Hôm nay,  

Tình Em Pha Lê

18/09/202600:00:00(Xem: 504)
 
bo-sach-vvnm
Bộ sách VVNM
 
Thủy Lâm Synh sinh quán tại Đức Hải, Quảng Ngãi, Việt Nam. Ông vượt biển tháng Giêng 1978, sau khi tạm trú tại Singapore 3 tháng, định cư tại Chicago, IL. Ông làm chuyên viên cho Eastman Kodak 20 năm. Năm 2000 sáng lập Bán Nguyệt San Chicago Việt Báo và điều hành đến 2015 thì sang lại và về nam Cali nghỉ hưu. Thủy Lâm Synh tham dự chương trình VVNM từ tháng 12 năm 2025. Sau đây là bài viết mới của ông kể về một người con gái với tình yêu thầm lặng giữ kín trong lòng cho đến cuối cuộc đời.
 
***
 
Bà ngoại sinh đôi - má tôi và dì Vân. Má tôi ra trước dì Vân đúng 20 phút nên được làm chị. Bà ngoại đặt má tôi tên Huyền, nên có khi bà gọi một lượt:
 
- Huyền Vân đâu rồi, tới giờ đi tắm, đi ngủ, thức dậy ăn sáng, đi học...
 
Lúc nhỏ ngoại thường cho hai chị em mặc đồ giống nhau, cắt tóc giống nhau. Mà không giống cũng không được; theo bà ngoại kể lại thì má tôi sao cũng xong, ngược lại dì Vân luôn luôn đòi mặc đồ, mang màu dép cho giống má tôi; nếu không dì ấy giẫy nẫy phụng phịu, khiến nhiều người ưa đùa: "không khéo sau nầy con Vân nó đòi lấy chung chồng với chị của nó chẳng chơi."
  
Thời gian lặng lẽ trôi bên một gia đình tương đối đầm ấm. Dù bà ngoại chỉ sinh hai cô con gái rồi tịt luôn không sinh đẻ gì nữa mà ông ngoại tôi chẳng có thêm bà ngoại hai, ngoại ba nào, hoặc có mà không công khai nên chỉ có trời đất mới biết mà thôi. Láng giềng tấm tắc khen gia đình bà Thuận An có cặp gái sinh đôi ngoan hiền, nết na và hiếu học. Ngoan hiền thì không biết, nhưng hiếu học là cái chắc; cả hai chị em sau nầy đều có trong tay mảnh bằng dược sĩ.
 
Những bộ đồ đồng phục thuở ấu thơ không còn thích hợp. Năm cuối của chương trình đệ nhất cấp dì Vân và má tôi không còn cắt tóc giống nhau, những cặp sách và dụng cụ cũng dần dần khác. Hình như đến cái tuổi nào đó, các cô cậu thấy quê khi mặc đồng phục với anh chị em song sinh của mình khi ra đường. Dù vậy, nếu ai để ý sẽ thấy dì Vân cố gắng trang trí chiếc xe của dì để cho giống y chiếc xe của má.
 
Đến khi lớn lên, phòng ngủ dì Vân cũng rập khuôn như phòng ngủ má tôi; từ giường, tủ trang điểm, tranh ảnh trang trí đều giống. Má tôi mua cái gì cho phòng của bà là mấy ngày sau dì Vân cũng mua thứ đó khiến bà ngoại buột miệng:
 
- Con Vân nầy thiệt, phòng con Huyền sao, nó làm giống vậy. Hổng biết sau nầy có hai đứa con trai nào giống nhau cho hai đứa nó không!
 
Hôm nay dì Vân đã không còn, người ta bảo hồng nhan thì bạc phận cũng đúng. Dì qua đời để lại nỗi thương tiếc sâu đậm cho gia đình chúng tôi. Đặc biệt, má tôi khóc nhiều lắm; hai chị em cùng sinh ra nhưng nay đã âm dương cách biệt. Lật từng trang hình ảnh để tìm lại những dung nhan ngày cũ ai cũng thấy dì Vân không quá đẹp nhưng càng nhìn nét đẹp càng tiềm ẩn trên gương mặt hơi vuông tạo cho người đối diện một niềm cảm mến. Nét sang trọng mà bà ngoại đã không hề cố gắng lưu lại qua hình ảnh dì Vân để có những điểm trội hơn hẳn má Huyền của tôi. Gương mặt của dì Vân và má tôi hao hao giống, nhưng môi và mắt thì gần giống như diễn viên Thẩm Thúy Hằng theo lời kể. Nếu thi hoa hậu về sắc diện và vóc dáng, dì Vân dám đoạt giải lắm. Đó là chưa kể cái lịch thiệp trong ăn nói của dì đã đẩy má tôi xuống một vị trí thấp hơn.
 
