Hôm nay,  

Tình Em Pha Lê

18/09/202600:00:00(Xem: 496)
 
bo-sach-vvnm
Bộ sách VVNM
 
Thủy Lâm Synh sinh quán tại Đức Hải, Quảng Ngãi, Việt Nam. Ông vượt biển tháng Giêng 1978, sau khi tạm trú tại Singapore 3 tháng, định cư tại Chicago, IL. Ông làm chuyên viên cho Eastman Kodak 20 năm. Năm 2000 sáng lập Bán Nguyệt San Chicago Việt Báo và điều hành đến 2015 thì sang lại và về nam Cali nghỉ hưu. Thủy Lâm Synh tham dự chương trình VVNM từ tháng 12 năm 2025. Sau đây là bài viết mới của ông kể về một người con gái với tình yêu thầm lặng giữ kín trong lòng cho đến cuối cuộc đời.
 
***
 
Bà ngoại sinh đôi - má tôi và dì Vân. Má tôi ra trước dì Vân đúng 20 phút nên được làm chị. Bà ngoại đặt má tôi tên Huyền, nên có khi bà gọi một lượt:
 
- Huyền Vân đâu rồi, tới giờ đi tắm, đi ngủ, thức dậy ăn sáng, đi học...
 
Lúc nhỏ ngoại thường cho hai chị em mặc đồ giống nhau, cắt tóc giống nhau. Mà không giống cũng không được; theo bà ngoại kể lại thì má tôi sao cũng xong, ngược lại dì Vân luôn luôn đòi mặc đồ, mang màu dép cho giống má tôi; nếu không dì ấy giẫy nẫy phụng phịu, khiến nhiều người ưa đùa: "không khéo sau nầy con Vân nó đòi lấy chung chồng với chị của nó chẳng chơi."
  
Thời gian lặng lẽ trôi bên một gia đình tương đối đầm ấm. Dù bà ngoại chỉ sinh hai cô con gái rồi tịt luôn không sinh đẻ gì nữa mà ông ngoại tôi chẳng có thêm bà ngoại hai, ngoại ba nào, hoặc có mà không công khai nên chỉ có trời đất mới biết mà thôi. Láng giềng tấm tắc khen gia đình bà Thuận An có cặp gái sinh đôi ngoan hiền, nết na và hiếu học. Ngoan hiền thì không biết, nhưng hiếu học là cái chắc; cả hai chị em sau nầy đều có trong tay mảnh bằng dược sĩ.
 
Những bộ đồ đồng phục thuở ấu thơ không còn thích hợp. Năm cuối của chương trình đệ nhất cấp dì Vân và má tôi không còn cắt tóc giống nhau, những cặp sách và dụng cụ cũng dần dần khác. Hình như đến cái tuổi nào đó, các cô cậu thấy quê khi mặc đồng phục với anh chị em song sinh của mình khi ra đường. Dù vậy, nếu ai để ý sẽ thấy dì Vân cố gắng trang trí chiếc xe của dì để cho giống y chiếc xe của má.
 
Đến khi lớn lên, phòng ngủ dì Vân cũng rập khuôn như phòng ngủ má tôi; từ giường, tủ trang điểm, tranh ảnh trang trí đều giống. Má tôi mua cái gì cho phòng của bà là mấy ngày sau dì Vân cũng mua thứ đó khiến bà ngoại buột miệng:
 
- Con Vân nầy thiệt, phòng con Huyền sao, nó làm giống vậy. Hổng biết sau nầy có hai đứa con trai nào giống nhau cho hai đứa nó không!
 
Hôm nay dì Vân đã không còn, người ta bảo hồng nhan thì bạc phận cũng đúng. Dì qua đời để lại nỗi thương tiếc sâu đậm cho gia đình chúng tôi. Đặc biệt, má tôi khóc nhiều lắm; hai chị em cùng sinh ra nhưng nay đã âm dương cách biệt. Lật từng trang hình ảnh để tìm lại những dung nhan ngày cũ ai cũng thấy dì Vân không quá đẹp nhưng càng nhìn nét đẹp càng tiềm ẩn trên gương mặt hơi vuông tạo cho người đối diện một niềm cảm mến. Nét sang trọng mà bà ngoại đã không hề cố gắng lưu lại qua hình ảnh dì Vân để có những điểm trội hơn hẳn má Huyền của tôi. Gương mặt của dì Vân và má tôi hao hao giống, nhưng môi và mắt thì gần giống như diễn viên Thẩm Thúy Hằng theo lời kể. Nếu thi hoa hậu về sắc diện và vóc dáng, dì Vân dám đoạt giải lắm. Đó là chưa kể cái lịch thiệp trong ăn nói của dì đã đẩy má tôi xuống một vị trí thấp hơn.
 
