Hôm nay,  

Tình Em Pha Lê

18/09/202600:00:00(Xem: 492)
 
bo-sach-vvnm
Bộ sách VVNM
 
Thủy Lâm Synh sinh quán tại Đức Hải, Quảng Ngãi, Việt Nam. Ông vượt biển tháng Giêng 1978, sau khi tạm trú tại Singapore 3 tháng, định cư tại Chicago, IL. Ông làm chuyên viên cho Eastman Kodak 20 năm. Năm 2000 sáng lập Bán Nguyệt San Chicago Việt Báo và điều hành đến 2015 thì sang lại và về nam Cali nghỉ hưu. Thủy Lâm Synh tham dự chương trình VVNM từ tháng 12 năm 2025. Sau đây là bài viết mới của ông kể về một người con gái với tình yêu thầm lặng giữ kín trong lòng cho đến cuối cuộc đời.
 
***
 
Bà ngoại sinh đôi - má tôi và dì Vân. Má tôi ra trước dì Vân đúng 20 phút nên được làm chị. Bà ngoại đặt má tôi tên Huyền, nên có khi bà gọi một lượt:
 
- Huyền Vân đâu rồi, tới giờ đi tắm, đi ngủ, thức dậy ăn sáng, đi học...
 
Lúc nhỏ ngoại thường cho hai chị em mặc đồ giống nhau, cắt tóc giống nhau. Mà không giống cũng không được; theo bà ngoại kể lại thì má tôi sao cũng xong, ngược lại dì Vân luôn luôn đòi mặc đồ, mang màu dép cho giống má tôi; nếu không dì ấy giẫy nẫy phụng phịu, khiến nhiều người ưa đùa: "không khéo sau nầy con Vân nó đòi lấy chung chồng với chị của nó chẳng chơi."
  
Thời gian lặng lẽ trôi bên một gia đình tương đối đầm ấm. Dù bà ngoại chỉ sinh hai cô con gái rồi tịt luôn không sinh đẻ gì nữa mà ông ngoại tôi chẳng có thêm bà ngoại hai, ngoại ba nào, hoặc có mà không công khai nên chỉ có trời đất mới biết mà thôi. Láng giềng tấm tắc khen gia đình bà Thuận An có cặp gái sinh đôi ngoan hiền, nết na và hiếu học. Ngoan hiền thì không biết, nhưng hiếu học là cái chắc; cả hai chị em sau nầy đều có trong tay mảnh bằng dược sĩ.
 
Những bộ đồ đồng phục thuở ấu thơ không còn thích hợp. Năm cuối của chương trình đệ nhất cấp dì Vân và má tôi không còn cắt tóc giống nhau, những cặp sách và dụng cụ cũng dần dần khác. Hình như đến cái tuổi nào đó, các cô cậu thấy quê khi mặc đồng phục với anh chị em song sinh của mình khi ra đường. Dù vậy, nếu ai để ý sẽ thấy dì Vân cố gắng trang trí chiếc xe của dì để cho giống y chiếc xe của má.
 
Đến khi lớn lên, phòng ngủ dì Vân cũng rập khuôn như phòng ngủ má tôi; từ giường, tủ trang điểm, tranh ảnh trang trí đều giống. Má tôi mua cái gì cho phòng của bà là mấy ngày sau dì Vân cũng mua thứ đó khiến bà ngoại buột miệng:
 
- Con Vân nầy thiệt, phòng con Huyền sao, nó làm giống vậy. Hổng biết sau nầy có hai đứa con trai nào giống nhau cho hai đứa nó không!
 
Hôm nay dì Vân đã không còn, người ta bảo hồng nhan thì bạc phận cũng đúng. Dì qua đời để lại nỗi thương tiếc sâu đậm cho gia đình chúng tôi. Đặc biệt, má tôi khóc nhiều lắm; hai chị em cùng sinh ra nhưng nay đã âm dương cách biệt. Lật từng trang hình ảnh để tìm lại những dung nhan ngày cũ ai cũng thấy dì Vân không quá đẹp nhưng càng nhìn nét đẹp càng tiềm ẩn trên gương mặt hơi vuông tạo cho người đối diện một niềm cảm mến. Nét sang trọng mà bà ngoại đã không hề cố gắng lưu lại qua hình ảnh dì Vân để có những điểm trội hơn hẳn má Huyền của tôi. Gương mặt của dì Vân và má tôi hao hao giống, nhưng môi và mắt thì gần giống như diễn viên Thẩm Thúy Hằng theo lời kể. Nếu thi hoa hậu về sắc diện và vóc dáng, dì Vân dám đoạt giải lắm. Đó là chưa kể cái lịch thiệp trong ăn nói của dì đã đẩy má tôi xuống một vị trí thấp hơn.
 