Lùi lại thời gian. Mùa xuân năm 1975 trước khi chính quyền Nam Việt Nam hoàn toàn bỏ ngõ. Đó là thời gian mọi người dân phía nam vỹ tuyến sốt cả ruột gan. Thế tấn công như chẻ tre của quân đội phía bắc đã kéo bao nhiêu phần đất phía nam thuộc về họ, đến nỗi họ ngỡ ngàng vì sức chống cự yếu ớt của quân đội Miền Nam. Cái chiến thắng dễ dàng đã khiến lòng kiêu binh sau nầy của “bên thắng cuộc” giãn nở trở thành cao ngạo không cần thiết. Ngay trong những ngày định mệnh; hàng hàng, lớp lớp người có ít nhiều dính dáng đến chế độ Miền Nam sợ hãi bỏ nước ra đi. Ông ngoại tôi là giám đốc Ngân Hàng Phát Triển Nông Thôn nên cũng theo tàu ra đi. Chiếc tàu quảng đại Việt Nam Thương Tín đưa hàng ngàn người vượt biển Đông, tương lai là gì chưa ai định được. Chỉ biết xót ra khi rời xa tổ quốc, rời xa mảnh đất, mái nhà suốt đời gắn bó.
 
Cả nhà ngoại tôi di dân sang Mỹ năm 1975. Con đường dài hạn của cặp sinh đôi lặng lẽ theo thời gian trôi mau trên xứ người như bao gia đình người Việt di tản khác. Bước đường học vấn của dì Vân và cả má tôi cứ song hành như một cặp bài trùng. Môn nào hai người cũng ngang ngửa nhau. Chỉ có một điều khác là má tôi có vài mối tình, mà dì Vân thì hình như chẳng cặp với ai. Sau khi cả dì Vân và má tôi xong chương trình hậu đại học. Cả hai đều là dược sĩ; má tôi làm trong Walmart và làm đám cưới với ba tôi. Dì Vân có ngay công việc trong một đại dược phòng Johnson & Johnson. Hai năm sau dì Vân trở thành một viên chức quản trị có mười tám nhân viên toàn dược sĩ và cán sự trong nhà thuốc. Con đường hoạn lộ thênh thang như thế, mà đường tình của dì Vân hình như ngắn ngủi.
 
Chủ nghĩa độc thân mà dì Vân tôn thờ vẫn còn hấp dẫn để dì thoải mái và yêu đời. Dì Vân sắp xếp thời gian thật khéo, giờ nào chơi thể thao, thể dục cho thân thể, giờ nào ngồi tĩnh lặng cho tâm đều không chểnh mảng. Đã gần ba mươi tuổi mà chưa thấy dì Vân dắt bạn trai về giới thiệu cùng gia đình. Trong khi đó má tôi đã sinh thằng cu đầu lòng, đó chính là tôi. Bà ngoại kể lại trong bữa tiệc sinh nhật bốn tuổi của tôi có đông đủ mọi người, bà ngoại nhìn dì Vân thốt:
 
- Mầy định ở vậy không lấy chồng sao Vân?
 
Dì Vân cười đáp:
 
- Con đã nói với má là 'Có một lời thề' con phải giữ.
 
Má tôi xen vào:
 
- Con nầy, lời thề gì mà ràng buộc đến nỗi không lấy chồng?
 
Mặt dì Vân tiu nghỉu, đôi mắt như rưng rưng muốn khóc, dì hạ thấp giọng:
 
- Em đã trót yêu một người, mà người ấy đã có gia đình.
 
Má tôi bĩu môi.
 
- Tưởng gì! Nó có vợ thì mình lấy người khác.
 
- Em thấy không đơn giản chút nào. Hình bóng anh ta lúc nào cũng ở trong em.
 