Lùi lại thời gian. Mùa xuân năm 1975 trước khi chính quyền Nam Việt Nam hoàn toàn bỏ ngõ. Đó là thời gian mọi người dân phía nam vỹ tuyến sốt cả ruột gan. Thế tấn công như chẻ tre của quân đội phía bắc đã kéo bao nhiêu phần đất phía nam thuộc về họ, đến nỗi họ ngỡ ngàng vì sức chống cự yếu ớt của quân đội Miền Nam. Cái chiến thắng dễ dàng đã khiến lòng kiêu binh sau nầy của “bên thắng cuộc” giãn nở trở thành cao ngạo không cần thiết. Ngay trong những ngày định mệnh; hàng hàng, lớp lớp người có ít nhiều dính dáng đến chế độ Miền Nam sợ hãi bỏ nước ra đi. Ông ngoại tôi là giám đốc Ngân Hàng Phát Triển Nông Thôn nên cũng theo tàu ra đi. Chiếc tàu quảng đại Việt Nam Thương Tín đưa hàng ngàn người vượt biển Đông, tương lai là gì chưa ai định được. Chỉ biết xót ra khi rời xa tổ quốc, rời xa mảnh đất, mái nhà suốt đời gắn bó.
 
Cả nhà ngoại tôi di dân sang Mỹ năm 1975. Con đường dài hạn của cặp sinh đôi lặng lẽ theo thời gian trôi mau trên xứ người như bao gia đình người Việt di tản khác. Bước đường học vấn của dì Vân và cả má tôi cứ song hành như một cặp bài trùng. Môn nào hai người cũng ngang ngửa nhau. Chỉ có một điều khác là má tôi có vài mối tình, mà dì Vân thì hình như chẳng cặp với ai. Sau khi cả dì Vân và má tôi xong chương trình hậu đại học. Cả hai đều là dược sĩ; má tôi làm trong Walmart và làm đám cưới với ba tôi. Dì Vân có ngay công việc trong một đại dược phòng Johnson & Johnson. Hai năm sau dì Vân trở thành một viên chức quản trị có mười tám nhân viên toàn dược sĩ và cán sự trong nhà thuốc. Con đường hoạn lộ thênh thang như thế, mà đường tình của dì Vân hình như ngắn ngủi.
 
Chủ nghĩa độc thân mà dì Vân tôn thờ vẫn còn hấp dẫn để dì thoải mái và yêu đời. Dì Vân sắp xếp thời gian thật khéo, giờ nào chơi thể thao, thể dục cho thân thể, giờ nào ngồi tĩnh lặng cho tâm đều không chểnh mảng. Đã gần ba mươi tuổi mà chưa thấy dì Vân dắt bạn trai về giới thiệu cùng gia đình. Trong khi đó má tôi đã sinh thằng cu đầu lòng, đó chính là tôi. Bà ngoại kể lại trong bữa tiệc sinh nhật bốn tuổi của tôi có đông đủ mọi người, bà ngoại nhìn dì Vân thốt:
 
- Mầy định ở vậy không lấy chồng sao Vân?
 
Dì Vân cười đáp:
 
- Con đã nói với má là 'Có một lời thề' con phải giữ.
 
Má tôi xen vào:
 
- Con nầy, lời thề gì mà ràng buộc đến nỗi không lấy chồng?
 
Mặt dì Vân tiu nghỉu, đôi mắt như rưng rưng muốn khóc, dì hạ thấp giọng:
 
- Em đã trót yêu một người, mà người ấy đã có gia đình.
 
Má tôi bĩu môi.
 
- Tưởng gì! Nó có vợ thì mình lấy người khác.
 
- Em thấy không đơn giản chút nào. Hình bóng anh ta lúc nào cũng ở trong em.
 