Lùi lại thời gian. Mùa xuân năm 1975 trước khi chính quyền Nam Việt Nam hoàn toàn bỏ ngõ. Đó là thời gian mọi người dân phía nam vỹ tuyến sốt cả ruột gan. Thế tấn công như chẻ tre của quân đội phía bắc đã kéo bao nhiêu phần đất phía nam thuộc về họ, đến nỗi họ ngỡ ngàng vì sức chống cự yếu ớt của quân đội Miền Nam. Cái chiến thắng dễ dàng đã khiến lòng kiêu binh sau nầy của “bên thắng cuộc” giãn nở trở thành cao ngạo không cần thiết. Ngay trong những ngày định mệnh; hàng hàng, lớp lớp người có ít nhiều dính dáng đến chế độ Miền Nam sợ hãi bỏ nước ra đi. Ông ngoại tôi là giám đốc Ngân Hàng Phát Triển Nông Thôn nên cũng theo tàu ra đi. Chiếc tàu quảng đại Việt Nam Thương Tín đưa hàng ngàn người vượt biển Đông, tương lai là gì chưa ai định được. Chỉ biết xót ra khi rời xa tổ quốc, rời xa mảnh đất, mái nhà suốt đời gắn bó.
 
Cả nhà ngoại tôi di dân sang Mỹ năm 1975. Con đường dài hạn của cặp sinh đôi lặng lẽ theo thời gian trôi mau trên xứ người như bao gia đình người Việt di tản khác. Bước đường học vấn của dì Vân và cả má tôi cứ song hành như một cặp bài trùng. Môn nào hai người cũng ngang ngửa nhau. Chỉ có một điều khác là má tôi có vài mối tình, mà dì Vân thì hình như chẳng cặp với ai. Sau khi cả dì Vân và má tôi xong chương trình hậu đại học. Cả hai đều là dược sĩ; má tôi làm trong Walmart và làm đám cưới với ba tôi. Dì Vân có ngay công việc trong một đại dược phòng Johnson & Johnson. Hai năm sau dì Vân trở thành một viên chức quản trị có mười tám nhân viên toàn dược sĩ và cán sự trong nhà thuốc. Con đường hoạn lộ thênh thang như thế, mà đường tình của dì Vân hình như ngắn ngủi.
 
Chủ nghĩa độc thân mà dì Vân tôn thờ vẫn còn hấp dẫn để dì thoải mái và yêu đời. Dì Vân sắp xếp thời gian thật khéo, giờ nào chơi thể thao, thể dục cho thân thể, giờ nào ngồi tĩnh lặng cho tâm đều không chểnh mảng. Đã gần ba mươi tuổi mà chưa thấy dì Vân dắt bạn trai về giới thiệu cùng gia đình. Trong khi đó má tôi đã sinh thằng cu đầu lòng, đó chính là tôi. Bà ngoại kể lại trong bữa tiệc sinh nhật bốn tuổi của tôi có đông đủ mọi người, bà ngoại nhìn dì Vân thốt:
 
- Mầy định ở vậy không lấy chồng sao Vân?
 
Dì Vân cười đáp:
 
- Con đã nói với má là 'Có một lời thề' con phải giữ.
 
Má tôi xen vào:
 
- Con nầy, lời thề gì mà ràng buộc đến nỗi không lấy chồng?
 
Mặt dì Vân tiu nghỉu, đôi mắt như rưng rưng muốn khóc, dì hạ thấp giọng:
 
- Em đã trót yêu một người, mà người ấy đã có gia đình.
 
Má tôi bĩu môi.
 
- Tưởng gì! Nó có vợ thì mình lấy người khác.
 
- Em thấy không đơn giản chút nào. Hình bóng anh ta lúc nào cũng ở trong em.
 
