Hôm nay,  

Tình Em Pha Lê

18/09/202600:00:00(Xem: 493)
 
bo-sach-vvnm
Bộ sách VVNM
 
Thủy Lâm Synh sinh quán tại Đức Hải, Quảng Ngãi, Việt Nam. Ông vượt biển tháng Giêng 1978, sau khi tạm trú tại Singapore 3 tháng, định cư tại Chicago, IL. Ông làm chuyên viên cho Eastman Kodak 20 năm. Năm 2000 sáng lập Bán Nguyệt San Chicago Việt Báo và điều hành đến 2015 thì sang lại và về nam Cali nghỉ hưu. Thủy Lâm Synh tham dự chương trình VVNM từ tháng 12 năm 2025. Sau đây là bài viết mới của ông kể về một người con gái với tình yêu thầm lặng giữ kín trong lòng cho đến cuối cuộc đời.
 
***
 
Bà ngoại sinh đôi - má tôi và dì Vân. Má tôi ra trước dì Vân đúng 20 phút nên được làm chị. Bà ngoại đặt má tôi tên Huyền, nên có khi bà gọi một lượt:
 
- Huyền Vân đâu rồi, tới giờ đi tắm, đi ngủ, thức dậy ăn sáng, đi học...
 
Lúc nhỏ ngoại thường cho hai chị em mặc đồ giống nhau, cắt tóc giống nhau. Mà không giống cũng không được; theo bà ngoại kể lại thì má tôi sao cũng xong, ngược lại dì Vân luôn luôn đòi mặc đồ, mang màu dép cho giống má tôi; nếu không dì ấy giẫy nẫy phụng phịu, khiến nhiều người ưa đùa: "không khéo sau nầy con Vân nó đòi lấy chung chồng với chị của nó chẳng chơi."
  
Thời gian lặng lẽ trôi bên một gia đình tương đối đầm ấm. Dù bà ngoại chỉ sinh hai cô con gái rồi tịt luôn không sinh đẻ gì nữa mà ông ngoại tôi chẳng có thêm bà ngoại hai, ngoại ba nào, hoặc có mà không công khai nên chỉ có trời đất mới biết mà thôi. Láng giềng tấm tắc khen gia đình bà Thuận An có cặp gái sinh đôi ngoan hiền, nết na và hiếu học. Ngoan hiền thì không biết, nhưng hiếu học là cái chắc; cả hai chị em sau nầy đều có trong tay mảnh bằng dược sĩ.
 
Những bộ đồ đồng phục thuở ấu thơ không còn thích hợp. Năm cuối của chương trình đệ nhất cấp dì Vân và má tôi không còn cắt tóc giống nhau, những cặp sách và dụng cụ cũng dần dần khác. Hình như đến cái tuổi nào đó, các cô cậu thấy quê khi mặc đồng phục với anh chị em song sinh của mình khi ra đường. Dù vậy, nếu ai để ý sẽ thấy dì Vân cố gắng trang trí chiếc xe của dì để cho giống y chiếc xe của má.
 
Đến khi lớn lên, phòng ngủ dì Vân cũng rập khuôn như phòng ngủ má tôi; từ giường, tủ trang điểm, tranh ảnh trang trí đều giống. Má tôi mua cái gì cho phòng của bà là mấy ngày sau dì Vân cũng mua thứ đó khiến bà ngoại buột miệng:
 
- Con Vân nầy thiệt, phòng con Huyền sao, nó làm giống vậy. Hổng biết sau nầy có hai đứa con trai nào giống nhau cho hai đứa nó không!
 
Hôm nay dì Vân đã không còn, người ta bảo hồng nhan thì bạc phận cũng đúng. Dì qua đời để lại nỗi thương tiếc sâu đậm cho gia đình chúng tôi. Đặc biệt, má tôi khóc nhiều lắm; hai chị em cùng sinh ra nhưng nay đã âm dương cách biệt. Lật từng trang hình ảnh để tìm lại những dung nhan ngày cũ ai cũng thấy dì Vân không quá đẹp nhưng càng nhìn nét đẹp càng tiềm ẩn trên gương mặt hơi vuông tạo cho người đối diện một niềm cảm mến. Nét sang trọng mà bà ngoại đã không hề cố gắng lưu lại qua hình ảnh dì Vân để có những điểm trội hơn hẳn má Huyền của tôi. Gương mặt của dì Vân và má tôi hao hao giống, nhưng môi và mắt thì gần giống như diễn viên Thẩm Thúy Hằng theo lời kể. Nếu thi hoa hậu về sắc diện và vóc dáng, dì Vân dám đoạt giải lắm. Đó là chưa kể cái lịch thiệp trong ăn nói của dì đã đẩy má tôi xuống một vị trí thấp hơn.
 