Nói xong dì Vân quay mặt đi nơi khác để giấu che nỗi khổ tâm. Má tôi rời chỗ ngồi, qua bên phía dì Vân đang nhìn, hai tay đặt trên vai dì Vân, nhìn thẳng vào mắt của dì, bà dõng dạc:
 
- Nó có yêu vợ nó không?
 
- Làm sao em biết!
 
- Hỏi trực tiếp nó, dì không hỏi để tui hỏi cho.
 
Dì Vân gục đầu vào chị, khóc nức nở:
 
- Không, không thể nào.
 
Dì Vân vụt chạy vào nhà cầu, má tôi chạy theo nhưng cửa đã khóa.
 
Buổi tiệc sinh nhật dù vui dù buồn thì rồi cũng tàn. Dì Vân và ngoại tôi đã về nhà, khách khứa cũng tản mát cả. Má tôi ra bàn ăn, nơi ba tôi đang loay hoay dọn vài cái tách cà phê của mấy người bạn vừa bước chân ra. Má tôi nói với ba tôi:
 
- Anh, con Vân nó có một nỗi buồn.
 
- Dì ấy buồn việc gì?
 
- Nó nói nó thương một người, mà người đó đã có vợ.
 
- Dì có nói thương ai không?
 
- Không, nó chỉ khóc thôi.
 
Nghe thế ba tôi quay mặt ra cửa sổ, ông nói bâng quơ:
 
- Ở đời nhiều khi có những nghiệt ngã, đôi khi chúng ta đành chấp nhận mà không sao biện bạch.
- Anh nói gì em không hiểu – má tôi hỏi lại.
- Anh nói có thể dì Vân có một hoài bão hay là lý tưởng nào đó.
- Em nghĩ dì ấy quá yêu một người, dì đã sống mù quáng mà cứ cho là cao thượng. Thời buổi nầy, ta phải thực tế một chút, tội gì ta phải tù đày trong nỗi dằn vặt triền miên như thế.
- Thôi, chuyện của dì để dì ấy tự lo, mình có phải là dì dâu mà biết.
- Nhưng dì là em mình!
- Em thì em nhưng dì đâu còn là trẻ con.
- Nhưng khi yêu dì mù quáng. Em nói với dì là người ta có vợ thì mình lấy người khác. Dì chỉ khóc thôi, em thấy chúng ta cần có bổn phận.
- Ừ thì em làm sao đó làm, anh có giúp gì chuyện đàn bà với nhau. Nhưng anh mong em đừng nhìn người khác qua lăng kính tư tưởng của mình.
 
Để ngưng câu chuyện, ba tôi mang mấy tách uống cà phê xuống bồn rửa chén. Nơi đó ông đứng lặng lẽ rửa, ý nghĩ đã qua tuôn về: “Anh có thằng bạn đồng nghiệp, nó là kỹ sư phòng nghiên cứu, cũng làm chung hãng Boeing với anh. Nếu dì chịu thì anh sẽ làm mai cho dì.” Dì Vân nhìn sâu vào mắt ba tôi khiến ông lúng túng ngó chỗ khác. Sau đó dì mím đôi môi, có chút dỗi hờn. Dì Vân cố gắng nở nụ cười một cách gượng gạo. Kể từ đấy ba không hề nhắc đến ý kiến làm mai, làm mối gì nữa.
 
Có thể do công việc làm, dì Vân chuyển qua tiểu bang khác. Bà ngoại tình nguyện dọn theo ở với dì, có mẹ có con cho vui. Dì Vân bán ngôi nhà xinh xắn ở Seattle để chuyển về Border Colorado. Thi thoảng dì Vân gọi về thăm gia đình chúng tôi. Năm ngoái má tôi và dì Vân tròn bốn mươi tuổi. Một buổi tiệc sinh nhật được tổ chức chung tại nhà chúng tôi. Dì Vân và bà ngoại bay về lại Seattle trước đó một ngày.
 
Trong buổi tiệc nầy, ai nấy đều ngạc nhiên vì sắc diện của dì Vân xuống một cách thê thảm; những đốm đỏ nổi lên và nhìn dì có vẻ mệt mỏi. Má tôi lo lắng hỏi ngoại:
- Dì Vân đau sao mà lúc nầy trông tiều tụy quá vậy hả mẹ.
 
