em chỉ có đủ thì giờ căn dặn luật sư trao thư nầy cho anh và em mong anh thực hiện cho việc nầy: Tro cốt của em sau khi hỏa táng, anh mang về Seattle rải chung quanh vườn nhà của anh, để cho em được gần mẹ, gần chị Huyền, gần hai cháu Toàn, Thu và… được gần anh.”
 
Đọc xong thư viết tay nguệch ngoạc của Vân, tim người nhận thắt lại. Ba tôi đấm tay lên mặt bàn đau khổ. Một mối tình trắng như pha lê.
 
Đó là những gì ba tôi đã kể về dì Vân cho tôi nghe, nhân dịp tôi về nghỉ Spring Break năm 2012.
 
Thủy Lâm Synh
  

Sau ngày 30-4-1975, nhiều người Việt Nam bỏ xứ ra đi, đa số đã xin định cư tại Hoa Kỳ theo diện tị nạn chính trị. Trong khoảng mười, mười lăm năm đầu, người Việt khi gặp nhau thường nêu một câu hỏi mà người hỏi có hai ý, còn người được hỏi cảm thấy phân vân, rồi trả lời theo một trong hai ý. Đó là câu: “Anh chị sang đây lâu chưa?” Nếu người hỏi có thái độ kẻ cả, hỏi để phân biệt đẳng cấp, thì câu trả lời sẽ hờ hững, qua loa. Nếu người hỏi tỏ ra thân thiện - có ý muốn giúp đỡ đồng hương đến sau, thì câu trả lời sẽ rất chân tình.
(Xem: 42)
Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên hiện đại, thế giới vận hành theo quy luật tự nhiên, con người đã lên tới mặt trăng, phi thuyền ngày đêm bay lượn ngoài không gian, bây giờ nói chuyện ma, thì quả là lạc hậu, dị đoan, mê tín. Nhưng có ai trả lời được câu hỏi: Sau khi chết linh hồn con người sẽ về đâu? Theo giáo lý tôi đã học, chết không phải là hết mà là khởi đầu cuộc sống mới, linh hồn sẽ bay lên một nơi thiêng liêng, hay xuống Hỏa Ngục, tùy theo cuộc sống tại thế và niềm tin của mỗi người. Ngoài hai nơi trên, tôi nghĩ rằng còn một nơi mà không tôn giáo nào đề cập tới, nơi đó không vút lên, không tụt xuống, mà lặng lẽ tồn tại giữa chúng ta, mắt không thấy, nhưng có thể cảm nhận được, người đời nôm na gọi là hồn ma. Thực tế đời thường trong thành phố Seattle, nơi này, nơi khác, thỉnh thoảng có những bó hoa tươi đặt sát lề đường, một vài bóng đèn màu rực sáng, đôi khi còn thấy một tấm giấy với nhiều hàng chữ viết tay.
(Xem: 58)
Vào một ngày đầu Xuân chỉ có tôi và con gái ở nhà. Hai cha con ngồi uống trà và nói chuyện trong phòng khách, ấm cúng và yên tĩnh. Bên ngoài gió thoảng đưa nhè nhẹ. Cây sứ trước nhà nở hoa trắng xóa, tỏa hương thơm thật dịu dàng, dễ chịu. Bất chợt con gái tôi hỏi: - Ba ơi! Con đọc báo chí và bài vở trên mạng thấy có lúc thì người ta dùng từ “diễu hành”, có lúc thì dùng từ “diễn hành”. Bạn con nói từ diễu hành là từ của Việt Cộng còn từ diễn hành là từ của Việt Nam Cộng Hòa. Sự thật có phải vậy không Ba? Con gái tôi năm nay bốn mươi lăm tuổi đã lớn lên và học tập dưới chế độ xã hội chủ nghĩa từ tiểu học cho đến trung học. Khi qua Mỹ tiếp tục học đại học và đi làm cho tới bây giờ là ba mươi năm. Lúc còn ở Việt Nam tôi không có can thiệp hay ý kiến gì về việc học của con, cũng như không phê phán, không bàn luận gì với con về chủ nghĩa và chế độ Cộng Sản mặc dầu tôi thấy có nhiều điều sai trái, không thể chấp nhận được. Tôi muốn cho con tôi sống vô tư, không phải bận tâm hay thắc mắc gì
(Xem: 45)
Mỗi người trong đời đều có một niềm đam mê riêng để theo đuổi. Có người mê xe hơi, mê du lịch, mê cà phê sang trọng hay những thú vui đắt tiền. Nhưng cũng có những niềm vui rất bình dị… Một trong những cái “mê” dễ gây nghiện nhất chính là làm vườn, trồng rau, trồng hoa. Nghe qua tưởng đơn giản. Chỉ vài luống rau, mấy gốc cà chua hay vài dây khổ qua leo quanh hàng rào, nhưng người mê làm vườn có thể đứng ngoài sân hàng giờ mà không chán. Sáng vừa thức dậy đã bước ra coi dây đậu, dây bầu có thêm bông mới chưa… Chiều đi làm về mệt rã rời cũng chưa kịp thay đồ đã xách vòi nước ra tưới cây, nhổ cỏ, bắt sâu...