Lùi lại thời gian. Mùa xuân năm 1975 trước khi chính quyền Nam Việt Nam hoàn toàn bỏ ngõ. Đó là thời gian mọi người dân phía nam vỹ tuyến sốt cả ruột gan. Thế tấn công như chẻ tre của quân đội phía bắc đã kéo bao nhiêu phần đất phía nam thuộc về họ, đến nỗi họ ngỡ ngàng vì sức chống cự yếu ớt của quân đội Miền Nam. Cái chiến thắng dễ dàng đã khiến lòng kiêu binh sau nầy của “bên thắng cuộc” giãn nở trở thành cao ngạo không cần thiết. Ngay trong những ngày định mệnh; hàng hàng, lớp lớp người có ít nhiều dính dáng đến chế độ Miền Nam sợ hãi bỏ nước ra đi. Ông ngoại tôi là giám đốc Ngân Hàng Phát Triển Nông Thôn nên cũng theo tàu ra đi. Chiếc tàu quảng đại Việt Nam Thương Tín đưa hàng ngàn người vượt biển Đông, tương lai là gì chưa ai định được. Chỉ biết xót ra khi rời xa tổ quốc, rời xa mảnh đất, mái nhà suốt đời gắn bó.
 
Cả nhà ngoại tôi di dân sang Mỹ năm 1975. Con đường dài hạn của cặp sinh đôi lặng lẽ theo thời gian trôi mau trên xứ người như bao gia đình người Việt di tản khác. Bước đường học vấn của dì Vân và cả má tôi cứ song hành như một cặp bài trùng. Môn nào hai người cũng ngang ngửa nhau. Chỉ có một điều khác là má tôi có vài mối tình, mà dì Vân thì hình như chẳng cặp với ai. Sau khi cả dì Vân và má tôi xong chương trình hậu đại học. Cả hai đều là dược sĩ; má tôi làm trong Walmart và làm đám cưới với ba tôi. Dì Vân có ngay công việc trong một đại dược phòng Johnson & Johnson. Hai năm sau dì Vân trở thành một viên chức quản trị có mười tám nhân viên toàn dược sĩ và cán sự trong nhà thuốc. Con đường hoạn lộ thênh thang như thế, mà đường tình của dì Vân hình như ngắn ngủi.
 
Chủ nghĩa độc thân mà dì Vân tôn thờ vẫn còn hấp dẫn để dì thoải mái và yêu đời. Dì Vân sắp xếp thời gian thật khéo, giờ nào chơi thể thao, thể dục cho thân thể, giờ nào ngồi tĩnh lặng cho tâm đều không chểnh mảng. Đã gần ba mươi tuổi mà chưa thấy dì Vân dắt bạn trai về giới thiệu cùng gia đình. Trong khi đó má tôi đã sinh thằng cu đầu lòng, đó chính là tôi. Bà ngoại kể lại trong bữa tiệc sinh nhật bốn tuổi của tôi có đông đủ mọi người, bà ngoại nhìn dì Vân thốt:
 
- Mầy định ở vậy không lấy chồng sao Vân?
 
Dì Vân cười đáp:
 
- Con đã nói với má là 'Có một lời thề' con phải giữ.
 
Má tôi xen vào:
 
- Con nầy, lời thề gì mà ràng buộc đến nỗi không lấy chồng?
 
Mặt dì Vân tiu nghỉu, đôi mắt như rưng rưng muốn khóc, dì hạ thấp giọng:
 
- Em đã trót yêu một người, mà người ấy đã có gia đình.
 
Má tôi bĩu môi.
 
- Tưởng gì! Nó có vợ thì mình lấy người khác.
 
- Em thấy không đơn giản chút nào. Hình bóng anh ta lúc nào cũng ở trong em.
 
Nói xong dì Vân quay mặt đi nơi khác để giấu che nỗi khổ tâm. Má tôi rời chỗ ngồi, qua bên phía dì Vân đang nhìn, hai tay đặt trên vai dì Vân, nhìn thẳng vào mắt của dì, bà dõng dạc:
 
- Nó có yêu vợ nó không?
 