Ngoại đau buồn trả lời:
 
- Ừ nó đang mắc chứng gì tao cũng không rõ, nhưng nghe nó nói có vẻ bi quan lắm.
 
Má tôi ái ngại đến hỏi trực tiếp dì Vân:
 
- Chị thấy hình như dì đang có bệnh gì phải không, chạy chữa ra sao?
 
Dì Vân uể oải trả lời:
 
- Bác sĩ mới phát hiện em đã bị ung thư máu.
Má tôi há mồm than:
 
- Dì đang chữa thuốc gì?
 
- Loại thuốc đặc biệt do bác sĩ chuyên môn cho, nhưng hình như vô phương bởi ở thời kỳ cuối.
 
Dòng nước mắt lăn dài trên mặt má:
 
- Ơ! Tại sao lại vô phương, mình đang ngồi trên đống thuốc mà.
 
Giọng dì Vân chùng xuống:
 
- Em cũng chẳng biết, có lẽ em không sống được lâu!
 
Má tôi mím chặt môi, ôm lấy đứa em sinh cùng ngày, cùng tháng khóc nứt nở. Vòng tay thâm tình ghì chặt nhau không muốn dứt ra.
 
Sau buổi sinh nhật không lấy gì vui vẻ đó, bà ngoại và dì Vân về lại Colorado. Dì Vân vẫn thuốc men đều đặn nhưng mẫu tin ngoại tôi gọi qua một tháng sau đó làm cả nhà choáng váng. Bà ngoại cho biết dì Vân đang vào cấp cứu tại bệnh viện Denver University Hospital trong tình trạng nguy kịch.
 
Trên chuyến bay Southwest Airline 213, ba má tôi ngồi lặng lẽ, không nói chuyện nhau nhiều. Hình như cái chết của dì Vân sẽ đến là điều chắc chắn không tránh khỏi. Quả nhiên khi gia đình tôi qua đến nơi, bà ngoại đã bù lu, bù loa:
- Em của tụi con chắc không sao chạy khỏi con số bốn mươi mốt.
 
Nói vừa dứt câu, bà ngoại òa lên khóc, tiếp theo trong nỗi uất nghẹn:
 
- Tôi già rồi, trời phật không để tôi chết thế cho con tôi, hu.hu...
 
Đến ôm vai ngoại, má tôi nức nở:
 
- Tiếc quá, tiếc quá, dì đã vội ra đi.
 
Nước mắt chảy đầy hai má, mắt của ngoại và má tôi đỏ ngầu. Ba tôi ngồi ở bàn ăn lặng lẽ, hai tay ông đan vào nhau chống dưới cằm.
 
*
 
Theo lời căn dặn của dì Vân trước khi mất. Ngoại sẽ ở lại Denver để lo làm thất, sau bốn chín ngày, ngoại đem tro về Seattle. Ngoại tôi đã được luật sư cho xem các di chúc và các giấy tờ liên hệ đến tài sản dì Vân để lại. Tất cả tài sản kể cả trương mục ngân hàng và bảo hiểm nhân thọ, sẽ chia ba: Một cho ngoại, một cho gia đình chúng tôi, một cho Hội Nghiên Cứu Ung Thư Máu Hoa Kỳ. Sau đó ông Allen Olive - luật sư tìm gặp riêng ba tôi, mở cặp ông lấy một phong bì dán kín, ông được dì Vân dặn là chỉ trao thư cho một mình ba tôi-Mr. Hoàng Thanh Vũ mà thôi.
 
Sau nhiều đêm suy nghĩ, ba tôi quyết định bóc thư ra xem:
 
"Anh Vũ, em không muốn chị Huyền của em buồn và khó chịu mỗi khi nhìn di ảnh của em. Hai mươi năm trôi qua là hai mươi năm em sống trong âm thầm chịu đựng. Tại sao anh lại cưới chị Huyền của em, mà không là người nào khác. Em đã yêu anh một cách điên dại, yêu như một đứa trẻ yêu tha thiết một món đồ chơi không bao giờ rời được. Do những nghĩ suy trường chinh ấy đã dẫn đến suy nhược huyết cầu như sự phân tích của nhiều bác sĩ chuyên khoa.
 