(Xem: 42)
Ngày mai có khách. Ông A nhìn quanh nhà một lượt. Sách vở, băng phim bộ nằm ngổn ngang trên một đầu của chiếc sofa. Những chai nước sơn móng tay nằm lăn lóc trên chiếc bàn nhỏ mặt thủy tinh kế đó; chai acetone không đậy nắp ngã đổ, kéo thành vệt dài chảy xuống làm bạc phết một vùng trên sàn gỗ. Xuống nhà bếp: chỗ nầy cái tách, chỗ kia cái bát, muỗng, nỉa tứ tung. Tiện tay, ông liệng chúng hết vô bồn rửa chén vốn đã có nước mỡ nổi lềnh bềnh trong cái xoong lớn. Trong xoong là một mớ chén bát và thức ăn thừa. Bỗng dưng ông A đâm bực và tự trách mình đã giúp vợ quá nhiều trong những công việc lặt vặt nầy nên nàng cứ bựa ra. Người khách đó chính là bà Hồng Jefferson, người Việt duy nhất trong số khách hàng mà Tòng phải giao báo Chicago Suntimes. Ngày nào đưa báo tới nhà, bà Hồng cũng đều cho tiền Tòng. Cử chỉ thân thiện và lòng tốt của bà Hồng khiến Tòng nửa mừng, nửa lo....
(Xem: 35)
Cách đây trên 25 năm, hồi chúng tôi học trung học ở Sài Gòn, tuổi ô mai 15-16 ăn chưa no, lo chưa tới, chàng đã từng chơi u, quay dây nhảy, ăn hàng với bọn con gái chúng tôi. Tiếng cười hồn nhiên theo tôi mãi trong ký ức cho đến khi tôi theo gia đình định cư tại Cali, miền đất ấm áp, nơi rất đông người Việt. Kỷ niệm ấy chôn vùi tận sâu trong ký ức với tuổi đời ngày càng lớn, bận rộn cuộc sống. Sau khi ra trường với mảnh bằng kế toán, tôi được một người quen đưa vào làm ở một công ty may mặc, nơi ấy tôi quen với ông chủ hãng, giàu có, lớn hơn tôi gần 20 tuổi, anh lại là con trai của một người bạn thân của ba tôi khi còn ở quê nhà, và chúng tôi mau chóng tiến đến hôn nhân theo sự thúc giục của ba mẹ hai bên; ba tôi lúc đó sức khỏe không khả quan mấy, ông ta muốn tôi có nơi nương tựa, để nếu ông ra đi cũng yên lòng nơi chín suối, tôi chưa yêu ai nên đã chấp thuận để trả chữ hiếu cho tròn đầy.