- Làm sao em biết!
 
- Hỏi trực tiếp nó, dì không hỏi để tui hỏi cho.
 
Dì Vân gục đầu vào chị, khóc nức nở:
 
- Không, không thể nào.
 
Dì Vân vụt chạy vào nhà cầu, má tôi chạy theo nhưng cửa đã khóa.
 
Buổi tiệc sinh nhật dù vui dù buồn thì rồi cũng tàn. Dì Vân và ngoại tôi đã về nhà, khách khứa cũng tản mát cả. Má tôi ra bàn ăn, nơi ba tôi đang loay hoay dọn vài cái tách cà phê của mấy người bạn vừa bước chân ra. Má tôi nói với ba tôi:
 
- Anh, con Vân nó có một nỗi buồn.
 
- Dì ấy buồn việc gì?
 
- Nó nói nó thương một người, mà người đó đã có vợ.
 
- Dì có nói thương ai không?
 
- Không, nó chỉ khóc thôi.
 
Nghe thế ba tôi quay mặt ra cửa sổ, ông nói bâng quơ:
 
- Ở đời nhiều khi có những nghiệt ngã, đôi khi chúng ta đành chấp nhận mà không sao biện bạch.
- Anh nói gì em không hiểu – má tôi hỏi lại.
- Anh nói có thể dì Vân có một hoài bão hay là lý tưởng nào đó.
- Em nghĩ dì ấy quá yêu một người, dì đã sống mù quáng mà cứ cho là cao thượng. Thời buổi nầy, ta phải thực tế một chút, tội gì ta phải tù đày trong nỗi dằn vặt triền miên như thế.
- Thôi, chuyện của dì để dì ấy tự lo, mình có phải là dì dâu mà biết.
- Nhưng dì là em mình!
- Em thì em nhưng dì đâu còn là trẻ con.
- Nhưng khi yêu dì mù quáng. Em nói với dì là người ta có vợ thì mình lấy người khác. Dì chỉ khóc thôi, em thấy chúng ta cần có bổn phận.
- Ừ thì em làm sao đó làm, anh có giúp gì chuyện đàn bà với nhau. Nhưng anh mong em đừng nhìn người khác qua lăng kính tư tưởng của mình.
 
Để ngưng câu chuyện, ba tôi mang mấy tách uống cà phê xuống bồn rửa chén. Nơi đó ông đứng lặng lẽ rửa, ý nghĩ đã qua tuôn về: “Anh có thằng bạn đồng nghiệp, nó là kỹ sư phòng nghiên cứu, cũng làm chung hãng Boeing với anh. Nếu dì chịu thì anh sẽ làm mai cho dì.” Dì Vân nhìn sâu vào mắt ba tôi khiến ông lúng túng ngó chỗ khác. Sau đó dì mím đôi môi, có chút dỗi hờn. Dì Vân cố gắng nở nụ cười một cách gượng gạo. Kể từ đấy ba không hề nhắc đến ý kiến làm mai, làm mối gì nữa.
 
Có thể do công việc làm, dì Vân chuyển qua tiểu bang khác. Bà ngoại tình nguyện dọn theo ở với dì, có mẹ có con cho vui. Dì Vân bán ngôi nhà xinh xắn ở Seattle để chuyển về Border Colorado. Thi thoảng dì Vân gọi về thăm gia đình chúng tôi. Năm ngoái má tôi và dì Vân tròn bốn mươi tuổi. Một buổi tiệc sinh nhật được tổ chức chung tại nhà chúng tôi. Dì Vân và bà ngoại bay về lại Seattle trước đó một ngày.
 
Trong buổi tiệc nầy, ai nấy đều ngạc nhiên vì sắc diện của dì Vân xuống một cách thê thảm; những đốm đỏ nổi lên và nhìn dì có vẻ mệt mỏi. Má tôi lo lắng hỏi ngoại:
- Dì Vân đau sao mà lúc nầy trông tiều tụy quá vậy hả mẹ.
 
Ngoại đau buồn trả lời:
 
- Ừ nó đang mắc chứng gì tao cũng không rõ, nhưng nghe nó nói có vẻ bi quan lắm.
 
Má tôi ái ngại đến hỏi trực tiếp dì Vân:
 
- Chị thấy hình như dì đang có bệnh gì phải không, chạy chữa ra sao?
 