Nói xong dì Vân quay mặt đi nơi khác để giấu che nỗi khổ tâm. Má tôi rời chỗ ngồi, qua bên phía dì Vân đang nhìn, hai tay đặt trên vai dì Vân, nhìn thẳng vào mắt của dì, bà dõng dạc:
 
- Nó có yêu vợ nó không?
 
- Làm sao em biết!
 
- Hỏi trực tiếp nó, dì không hỏi để tui hỏi cho.
 
Dì Vân gục đầu vào chị, khóc nức nở:
 
- Không, không thể nào.
 
Dì Vân vụt chạy vào nhà cầu, má tôi chạy theo nhưng cửa đã khóa.
 
Buổi tiệc sinh nhật dù vui dù buồn thì rồi cũng tàn. Dì Vân và ngoại tôi đã về nhà, khách khứa cũng tản mát cả. Má tôi ra bàn ăn, nơi ba tôi đang loay hoay dọn vài cái tách cà phê của mấy người bạn vừa bước chân ra. Má tôi nói với ba tôi:
 
- Anh, con Vân nó có một nỗi buồn.
 
- Dì ấy buồn việc gì?
 
- Nó nói nó thương một người, mà người đó đã có vợ.
 
- Dì có nói thương ai không?
 
- Không, nó chỉ khóc thôi.
 
Nghe thế ba tôi quay mặt ra cửa sổ, ông nói bâng quơ:
 
- Ở đời nhiều khi có những nghiệt ngã, đôi khi chúng ta đành chấp nhận mà không sao biện bạch.
- Anh nói gì em không hiểu – má tôi hỏi lại.
- Anh nói có thể dì Vân có một hoài bão hay là lý tưởng nào đó.
- Em nghĩ dì ấy quá yêu một người, dì đã sống mù quáng mà cứ cho là cao thượng. Thời buổi nầy, ta phải thực tế một chút, tội gì ta phải tù đày trong nỗi dằn vặt triền miên như thế.
- Thôi, chuyện của dì để dì ấy tự lo, mình có phải là dì dâu mà biết.
- Nhưng dì là em mình!
- Em thì em nhưng dì đâu còn là trẻ con.
- Nhưng khi yêu dì mù quáng. Em nói với dì là người ta có vợ thì mình lấy người khác. Dì chỉ khóc thôi, em thấy chúng ta cần có bổn phận.
- Ừ thì em làm sao đó làm, anh có giúp gì chuyện đàn bà với nhau. Nhưng anh mong em đừng nhìn người khác qua lăng kính tư tưởng của mình.
 
Để ngưng câu chuyện, ba tôi mang mấy tách uống cà phê xuống bồn rửa chén. Nơi đó ông đứng lặng lẽ rửa, ý nghĩ đã qua tuôn về: “Anh có thằng bạn đồng nghiệp, nó là kỹ sư phòng nghiên cứu, cũng làm chung hãng Boeing với anh. Nếu dì chịu thì anh sẽ làm mai cho dì.” Dì Vân nhìn sâu vào mắt ba tôi khiến ông lúng túng ngó chỗ khác. Sau đó dì mím đôi môi, có chút dỗi hờn. Dì Vân cố gắng nở nụ cười một cách gượng gạo. Kể từ đấy ba không hề nhắc đến ý kiến làm mai, làm mối gì nữa.
 
Có thể do công việc làm, dì Vân chuyển qua tiểu bang khác. Bà ngoại tình nguyện dọn theo ở với dì, có mẹ có con cho vui. Dì Vân bán ngôi nhà xinh xắn ở Seattle để chuyển về Border Colorado. Thi thoảng dì Vân gọi về thăm gia đình chúng tôi. Năm ngoái má tôi và dì Vân tròn bốn mươi tuổi. Một buổi tiệc sinh nhật được tổ chức chung tại nhà chúng tôi. Dì Vân và bà ngoại bay về lại Seattle trước đó một ngày.
 
Trong buổi tiệc nầy, ai nấy đều ngạc nhiên vì sắc diện của dì Vân xuống một cách thê thảm; những đốm đỏ nổi lên và nhìn dì có vẻ mệt mỏi. Má tôi lo lắng hỏi ngoại:
- Dì Vân đau sao mà lúc nầy trông tiều tụy quá vậy hả mẹ.
 