Nói xong dì Vân quay mặt đi nơi khác để giấu che nỗi khổ tâm. Má tôi rời chỗ ngồi, qua bên phía dì Vân đang nhìn, hai tay đặt trên vai dì Vân, nhìn thẳng vào mắt của dì, bà dõng dạc:
 
- Nó có yêu vợ nó không?
 
- Làm sao em biết!
 
- Hỏi trực tiếp nó, dì không hỏi để tui hỏi cho.
 
Dì Vân gục đầu vào chị, khóc nức nở:
 
- Không, không thể nào.
 
Dì Vân vụt chạy vào nhà cầu, má tôi chạy theo nhưng cửa đã khóa.
 
Buổi tiệc sinh nhật dù vui dù buồn thì rồi cũng tàn. Dì Vân và ngoại tôi đã về nhà, khách khứa cũng tản mát cả. Má tôi ra bàn ăn, nơi ba tôi đang loay hoay dọn vài cái tách cà phê của mấy người bạn vừa bước chân ra. Má tôi nói với ba tôi:
 
- Anh, con Vân nó có một nỗi buồn.
 
- Dì ấy buồn việc gì?
 
- Nó nói nó thương một người, mà người đó đã có vợ.
 
- Dì có nói thương ai không?
 
- Không, nó chỉ khóc thôi.
 
Nghe thế ba tôi quay mặt ra cửa sổ, ông nói bâng quơ:
 
- Ở đời nhiều khi có những nghiệt ngã, đôi khi chúng ta đành chấp nhận mà không sao biện bạch.
- Anh nói gì em không hiểu – má tôi hỏi lại.
- Anh nói có thể dì Vân có một hoài bão hay là lý tưởng nào đó.
- Em nghĩ dì ấy quá yêu một người, dì đã sống mù quáng mà cứ cho là cao thượng. Thời buổi nầy, ta phải thực tế một chút, tội gì ta phải tù đày trong nỗi dằn vặt triền miên như thế.
- Thôi, chuyện của dì để dì ấy tự lo, mình có phải là dì dâu mà biết.
- Nhưng dì là em mình!
- Em thì em nhưng dì đâu còn là trẻ con.
- Nhưng khi yêu dì mù quáng. Em nói với dì là người ta có vợ thì mình lấy người khác. Dì chỉ khóc thôi, em thấy chúng ta cần có bổn phận.
- Ừ thì em làm sao đó làm, anh có giúp gì chuyện đàn bà với nhau. Nhưng anh mong em đừng nhìn người khác qua lăng kính tư tưởng của mình.
 
Để ngưng câu chuyện, ba tôi mang mấy tách uống cà phê xuống bồn rửa chén. Nơi đó ông đứng lặng lẽ rửa, ý nghĩ đã qua tuôn về: “Anh có thằng bạn đồng nghiệp, nó là kỹ sư phòng nghiên cứu, cũng làm chung hãng Boeing với anh. Nếu dì chịu thì anh sẽ làm mai cho dì.” Dì Vân nhìn sâu vào mắt ba tôi khiến ông lúng túng ngó chỗ khác. Sau đó dì mím đôi môi, có chút dỗi hờn. Dì Vân cố gắng nở nụ cười một cách gượng gạo. Kể từ đấy ba không hề nhắc đến ý kiến làm mai, làm mối gì nữa.
 
Có thể do công việc làm, dì Vân chuyển qua tiểu bang khác. Bà ngoại tình nguyện dọn theo ở với dì, có mẹ có con cho vui. Dì Vân bán ngôi nhà xinh xắn ở Seattle để chuyển về Border Colorado. Thi thoảng dì Vân gọi về thăm gia đình chúng tôi. Năm ngoái má tôi và dì Vân tròn bốn mươi tuổi. Một buổi tiệc sinh nhật được tổ chức chung tại nhà chúng tôi. Dì Vân và bà ngoại bay về lại Seattle trước đó một ngày.
 
Trong buổi tiệc nầy, ai nấy đều ngạc nhiên vì sắc diện của dì Vân xuống một cách thê thảm; những đốm đỏ nổi lên và nhìn dì có vẻ mệt mỏi. Má tôi lo lắng hỏi ngoại:
- Dì Vân đau sao mà lúc nầy trông tiều tụy quá vậy hả mẹ.
 
Ngoại đau buồn trả lời:
 
- Ừ nó đang mắc chứng gì tao cũng không rõ, nhưng nghe nó nói có vẻ bi quan lắm.
 