Dì Vân uể oải trả lời:
 
- Bác sĩ mới phát hiện em đã bị ung thư máu.
Má tôi há mồm than:
 
- Dì đang chữa thuốc gì?
 
- Loại thuốc đặc biệt do bác sĩ chuyên môn cho, nhưng hình như vô phương bởi ở thời kỳ cuối.
 
Dòng nước mắt lăn dài trên mặt má:
 
- Ơ! Tại sao lại vô phương, mình đang ngồi trên đống thuốc mà.
 
Giọng dì Vân chùng xuống:
 
- Em cũng chẳng biết, có lẽ em không sống được lâu!
 
Má tôi mím chặt môi, ôm lấy đứa em sinh cùng ngày, cùng tháng khóc nứt nở. Vòng tay thâm tình ghì chặt nhau không muốn dứt ra.
 
Sau buổi sinh nhật không lấy gì vui vẻ đó, bà ngoại và dì Vân về lại Colorado. Dì Vân vẫn thuốc men đều đặn nhưng mẫu tin ngoại tôi gọi qua một tháng sau đó làm cả nhà choáng váng. Bà ngoại cho biết dì Vân đang vào cấp cứu tại bệnh viện Denver University Hospital trong tình trạng nguy kịch.
 
Trên chuyến bay Southwest Airline 213, ba má tôi ngồi lặng lẽ, không nói chuyện nhau nhiều. Hình như cái chết của dì Vân sẽ đến là điều chắc chắn không tránh khỏi. Quả nhiên khi gia đình tôi qua đến nơi, bà ngoại đã bù lu, bù loa:
- Em của tụi con chắc không sao chạy khỏi con số bốn mươi mốt.
 
Nói vừa dứt câu, bà ngoại òa lên khóc, tiếp theo trong nỗi uất nghẹn:
 
- Tôi già rồi, trời phật không để tôi chết thế cho con tôi, hu.hu...
 
Đến ôm vai ngoại, má tôi nức nở:
 
- Tiếc quá, tiếc quá, dì đã vội ra đi.
 
Nước mắt chảy đầy hai má, mắt của ngoại và má tôi đỏ ngầu. Ba tôi ngồi ở bàn ăn lặng lẽ, hai tay ông đan vào nhau chống dưới cằm.
 
*
 
Theo lời căn dặn của dì Vân trước khi mất. Ngoại sẽ ở lại Denver để lo làm thất, sau bốn chín ngày, ngoại đem tro về Seattle. Ngoại tôi đã được luật sư cho xem các di chúc và các giấy tờ liên hệ đến tài sản dì Vân để lại. Tất cả tài sản kể cả trương mục ngân hàng và bảo hiểm nhân thọ, sẽ chia ba: Một cho ngoại, một cho gia đình chúng tôi, một cho Hội Nghiên Cứu Ung Thư Máu Hoa Kỳ. Sau đó ông Allen Olive - luật sư tìm gặp riêng ba tôi, mở cặp ông lấy một phong bì dán kín, ông được dì Vân dặn là chỉ trao thư cho một mình ba tôi-Mr. Hoàng Thanh Vũ mà thôi.
 
Sau nhiều đêm suy nghĩ, ba tôi quyết định bóc thư ra xem:
 
"Anh Vũ, em không muốn chị Huyền của em buồn và khó chịu mỗi khi nhìn di ảnh của em. Hai mươi năm trôi qua là hai mươi năm em sống trong âm thầm chịu đựng. Tại sao anh lại cưới chị Huyền của em, mà không là người nào khác. Em đã yêu anh một cách điên dại, yêu như một đứa trẻ yêu tha thiết một món đồ chơi không bao giờ rời được. Do những nghĩ suy trường chinh ấy đã dẫn đến suy nhược huyết cầu như sự phân tích của nhiều bác sĩ chuyên khoa.
 