Ngoại đau buồn trả lời:
 
- Ừ nó đang mắc chứng gì tao cũng không rõ, nhưng nghe nó nói có vẻ bi quan lắm.
 
Má tôi ái ngại đến hỏi trực tiếp dì Vân:
 
- Chị thấy hình như dì đang có bệnh gì phải không, chạy chữa ra sao?
 
Dì Vân uể oải trả lời:
 
- Bác sĩ mới phát hiện em đã bị ung thư máu.
Má tôi há mồm than:
 
- Dì đang chữa thuốc gì?
 
- Loại thuốc đặc biệt do bác sĩ chuyên môn cho, nhưng hình như vô phương bởi ở thời kỳ cuối.
 
Dòng nước mắt lăn dài trên mặt má:
 
- Ơ! Tại sao lại vô phương, mình đang ngồi trên đống thuốc mà.
 
Giọng dì Vân chùng xuống:
 
- Em cũng chẳng biết, có lẽ em không sống được lâu!
 
Má tôi mím chặt môi, ôm lấy đứa em sinh cùng ngày, cùng tháng khóc nứt nở. Vòng tay thâm tình ghì chặt nhau không muốn dứt ra.
 
Sau buổi sinh nhật không lấy gì vui vẻ đó, bà ngoại và dì Vân về lại Colorado. Dì Vân vẫn thuốc men đều đặn nhưng mẫu tin ngoại tôi gọi qua một tháng sau đó làm cả nhà choáng váng. Bà ngoại cho biết dì Vân đang vào cấp cứu tại bệnh viện Denver University Hospital trong tình trạng nguy kịch.
 
Trên chuyến bay Southwest Airline 213, ba má tôi ngồi lặng lẽ, không nói chuyện nhau nhiều. Hình như cái chết của dì Vân sẽ đến là điều chắc chắn không tránh khỏi. Quả nhiên khi gia đình tôi qua đến nơi, bà ngoại đã bù lu, bù loa:
- Em của tụi con chắc không sao chạy khỏi con số bốn mươi mốt.
 
Nói vừa dứt câu, bà ngoại òa lên khóc, tiếp theo trong nỗi uất nghẹn:
 
- Tôi già rồi, trời phật không để tôi chết thế cho con tôi, hu.hu...
 
Đến ôm vai ngoại, má tôi nức nở:
 
- Tiếc quá, tiếc quá, dì đã vội ra đi.
 
Nước mắt chảy đầy hai má, mắt của ngoại và má tôi đỏ ngầu. Ba tôi ngồi ở bàn ăn lặng lẽ, hai tay ông đan vào nhau chống dưới cằm.
 
*
 
Theo lời căn dặn của dì Vân trước khi mất. Ngoại sẽ ở lại Denver để lo làm thất, sau bốn chín ngày, ngoại đem tro về Seattle. Ngoại tôi đã được luật sư cho xem các di chúc và các giấy tờ liên hệ đến tài sản dì Vân để lại. Tất cả tài sản kể cả trương mục ngân hàng và bảo hiểm nhân thọ, sẽ chia ba: Một cho ngoại, một cho gia đình chúng tôi, một cho Hội Nghiên Cứu Ung Thư Máu Hoa Kỳ. Sau đó ông Allen Olive - luật sư tìm gặp riêng ba tôi, mở cặp ông lấy một phong bì dán kín, ông được dì Vân dặn là chỉ trao thư cho một mình ba tôi-Mr. Hoàng Thanh Vũ mà thôi.
 
Sau nhiều đêm suy nghĩ, ba tôi quyết định bóc thư ra xem:
 
"Anh Vũ, em không muốn chị Huyền của em buồn và khó chịu mỗi khi nhìn di ảnh của em. Hai mươi năm trôi qua là hai mươi năm em sống trong âm thầm chịu đựng. Tại sao anh lại cưới chị Huyền của em, mà không là người nào khác. Em đã yêu anh một cách điên dại, yêu như một đứa trẻ yêu tha thiết một món đồ chơi không bao giờ rời được. Do những nghĩ suy trường chinh ấy đã dẫn đến suy nhược huyết cầu như sự phân tích của nhiều bác sĩ chuyên khoa.
 