(Xem: 59)
Cách đây 4 năm, vào giữa tháng Năm năm 2022, Hòa cảm thấy cơ thể rất mệt mỏi, lúc nào cũng buồn ngủ, miệng bị lở loét, chẳng muốn ăn uống gì. Tuy nhiên, Hòa không sốt, ho, không đau cổ đau họng, và cũng không bị sụt cân bất thường. Hòa lấy hẹn bác sĩ gia đình nhưng phải đợi hơn 2 tuần mới có hẹn. Không muốn chờ lâu, Hòa đi vô Virginia Mason Clinic, họ thử Covid, có khám bệnh nhưng không đưa ra kết luận nào. Qua một tuần, các triệu chứng đó biến mất, tất cả trở lại bình thường, rồi đến ngày hẹn bác sĩ, qua một số xét nghiệm máu, Hòa nhận kết quả bị Ung Thư Bạch Huyết Cầu (Leukemia).
(Xem: 72)
Càng đến gần ngày 26 tháng 7, lòng tôi càng trĩu nặng một niềm bồi hồi khó tả. Đó không phải là sự háo hức của một buổi họp mặt đồng hương, cũng chẳng đơn thuần là niềm vui gặp lại những người bạn cũ. Đó là một khoảng lặng đầy thao thức. Cứ mỗi lần nhìn thấy dòng chữ “Đại Hội Cám Ơn Anh”, lồng ngực tôi lại thắt lại. Ba chữ đơn sơ ấy thôi mà nặng trĩu những giọt nước mắt, chứa đựng cả một trời kỷ niệm và hơn nửa thế kỷ ân tình của những người con ly hương dành cho các thương phế binh năm xưa, những người đã gửi lại một phần thân thể nơi chiến trường, và giờ đây đang lặng lẽ đi qua nốt những ngày xế chiều gian khó trên quê hương. Hơn năm mươi năm đã trôi qua kể từ biến cố tháng Tư năm 1975. Thời gian đủ dài để những mái đầu xanh ngày nào giờ đã bạc trắng như sương, đủ dài để một thế hệ cứ thưa vắng dần sau những lần đưa tiễn. Nhưng thời gian ấy vẫn chưa bao giờ đủ để xóa nhòa ký ức của một cuộc chiến đầy máu và nước mắt.
(Xem: 35)
Tôi định cư ở tiểu bang Washington thành phố Seattle nhiều năm. Thời gian cũng đủ lâu để cảm nhận sự thay đổi của bốn mùa nơi đây, từ những cơn mưa dai dẳng, những ngày thu lá vàng rơi đầy lối phố, đến những buổi sáng mùa đông lạnh giá. Nước Mỹ với tôi không chỉ là quê hương mới, mà là nơi đủ mọi điều kiện để vươn lên, thay đổi cuộc đời, mà còn là nơi lưu giữ biết bao kỷ niệm, biết bao thử thách, niềm vui lẫn cả những bài học về tình người. Trong hành trình một người Việt xa quê, tôi được chứng kiến nhiều khuôn mặt khác nhau của nước Mỹ, không những một nước Mỹ hiện đại với những tòa nhà cao tầng, những công ty công nghệ hàng đầu thế giới, mà còn một nước Mỹ rất gần gũi, qua những người hàng xóm xa lạ, bình thường, luôn sẵn lòng giúp đỡ nhau. Mùa hè 2026 khi Seattle trở thành một trong những thành phố đăng cai World Cup, tôi được dịp nhìn thấy một hình ảnh khác của nước Mỹ.
(Xem: 47)
Việt Nam đất chật lại nghèo cho nên thời đó kiếm được một chỗ để đá banh rất vất vả. Đá trong xóm thì chật chội cho nên chỉ có thể chuyền banh nhỏ theo lối đá của Cảng Sài Gòn của huấn luyện viên Phạm Huỳnh Tam Lang (trước 1975 là tuyển thủ của đội tuyển miền Nam và là cựu trung vệ của Cảnh sát quốc gia). Sau này khi chơi ở các sân lớn hơn như Lý Tự Trọng hay sân gôn có khoảng trống để chuyền các đường banh dài theo lối đá của Anh quốc nhưng do mặt sân không bằng phẳng cho nên bóng đi lạc địa chỉ thường xuyên.
(Xem: 282)
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.