Anh! Cho đến khi em còn đủ sức viết những dòng nầy, em cũng chưa bao giờ có một lời trách hờn anh. Thực tình, em cố xua đuổi hình bóng của anh ra khỏi tâm trí của em vì cho đó như là một lỗi lầm. Nhưng lý lẽ của con tim vẫn là những gì khó giải thích. Càng xua đuổi nó càng hiển hiện. Những ngày cuối cuộc đời tại bệnh viện, em ước ao được một lần nắm lấy bàn tay anh, nhìn thẳng vào mắt anh nhưng dường như những thứ ấy đối với em rất xa xỉ khó thực hiện. Em chỉ có đủ thì giờ căn dặn luật sư trao thư nầy cho anh và em mong anh thực hiện cho việc nầy: Tro cốt của em sau khi hỏa táng, anh mang về Seattle rải chung quanh vườn nhà của anh, để cho em được gần mẹ, gần chị Huyền, gần hai cháu Toàn, Thu và… được gần anh.”
 
Đọc xong thư viết tay nguệch ngoạc của Vân, tim người nhận thắt lại. Ba tôi đấm tay lên mặt bàn đau khổ. Một mối tình trắng như pha lê.
 
Đó là những gì ba tôi đã kể về dì Vân cho tôi nghe, nhân dịp tôi về nghỉ Spring Break năm 2012.
 