Anh! Cho đến khi em còn đủ sức viết những dòng nầy, em cũng chưa bao giờ có một lời trách hờn anh. Thực tình, em cố xua đuổi hình bóng của anh ra khỏi tâm trí của em vì cho đó như là một lỗi lầm. Nhưng lý lẽ của con tim vẫn là những gì khó giải thích. Càng xua đuổi nó càng hiển hiện. Những ngày cuối cuộc đời tại bệnh viện, em ước ao được một lần nắm lấy bàn tay anh, nhìn thẳng vào mắt anh nhưng dường như những thứ ấy đối với em rất xa xỉ khó thực hiện. Em chỉ có đủ thì giờ căn dặn luật sư trao thư nầy cho anh và em mong anh thực hiện cho việc nầy: Tro cốt của em sau khi hỏa táng, anh mang về Seattle rải chung quanh vườn nhà của anh, để cho em được gần mẹ, gần chị Huyền, gần hai cháu Toàn, Thu và… được gần anh.”
 
Đọc xong thư viết tay nguệch ngoạc của Vân, tim người nhận thắt lại. Ba tôi đấm tay lên mặt bàn đau khổ. Một mối tình trắng như pha lê.
 
Đó là những gì ba tôi đã kể về dì Vân cho tôi nghe, nhân dịp tôi về nghỉ Spring Break năm 2012.
 