Má tôi ái ngại đến hỏi trực tiếp dì Vân:
 
- Chị thấy hình như dì đang có bệnh gì phải không, chạy chữa ra sao?
 
Dì Vân uể oải trả lời:
 
- Bác sĩ mới phát hiện em đã bị ung thư máu.
Má tôi há mồm than:
 
- Dì đang chữa thuốc gì?
 
- Loại thuốc đặc biệt do bác sĩ chuyên môn cho, nhưng hình như vô phương bởi ở thời kỳ cuối.
 
Dòng nước mắt lăn dài trên mặt má:
 
- Ơ! Tại sao lại vô phương, mình đang ngồi trên đống thuốc mà.
 
Giọng dì Vân chùng xuống:
 
- Em cũng chẳng biết, có lẽ em không sống được lâu!
 
Má tôi mím chặt môi, ôm lấy đứa em sinh cùng ngày, cùng tháng khóc nứt nở. Vòng tay thâm tình ghì chặt nhau không muốn dứt ra.
 
Sau buổi sinh nhật không lấy gì vui vẻ đó, bà ngoại và dì Vân về lại Colorado. Dì Vân vẫn thuốc men đều đặn nhưng mẫu tin ngoại tôi gọi qua một tháng sau đó làm cả nhà choáng váng. Bà ngoại cho biết dì Vân đang vào cấp cứu tại bệnh viện Denver University Hospital trong tình trạng nguy kịch.
 
Trên chuyến bay Southwest Airline 213, ba má tôi ngồi lặng lẽ, không nói chuyện nhau nhiều. Hình như cái chết của dì Vân sẽ đến là điều chắc chắn không tránh khỏi. Quả nhiên khi gia đình tôi qua đến nơi, bà ngoại đã bù lu, bù loa:
- Em của tụi con chắc không sao chạy khỏi con số bốn mươi mốt.
 
Nói vừa dứt câu, bà ngoại òa lên khóc, tiếp theo trong nỗi uất nghẹn:
 
- Tôi già rồi, trời phật không để tôi chết thế cho con tôi, hu.hu...
 
Đến ôm vai ngoại, má tôi nức nở:
 
- Tiếc quá, tiếc quá, dì đã vội ra đi.
 
Nước mắt chảy đầy hai má, mắt của ngoại và má tôi đỏ ngầu. Ba tôi ngồi ở bàn ăn lặng lẽ, hai tay ông đan vào nhau chống dưới cằm.
 
*
 
Theo lời căn dặn của dì Vân trước khi mất. Ngoại sẽ ở lại Denver để lo làm thất, sau bốn chín ngày, ngoại đem tro về Seattle. Ngoại tôi đã được luật sư cho xem các di chúc và các giấy tờ liên hệ đến tài sản dì Vân để lại. Tất cả tài sản kể cả trương mục ngân hàng và bảo hiểm nhân thọ, sẽ chia ba: Một cho ngoại, một cho gia đình chúng tôi, một cho Hội Nghiên Cứu Ung Thư Máu Hoa Kỳ. Sau đó ông Allen Olive - luật sư tìm gặp riêng ba tôi, mở cặp ông lấy một phong bì dán kín, ông được dì Vân dặn là chỉ trao thư cho một mình ba tôi-Mr. Hoàng Thanh Vũ mà thôi.
 
Sau nhiều đêm suy nghĩ, ba tôi quyết định bóc thư ra xem:
 
"Anh Vũ, em không muốn chị Huyền của em buồn và khó chịu mỗi khi nhìn di ảnh của em. Hai mươi năm trôi qua là hai mươi năm em sống trong âm thầm chịu đựng. Tại sao anh lại cưới chị Huyền của em, mà không là người nào khác. Em đã yêu anh một cách điên dại, yêu như một đứa trẻ yêu tha thiết một món đồ chơi không bao giờ rời được. Do những nghĩ suy trường chinh ấy đã dẫn đến suy nhược huyết cầu như sự phân tích của nhiều bác sĩ chuyên khoa.
 