Thủy Lâm Synh
  

Key West, Florida. Chiếc xe buýt du lịch thong thả lăn bánh trên những con đường rợp nắng của Key West. Tôi loay hoay giơ điện thoại định tự chụp một tấm hình kỷ niệm cho hai vợ chồng thì người đàn ông ngồi ở hàng ghế phía trước quay lại, mỉm cười đưa tay xin giúp. Ông nâng chiếc điện thoại lên, chụp liên tiếp vài kiểu rồi cẩn thận xem lại từng tấm trước khi trả cho tôi. Cái cách ông chăm chút cho những bức ảnh của một người xa lạ khiến tôi có thiện cảm ngay từ phút đầu. Tôi nhìn màn hình, vui vẻ nói
(Xem: 42)
Là một giáo viên dự khuyết đã nhiều năm, tôi đã từng dạy thay cho nhiều giáo viên ở tất cả các khối lớp từ mẫu giáo đến lớp 12. Tôi nhận thấy lứa tuổi lớp 7 và lớp 8 là lứa tuổi vui nhộn và tinh nghịch nhất trong tất cả các khối lớp. Đây là lứa tuổi ẩm ương, tuy không còn trẻ con như học trò bậc tiểu học nhưng chưa được chững chạc, đĩnh đạc như các anh chị lứa tuổi bậc trung học. Có lẽ vì vậy, các em vẫn giữ được nét hồn nhiên, tinh nghịch, lém lỉnh đặc trưng của lứa tuổi này. Người Việt có câu: “Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò” để ám chỉ sự nghịch ngợm, hiếu động, lém lỉnh, thích trêu chọc thầy cô giáo của lứa tuổi học trò. Tôi nhận xét câu thành ngữ này rất đúng với lứa tuổi cấp hai (lớp 7 và lớp 8 trường junior highschool). Tôi có nhiều kỷ niệm vui với các em học trò ở các trường cấp hai hơn các khối lớp khác.
(Xem: 26)
Thầy Trụ trì giúp tôi mở hộp để chuyển phần tro cốt của anh qua một túi giấy giống như bì thơ lớn được làm bằng một hợp chất dễ tan trong nước. Tôi dán lại và ghi tên cùng pháp danh, ngày tháng năm sinh,năm mất của anh trên túi giấy rồi cẩn thận đặt trên bàn để ngày mai đưa anh ra biển. Đứng lặng nhìn túi giấy trong đó chứa một phần thân xác cuối cùng còn lại của anh lòng tôi bỗng chùng xuống ngậm ngùi! Đã hơn mười năm rồi, thời gian xa cách khá dài nhưng vẫn còn đây những tháng năm quay quắt nhớ thương. Ngày mai, chính tay em sẽ rải những tro cốt này trên biển, chúng sẽ tan loãng rồi trôi theo dòng nước biển mênh mông và anh sẽ không còn gì nữa. Sự vô thường có có không không, tất cả đã trở về với cát bụi.Thân xác không còn sở hữu của hương linh, và rồi hương linh anh với thần thức sáng suốt sẽ được siêu thoát, thanh thản, nhẹ nhàng, và bình yên nơi miền tịnh cảnh.
(Xem: 40)
Nhà ông bà Hai ở thành phố Westminster, gần khu Bolsa. Trước kia gia đình ông bà sống đầm ấm dưới một mái nhà “tam đại đồng đường”, gồm bà ngoại, cha mẹ, và các con. Nhưng dần dần con cái khôn lớn, học hành thành tài, ra trường có việc làm, rồi lập gia đình ra ở riêng. Bà ngoại cũng mất cách nay mấy năm, ở tuổi 90. Quay qua quay lại giờ đây chỉ còn lại hai ông bà và một người con trai chưa lập gia đình, cũng đi làm từ sáng tới chiều. Căn nhà 4 phòng ngủ và một phòng Family room rộng rãi trở nên vắng lặng. Chung quanh nhà thì tường cao cổng kín. Trước nhà, quanh năm cây cảnh một màu vàng của lá, màu úa của cỏ như đang vào thu, vì mùa đông thiếu nắng, mùa hè hạn chế nước, nhưng được cái cắt tỉa tươm tất. Vườn sau cây ăn trái xum xuê, góc vườn bên phải là cây lê tàu, bên trái cây bưởi già, khúc giữa là cây quýt, cây chanh, cây na, cây nhãn.
(Xem: 54)
Nằm ở vùng Trung Tây (Midwest) Hoa Kỳ, tiểu bang Illinois được xem là mô hình thu nhỏ của nước Mỹ với sự đa dạng về Địa Lý, Kinh Tế, Văn Hóa, Xã Hội. Phía Bắc tiểu bang giáp với Wiscosin, phía Đông giáp Indiana và hồ Michigan, phía Nam giáp Kentucky. Mặc dầu Springfield là thủ phủ, là nơi tọa lạc của các cơ quan chính quyền, nhưng Chicago mới thật sự là trái tim của tiểu bang. Khi nhắc đến tiểu bang Illinois ở Mỹ cũng như ở Việt Nam có nhiều người không biết nhưng khi nói đến Chicago thì ai cũng biết. Tại sao nói Chicago là trái tim của Illinois? Đây là điều thú vị. Được mệnh danh là “vùng đất của Lincoln” (Land of Lincoln), tiểu bang Illinois không chỉ giàu giá trị lịch sử mà còn là trung tâm giao thương, vận tải và tài chánh rất quan trọng. Nơi đây quy tụ trụ sở của nhiều tập đoàn đa quốc gia nổi tiếng như Boeing, McDonald’s, United Airlines, ...
(Xem: 59)