Thủy Lâm Synh
  

Nhân dịp trở lại Học viện quân sự West Point (hay còn gọi là trường võ bị West Point) để tham dự lễ trao nhẫn của các sinh viên khóa 2027, tôi tranh thủ ghé thăm Bảo tàng West Point nằm kế bên Trung tâm đón tiếp du khách Frederic V. Malek (The Frederic V. Malek West Point Visitor Center). Giới thiệu sơ lược về Bảo tàng West Point. Học viện quân sự West Point là một trong những học viện quân sự lâu đời nhất thế giới, đào tạo cả nam lẫn nữ. West Point với chương trình học kéo dài 4 năm này cũng chính là nơi tọa lạc của Bảo tàng quân sự lâu đời nhất của nước Mỹ- Bảo tàng West Point. Bảo tàng này được cho là bảo tàng sở hữu bộ sưu tập đa dạng với quy mô lớn và độc đáo nhất về các hiện vật quân sự tại Tây Bán Cầu.
(Xem: 35)
Bây giờ là Tháng Bảy âm lịch, trời vẫn sụt sùi những cơn mưa ngâu dai dẳng, vì là mùa của Ngưu Lang Chức Nữ gặp lại rồi chia xa. Chiều nay tôi tình cờ nghe được một bài hát trên YouTube về tháng Bảy Mưa Ngâu và chuyện tình Ô Thước bắt cầu, lòng tôi lại quặn thắt xốn xang, miên man nhớ về câu chuyện “Ngưu - Chức” của chính vợ chồng tôi. Tính ra thì Ngưu Lang Chức Nữ còn may mắn hơn chúng tôi bội phần, vì họ còn nhờ bầy Ô Thước bắt cầu cho gặp lại mỗi năm một lần. Chúng tôi cũng đã từng có những phút giây hội ngộ thật thơ mộng, thật đáng yêu giữa dòng đời bận rộn, đúng vào ngày Lễ Tình Nhân trên đất Mỹ, để rồi mãi mãi chia xa, mà không một Ô Thước nào thương hại bắt cho lấy một nhịp cầu từ ngày ấy...
(Xem: 34)
Định cư tại Houston gần 30 năm, nhưng tôi chưa bao giờ có dịp đến Tòa Thị chính của thành phố. Tháng này, Trung tâm Cao niên Houston Meg Weekley Community Center tổ chức một chuyến Bus Trip vào ngày 23-7-26, đi thăm Tòa Thị Chính Houston (Houston City Hall). Tôi liền ghi tên tham dự, vì đây là một cơ hội hiếm có để tôi tận mắt nhìn và biết được tòa nhà đầy quyền lực và mang nhiều sự kiện lịch sử của Thành phố Houston. Tôi đến Trung tâm cao niên đúng 8 giờ sáng, mọi người đã có mặt đầy đủ,cùng check in và xếp hàng lên xe. Số người tham dự khá đông, khoảng 40 người, hầu hết là những vị lớn tuổi. Đúng 9 giờ thì xe khởi hành. Đến Tòa Thị Chính ở trung tâm thành phố Houston lúc 11 giờ trưa.Trước mặt chúng tôi là tòa Thị chính Houston, một buiding nhiều tầng, màu trắng đục, đứng nổi bật trên bầu trời giữa những cây sồi và một hồ nước trong xanh trông rất đẹp.
(Xem: 29)
Sáng Chủ Nhật hôm đó, tôi còn nằm nướng trên giường, chị Hậu đã gọi điện thoại réo: - Dậy chưa em? Hôm nay Houston mưa gió tơi bời, cũng may đã đi xong đám cưới con gái em, chớ giờ này tuần trước mà mưa gió như vầy, chị làm biếng ra phi trường và có khi chuyến bay bị hủy luôn đó. - Cám ơn chị đã không ngại đường xá, bay qua Canada ăn cưới, chung vui với gia đình em. - Khách sáo quá đi! Hàng xóm cũ bên Việt Nam qua đây gặp nhau mừng vui hết biết, mà bữa đám cưới vợ chồng em lu bu khách khứa nên đâu nói chuyện được gì. Bữa nay em đã khỏe, đã hết mệt chưa? - Dạ chị, em thấy... khỏe re, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng luôn. Gả được đứa con gái, yên tâm rồi. - Mừng húm chớ yên tâm gì, phải không? Nói đùa tí thôi, nhưng đó là sự thật đó em, nhiều nhà mong con đám cưới mà không được.
(Xem: 34)
Ông Tư là người nhiều chuyện - nhiều chuyện ở đây không phải là “ngồi lê đôi mách”, mà là những chuyện thời sự nóng bỏng “giật gân” ông “lượm” được trên Internet, YouTube hay trên truyền thông, truyền hình, rồi thêm vào những nhận định của mình để nói cho bà con nghe chơi. Trời sinh ông Tư cái tật hay nói. Không được nói, ông cảm thấy bức bối như không khí thiếu oxy, như bữa ăn thiếu nước mắm. Trải qua tám mươi năm cuộc đời, có một thời gian ông phải kiềm chế lời nói. Đó là những ngày sau năm 1975, khi phải sống dưới chế độ Cộng sản ở quê nhà. Nói nhiều mà sai chính sách, chúng nó cho đi “mò tôm” (1) hay đưa vào trại tập trung cải tạo ngồi “bóc lịch” (2) và đi lao động khổ sai mút mùa… thì đời tàn trong ngõ hẹp.
(Xem: 44)