Anh! Cho đến khi em còn đủ sức viết những dòng nầy, em cũng chưa bao giờ có một lời trách hờn anh. Thực tình, em cố xua đuổi hình bóng của anh ra khỏi tâm trí của em vì cho đó như là một lỗi lầm. Nhưng lý lẽ của con tim vẫn là những gì khó giải thích. Càng xua đuổi nó càng hiển hiện. Những ngày cuối cuộc đời tại bệnh viện, em ước ao được một lần nắm lấy bàn tay anh, nhìn thẳng vào mắt anh nhưng dường như những thứ ấy đối với em rất xa xỉ khó thực hiện. Em chỉ có đủ thì giờ căn dặn luật sư trao thư nầy cho anh và em mong anh thực hiện cho việc nầy: Tro cốt của em sau khi hỏa táng, anh mang về Seattle rải chung quanh vườn nhà của anh, để cho em được gần mẹ, gần chị Huyền, gần hai cháu Toàn, Thu và… được gần anh.”
 
Đọc xong thư viết tay nguệch ngoạc của Vân, tim người nhận thắt lại. Ba tôi đấm tay lên mặt bàn đau khổ. Một mối tình trắng như pha lê.
 
Đó là những gì ba tôi đã kể về dì Vân cho tôi nghe, nhân dịp tôi về nghỉ Spring Break năm 2012.
 