Thời gian trôi nhanh quá. Tôi vẫn còn nhớ như in ngày hai vợ chồng đưa con gái đi nhà trẻ tại trường Montessori khi mới hai tuổi. Như một tia chớp, hôm nay con đã tốt nghiệp đại học UC Berkeley với bằng cử nhân. Cách đây mười năm, tôi đã viết bài “Học, Học và Học” (Học, Học, Và Học - Viết Về Nước Mỹ - Việt Báo Viết Về Nước Mỹ) kể chuyện học vấn của mình. Hôm nay tôi viết bài này để kể chuyện học hành của con. Ở tiểu học, con gái tham gia đội Robotics và tôi là huấn luyện viên phụ tá, như đã kể trong bài “Niềm vui cùng con cái” (Niềm Vui Cùng Con Cái - VVNM 2025 - Việt Báo Viết Về Nước Mỹ ). Tuy phải lập trình để điều khiển con robot, con gái chỉ thích phần lái nó chứ không mặn mà với chuyện lập trình. Ngoài ra, con gái cũng ngại môn toán cho nên tôi không nghĩ con sẽ theo nghề của mình...
(Xem: 43)
Một mùa hè của những năm trước, trong chuyến thăm gia đình ở Arlington, Texas, tôi theo chị tôi đi chợ Hongkong. Đang loay hoay lựa trái mít, có một chú người Việt Nam đứng bên hàng rau quả nhìn tôi chằm chằm, rồi tiến lại phía tôi: - Cô là cô Loan, ngày xưa ở trại tỵ nạn Thailand? Tôi nhìn chú, không ngạc nhiên lắm, vì ở Mỹ hay Canada, thỉnh thoảng tôi cũng có gặp lại người tỵ nạn ngày xưa, rồi nhận ra nhau sau thời gian dài xa cách. Giống như những lần khác, khi không nhớ ra người đối diện, tôi vẫn mỉm cười: - Dạ, đúng rồi chú! Chú tên gì, ở khu nào, nhà nào? Chú nhoẻn miệng cười: - Vậy là cô không nhận ta tôi rồi! Tôi là Hiếu, ở lô E cạnh lô D của cô, có lần cô và mấy cô bạn chung nhà nhờ tôi đến bít cái ổ chuột trong góc nhà cô đó! - Ôi, con nhớ ra rồi, chú Hiếu “handy man” thường giúp đỡ bà con những chuyện “nhà cửa” trại tỵ nạn đây mà! Chú thứ lỗi cho con, lâu quá rồi, con chẳng nhớ rõ…
(Xem: 36)
Năm nay nước Mỹ mừng 250 năm ngày Độc Lập, và cũng vừa mở hội World Cup 2026 ngay trên đất Mỹ. Từ ngày 11 tháng 6 tới 19 tháng 7, cờ Mỹ treo khắp nơi, người ta hát quốc ca trước mỗi trận. Gia đình nhà chồng tôi cũng rộn ràng hai thế hệ. Cô chú em ông xã, người mua vé xem tận bên Seattle, người mua vé về Santa Clara. Các cháu cũng vậy. Vợ chồng tôi thuộc thế hệ lão niên, chỉ có ông xã tôi ngày đêm dán mắt vào tivi theo dõi từng trận. Kể cũng tội cho ông, “rượu ngon không có bạn hiền cùng uống”. Vì tôi chẳng biết gì về bóng đá, chỉ xem khi đội Mỹ ra sân, nghe dân reo hò. Thấy lá Cờ Sao Sọc bay giữa sân Levi's ở Santa Clara, sân Seattle, sân Los Angeles, tự nhiên thấy vui, thấy ấm lòng. Đất nước đã cưu mang mình, nay đứng ra đón cả thế giới.
(Xem: 43)
Mỗi năm, khi tháng Bảy trở về, lòng tôi lại gợn lên những cảm xúc thật đặc biệt. Đó không hẳn là niềm vui rộn ràng của một ngày lễ hội, cũng không hoàn toàn là nỗi hoài niệm muộn phiền của tuổi già. Nó giống như một khoảng tĩnh lặng để nhìn lại chặng đường dài đã qua, từ quê hương Việt Nam yêu dấu đến mái nhà thứ hai trên đất nước Hoa Kỳ. Tôi sinh ra tại Huế, lớn lên giữa những năm tháng đất nước còn chia đôi. Tuổi học trò của tôi trải dài từ cố đô ra Đà Nẵng rồi vào Sài Gòn. Đó là quãng thời gian đẹp nhất của tuổi trẻ, mà hôm nay mỗi khi nhớ lại, tôi vẫn như nghe thấy tiếng trống trường rộn rã, tiếng ve kêu trong vòm lá mùa hạ và cả những giấc mơ rất đỗi hồn nhiên của một thế hệ lớn lên dưới bầu trời Việt Nam Cộng Hòa. Tôi đặt chân đến Mỹ vào mùa đông năm 1998, khi đã cận kề tuổi năm mươi. Cái tuổi mà phần lớn mọi người đã an yên, ổn định cuộc sống, còn tôi lại bắt đầu một hành trình mới nơi xứ lạ quê người.
(Xem: 48)
Trưa hôm nay, Chúa Nhật (28 Tháng 6, 2026) bầu trời San Jose rực rỡ nắng hè. Nắng vàng rót xuyên khung trời trắng xuống những tán cây xanh, gió thắt dải lụa mềm phất phơ qua từng bóng giai nhân làm cho thướt tha thêm những tà áo dài Việt Nam huyền thoại. Không gian quanh Thư viện Tully rộn ràng như ngày hội. Xe cộ chạy nườm nượp như bướm lượn vào bãi đậu xe, dập dìu tài tử giai nhân, hầu hết là những “mái đầu đen” và ai nấy mặt mày đều tươi tắn. Loay hoay “rình rập” mãi tôi mới vớ được một chỗ đậu xe. Vội thay đôi giày cao gót để chiếc áo dài tha thướt không “quét đường” làm sạch bãi đậu xe của thư viện, rồi tôi bước vào bên trong. Cứ ngỡ mình là “vô địch thiên hạ”, tôi…tự khen mình đến sớm hơn giờ ghi trong thư mời của anh bạn Lê Xuân Mỹ, ai dè vào bên trong thì người ta đã ngồi đông gần kín hết hội trường. Tại bàn sách, tác giả bận rộn ký sách liền tay, người mua sách phải sắp hàng chờ đến lượt mình...
(Xem: 42)
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.