Chủ Nhật vừa qua, trường Việt Ngữ Huệ Quang chính thức khai giảng năm học mới. Mỗi lần nghe hai chữ “khai giảng”, người ta thường hình dung đến một sân trường đông vui, học sinh ríu rít, phụ huynh đưa đón, tiếng trống trường vang lên báo hiệu một năm học mới bắt đầu. Còn lớp Việt Ngữ của chúng tôi thì… khiêm tốn hơn rất nhiều. Năm nay, lớp của tôi chỉ có bốn em học sinh. Nhưng điều đáng mừng là trong bốn em ấy, có đến hai em là học sinh mới. Hai em cũ trở lại trường sau một mùa hè dài. Nhìn các em bước vào lớp, tôi vừa vui vừa có cảm giác như gặp lại những người bạn nhỏ quen thuộc. Một năm trôi qua, các em đã lớn thêm một chút, cao thêm một chút, và dĩ nhiên… tiếng Việt cũng hy vọng rằng tiếng Việt của các em đừng quên đi chút nào.
(Xem: 49)
Sau buổi họp mặt đầy tình thân của nhóm Việt Bút tại tư gia của tác giả Lê Xuân Mỹ vào tháng Bảy vừa qua, các tác giả thuộc vùng Bắc Cali đã tiếp nối nhau ghi lại những khoảnh khắc vui tươi, đáng nhớ ấy. Buổi họp mặt nhóm Việt Bút hôm nay gồm có Lê Xuân Mỹ, Phương Hoa, Minh Thúy, TháiNC, Thịnh Hương, Mão Nguyễn, Kim Dung, Tường Vân, Iris, Phương Dung, Nguyễn Văn Tới. Tuần trước, sau buổi ra mắt sách thành công vang dội, “Hoa Hậu VVNM” Lê Xuân Mỹ có nói sẽ mời nhóm Bắc Cali đến nhà để “ăn mừng chiến thắng!” Và hôm nay nhân dịp “Hoa Hậu” Tới Nguyễn ghé qua Bắc Cali mang theo “Hoa Hậu” Iris, nên Lê Xuân Mỹ bèn “réo” mọi người tụ họp để làm một cuộc …đại náo cho vui. Trời San Jose chiều nay nắng đổ lửa, nóng đến mức con ve sầu cũng muốn đình công! Chúng im re! Thế nhưng, cái nóng của ông trời làm sao đỡ nổi cái “nhiệt” hừng hực của nhóm “hảo hán” Việt Bút đang tụ hội tại tổng hành dinh của “nhà Quán Quân VVNM 2023” Lê Xuân Mỹ.
(Xem: 45)
Hồi còn ở quê nhà, bất chợt đọc được đâu đó, mấy câu thơ: “ Bỗng nhận ra hương ổi Phả vào trong gió se Sương chùng chình qua ngõ Hình như thu đã về...”. Nhìn ra ngoài cổng, thấy từng tốp học sinh đạp xe ngang qua. Một chút nao nao: “ Ôi! Mùa thu đã về!”. Không có hương ổi, vì nhà ở phố? Cũng không có “sương chùng chình”, chỉ là những tà áo dài trắng của các cô nữ sinh, bay bay. Cũng đủ để lòng đánh thức mùa thu của những tháng năm còn đi học...
(Xem: 72)
Đang viết dở dang chuyến đi châu Âu dịp Giáng sinh 2025 thì tôi lại khăn gói lên đường đi châu Âu trung tuần tháng Ba 2026. Nhân dịp Spring Break, bà xã muốn tôi sang thăm con gái đang du học bên Anh. Trong lòng tôi có lo lắng chiến tranh do Mỹ và Do Thái khởi xướng đánh Iran. Tuy nhiên do sợ vợ hơn là sợ chiến tranh, tôi ngoan ngoãn vâng lời khăn gói lên đường thứ Sáu ngày 13 tháng 3. Đã lo sợ chiến tranh lại phải ra đi thứ Sáu ngày 13, ngày mà người Mỹ cho là xui xẻo, quả là hơi căng. Vì đi đột xuất, phút cuối tôi mới biết là tôi sẽ đi hãng máy bay Thổ Nhĩ Kỳ và tôi sẽ phải quá cảnh ở Istanbul trước khi tới Nice bên Pháp. Đang lo sợ chiến tranh, sợ xui thứ 6 ngày 13, bây giờ biết mình phải tới Thổ Nhĩ Kỳ, nơi Iran mới phóng tên lửa (dù bị bắn hạ) cách đó mấy ngày, tôi quay sang bà xã định xin phép cho quay về. Thấy cái tướng khúm núm, mặt mày tái nhạt của tôi, bà xã không nói không rằng, đưa tay chỉ thẳng cổng máy bay.
(Xem: 71)
Có những buổi sáng rất bình thường nhưng lại làm người ta nhớ gần như cả một đời người. Sáng nay, trong căn nhà nhỏ ở San Jose, tôi pha hai ly cà phê như thói quen đã có từ nhiều năm. Một ly đặt trước mặt mình, ly còn lại đặt trước người bạn đời đã ngồi đối diện tôi suốt nửa thế kỷ. Ánh nắng đầu thu len qua khung cửa, rơi xuống khu vườn nhỏ nơi những bụi hồng vừa hé nụ. Ngoài sân, tiếng chim ríu rít vang lên quen thuộc. Mọi thứ vẫn bình yên như bao buổi sáng khác, nhưng lòng tôi bỗng nôn nao khi chợt nhận ra: Đã đúng năm mươi năm kể từ ngày hai đứa nắm tay nhau bước vào cuộc sống hôn nhân. Nửa thế kỷ, một quãng đường đủ dài để mái tóc xanh hóa bạc, để những đứa con ngày nào còn nép vào lòng cha mẹ nay đã trở thành cha mẹ của những đứa trẻ khác. Đó cũng là quãng thời gian đủ dài để tôi hiểu rằng điều quý giá nhất của đời người không phải là mình tích góp được bao nhiêu của cải, mà là khi ngoảnh đầu nhìn lại giữa bao thăng trầm, người đã cùng mình đi qua giông bão vẫn còn ngồi bên cạnh.
(Xem: 43)
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.