Thủy Lâm Synh
  

Bà Phương ngắm nghía những đòn bánh tét mới vớt ra trong nồi đầy thích thú. Nó nhỏ bằng nắm tay, trông xinh xắn làm sao. “Vậy là mình yên tâm phần nào rồi, vì hai hôm nay đã gói được bánh ít đen, bánh lọc, bánh tét và làm chả chay xong.” Bà vừa dọn dẹp các thứ vừa nhìn đồng hồ điểm 2 giờ sáng - mau lẹ ngủ thôi, mai còn dậy sớm đi thăm đám nữa. Tháng Tám của những ngày cuối hạ, cái nóng bứt rứt người. Bà ghé chở bà Minh cùng đến nhà quàn thắp nén hương đưa tiễn người đi. Sau đó bà muốn ghé chợ mua thức ăn. “Mai có đám giỗ mẹ chồng, hôm qua đã mua chợ gần nhà một xe rồi, vẫn chưa đủ.” Bà vừa nói với bạn vừa mở Google tìm chợ nào gần nhất vùng San Jose. Hai bà chọn chợ Đại Thành.
(Xem: 45)
Bolsa đây là tên một con đường ở Little Sài Gòn, nhưng từ lâu đã được xem như là tên của một khu vực, một nơi chốn mà chúng ta thường gọi là “thủ đô tỵ nạn”, tiêu biểu của Quận Cam-Orange County. Có lẽ vì đại lộ Bolsa huyết mạch nơi tập trung nhiều quán xá, cửa hiệu, văn phòng, trung tâm sinh hoạt của cộng đồng người Việt. Chỉ cần nói “Bolsa” là chúng ta, đều hiểu nói về khu vực của cộng đồng người Việt tự do ở Orange County. Tôi nghĩ rằng, Bolsa-Cali không chỉ là nơi đến ưa thích của tôi mà của rất nhiều người Việt hải ngoại, dù họ ở các tiểu bang khác trên đất Mỹ hoặc ở các nước khác ngoài nước Mỹ, nhưng ít nhiều ai cũng "dính líu" tới Bolsa: có người thân, người quen, từng là nơi họ đến hội họp trường cũ, đồng hương xưa… và nhiều lý do khác. Về Bolsa-Cali như là tìm về "quê hương".
(Xem: 44)
Bà Sue là người bạn Mỹ đầu tiên và cũng là gia đình người bạn Mỹ thân nhất với gia đình chúng tôi từ nhiều năm qua. Bà gặp con trai tôi ở trường trung học khi bà là người quản thủ thư viện ở đó. Bà hiểu những khó khăn của những đứa trẻ châu Á khi mới sang Mỹ và giúp đỡ con trai tôi rồi sau này cũng chính bà giúp tôi học tiếng Anh và chuẩn bị kỳ thi vào quốc tịch cho tôi. Bà nhờ chồng mình là ông Robert và 1 người hàng xóm thực tập phỏng vấn tôi để tôi có được trải nghiệm về chất giọng khác nhau của người Mỹ và bà cho tôi thực tập như một buổi phỏng vấn quốc tịch thật để tôi thêm tự tin trong ngày phỏng vấn thật. Bà muốn tôi phải tập nghe nhiều giọng nói, cách phát âm của nhiều người để không phải bối rối và phân tâm hay lo sợ. Nhờ vậy, lúc vào phỏng vấn quốc tịch, tôi đã vô cùng tự tin và đậu ngay lần đầu.
(Xem: 74)
Năm nay mùa An Cư Kiết Hạ ở chùa Quang Minh, thành phố Chicago được tổ chức từ ngày 09/06/2026 đến ngày 19/06/2026 tức là từ ngày 24 tháng tư đến ngày 5 tháng năm, Bính Ngọ. Tôi được thầy chủ trì mời tham dự sự kiện tâm linh quan trọng và nhiều ý nghĩa của Phật Giáo là một vinh dự quý báu kể từ ngày tôi định cư ở Mỹ đến giờ. An Cư Kiết Hạ là một thuật ngữ Phật Giáo có nghĩa là ở yên một chỗ (tiếng Phạn là Varsika, tiếng Anh là Retreat Season) trong ba tháng Hạ theo truyền thống Phật Giáo Đại Thừa, mỗi năm đều có ba tháng an cư cho Tăng, Ni kể từ rằm tháng Tư đến rằm tháng Bảy. Tại sao lại là rằm tháng Tư? Vì ở Ấn Độ, Việt Nam, Trung Hoa và một số nước Đông Nam Á, tháng Tư là tháng bắt đầu mùa mưa và mưa rất nhiều. Vào tháng này cây cối bắt đầu chu kỳ đâm chồi, nẩy lộc, các loài côn trùng, bò sát cũng sinh sôi nẩy nở và bò ra đường rất nhiều. Các chư Tăng Ni cũng như dân chúng trong sinh hoạt hằng ngày đi đây đi đó khó tránh khỏi giẫm đạp lên chúng.
(Xem: 28)
Trương Hữu Hiền, sinh năm 1958, quê quán Quảng Nam. Năm 1980, vượt biển và được tàu cứu vớt đưa đến trại tị nạn Okinawa, Nhật Bản. Từ 1983 đến 2000 sống ở Tokyo. Năm 2000 cùng gia đình chuyển sang sống ở Boston, Massachusetts (Hoa Kỳ). Hiện làm việc tại trung tâm phục hồi chức năng cho người bị chấn thương não. Tác giả tham dự chương trình VVNM từ tháng 12/2025. Bài viết kỳ này là câu chuyện cảm động về tấm lòng tử tế của vợ chồng Tiến sĩ Robert H. Spaethling, những người bạn thân thiết một thuở của gia đình tác giả.
(Xem: 51)
Vậy là đã mười năm kể từ khi tôi đi du lịch châu Âu lần đầu tiên. Tôi đã kể chuyến du lịch ấy vào năm 2016 qua một bài viết (Từ Mỹ Đi Một Vòng Âu Châu - Viết Về Nước Mỹ - Việt Báo Viết Về Nước Mỹ) rất dài trên mục Viết Về Nước Mỹ. Lần đó, gia đình chúng tôi du lịch bằng du thuyền (cruise) chỉ trong vòng mười ngày. Vì phần lớn thời gian ở trên du thuyền, chúng tôi ít có dịp tiếp xúc và cảm nghiệm cuộc sống của người dân địa phương tại các nơi chúng tôi tới thăm. Lần này, chúng tôi du lịch bằng chủ yếu là xe lửa và chuyến đi dài những năm tuần, chúng tôi có nhiều dịp tiếp xúc và hòa mình vào cuộc sống của người dân bản địa hơn. Vì là chuyến đi tự túc, tôi phải tốn rất nhiều thời giờ để đặt phòng khách sạn, mua vé xe lửa, mua vé vào các nơi du lịch, lên kế hoạch tham quan, ăn uống. Cũng may là bây giờ có internet nên việc đặt phòng rất tiện lợi.
(Xem: 35)
Hôm nay là ngày giỗ thứ 41 của chồng tôi – ngày anh vĩnh viễn rời xa cõi đời, để lại bốn mẹ con tôi bơ vơ giữa cuộc sống nơi xứ người với nỗi nhớ thương chưa bao giờ nguôi. Ngày anh ra đi, tóc tôi còn xanh, các con mới vừa 11, 13 và 15 tuổi. Thấm thoắt đã hơn bốn mươi năm. Nay tóc tôi đã bạc, còn các con đã bước sang tuổi 52, 54 và 56; tất cả đều trưởng thành, lập gia đình, có con cái và đã tạo dựng được cuộc sống, sự nghiệp riêng. Dù cuộc đời có bao đổi thay, dù mỗi người ở một nơi, bận rộn với công việc và gia đình, nhưng cứ đến ngày 30 tháng 7 hằng năm, mẹ con chúng tôi luôn cố gắng thu xếp để được về bên nhau, khi thì tại nhà tôi, khi thì tại nhà các con, cùng làm bữa cơm giỗ Bố với những món ăn mà lúc sinh thời Bố yêu thích. Thường thì sau khi bày biện bàn thờ, mẹ con và các cháu cùng thắp hương, kính cẩn đứng trước di ảnh Bố, cầu nguyện cho Bố được thanh thản nơi cõi vĩnh hằng và xin Bố phù hộ cho con cháu luôn mạnh khỏe, bình an, hạnh phúc, may mắn và thành công trong học hành
(Xem: 52)
Chúng ta vừa nhận được tin buồn - Biển Cát, một tác giả Viết Về Nước Mỹ được nhiều người yêu mến, đã từ trần. Tác giả Lê Xuân Mỹ đã viết vội những dòng văn đầy cảm xúc sau đây, như nén hương lòng tiễn biệt chị, Mong chị nhẹ nhàng đi vào miền bình yên, như màu vàng của dã quỳ tan vào trong gió. Tôi thật sự không biết phải bắt đầu những dòng này như thế nào, bởi tin chị Biển Cát đột ngột qua đời đến với tôi quá bất ngờ. Mới hôm qua thôi, tôi còn nhìn thấy bài viết mới nhất của chị đăng trên báo, bài “Màu vàng của gió”. Tôi không thể ngờ rằng đó lại là những dòng chữ cuối cùng của chị mà tôi được đọc khi chị còn hiện diện trên cõi đời này. Bài viết mở đầu bằng những câu thơ thật đẹp, thật buồn: “Ở lại nhé anh Đồi dã quỳ dập dờn vàng màu gió Tan vào hư không Tuổi mười tám rạng ngời…”
(Xem: 33)
Mùa đông ở vùng ngoại ô Virginia không có khái niệm về sự dịu dàng. Nó là một khối xám xịt của bầu trời mọng nước, chuẩn bị đổ xuống những cơn mưa tuyết mù mịt. Trong căn bếp nhỏ của gia đình, bà Liên ngồi bên bậu cửa sổ, nhìn ra hàng rào sắt đang đóng một lớp băng mỏng. Bà đã sống ở đây gần năm mươi năm, nhưng dường như tâm hồn bà chưa bao giờ thực sự đi qua khỏi cửa sân bay. Bà sống trong một "ốc đảo" của riêng mình. Trong căn bếp đó, mùi nước mắm kho cá luôn đánh vật với mùi lavender từ chiếc máy xịt phòng tự động mà chị Hai gắn trên tường. Trên tivi, những bản tin tiếng Anh của đài CNN trôi qua tai bà như tiếng gió hú ngoài khe cửa.
(Xem: 41)
Ông Tư ngồi trên chiếc ghế đan bằng những sợi dây Plastic màu nâu, nhâm nhi ly cà phê ông vừa pha xong trong chiếc máy tự động. Bây giờ ông yếu lắm, căn bệnh viêm thận của ông đã kéo dài mấy năm nay, dẫn đến việc ông phải lọc máu, cộng với cái đầu gối của ông bị “arthrose” (thoái hóa khớp), mỗi lần bước đau lắm, nên ông ngồi nhiều hơn đi. Nhìn ra khu vườn sau nhà, gần chân tường, cây bưởi, cây quýt, xanh mướt nhờ những cơn mưa trái mùa. Cây mận, cây đào rụng hết lá, trơ cành khẳng khiu như đang chờ đông tới. Hồi ông mới mua nhà cây cối cũng một thời thanh xuân với ông, nhưng theo ngày tháng bây giờ cũng già cỗi như đồng hành với tuổi tám mươi của ông. Ngồi nghĩ lại cuộc đời mà tiếc nuối quá khứ.
(Xem: 51)
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.