Anh! Cho đến khi em còn đủ sức viết những dòng nầy, em cũng chưa bao giờ có một lời trách hờn anh. Thực tình, em cố xua đuổi hình bóng của anh ra khỏi tâm trí của em vì cho đó như là một lỗi lầm. Nhưng lý lẽ của con tim vẫn là những gì khó giải thích. Càng xua đuổi nó càng hiển hiện. Những ngày cuối cuộc đời tại bệnh viện, em ước ao được một lần nắm lấy bàn tay anh, nhìn thẳng vào mắt anh nhưng dường như những thứ ấy đối với em rất xa xỉ khó thực hiện. Em chỉ có đủ thì giờ căn dặn luật sư trao thư nầy cho anh và em mong anh thực hiện cho việc nầy: Tro cốt của em sau khi hỏa táng, anh mang về Seattle rải chung quanh vườn nhà của anh, để cho em được gần mẹ, gần chị Huyền, gần hai cháu Toàn, Thu và… được gần anh.”
 
Đọc xong thư viết tay nguệch ngoạc của Vân, tim người nhận thắt lại. Ba tôi đấm tay lên mặt bàn đau khổ. Một mối tình trắng như pha lê.
 
Đó là những gì ba tôi đã kể về dì Vân cho tôi nghe, nhân dịp tôi về nghỉ Spring Break năm 2012.
 
Thủy Lâm Synh
  

Chiều hôm qua, sau khi ngồi làm việc với computer mấy tiếng đồng hồ liền, tôi đứng lên đi bộ ra biển để thư giãn một chút. Đây là thói quen mà mỗi ngày tôi tự thưởng cho mình, ít nhất là một tiếng đồng hồ thong dong đi bộ ra biển để hít thở bầu không khí trong lành. Chiều Thứ Sáu nên vắng người đi bộ, chỉ lác đác vài chiếc xe đạp vượt qua tôi cùng những tiếng chuông “kính coong” nhẹ nhàng. Con đường dọc bờ biển có nhiều loại cỏ cây cao thấp um tùm. Bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông đều có đủ loài hoa dại khoe sắc xinh tươi. Nhiều khóm hoa vàng giống như hoa mai quấn quýt bên những lùm hoa màu hồng li ti, điểm xuyết vài cụm liễu xanh rờn phất phơ quyến rủ, cộng thêm những chòm cây cao dày đặc trái là trái, chùm chùm màu đỏ thắm, lớp lớp màu xanh đen. Tất cả hòa quyện dưới bầu trời trong vắt, giữa cái nắng chiều vàng nhạt, và gió cũng bảng lảng vờn quanh những chùm mây bạc lửng lơ... Một khung cảnh tĩnh lặng và mỹ lệ chẳng khác nào chốn thiên đàng.
(Xem: 12)
Có những con đường mình muốn đi từ thuở còn trẻ, nhưng cứ hẹn lần hẹn lượt rồi mãi đến khi tóc đã bạc mới có dịp lên đường. Từ highway 49 qua các các thị trấn của thời đào vàng đối với tôi là một con đường như vậy. Tôi đã sống ở California nhiều năm, đã từng nghe đến Sutter’s Mill, đến cơn sốt vàng năm 1849, đến những đoàn người từ khắp nơi trên thế giới đổ về chân núi Sierra Nevada với cái cuốc, cái xẻng và một giấc mơ đổi đời. Những cái tên Coloma, Sutter Creek, Angels Camp, Murphys, Columbia, Jamestown tôi cũng đã đôi lần nhìn thấy trên bản đồ. Chúng không xa San Jose bao nhiêu, vậy mà chưa bao giờ tôi nghĩ phải tìm đến. Có lẽ ngày còn trẻ, với những bận rộn của đời thường, với những đam mê cháy bỏng, người ta thường thích nhìn phía trước, đi về những thành phố xa hoa tráng lệ hơn là quay lại tìm những miền đất của một thời đã qua, xưa cũ.
(Xem: 14)
Lúc còn ở quê nhà, thường xuyên đọc trên báo, thấy nhan nhãn những tin cảnh báo, nhiều vụ...”đào lửa” (lừa đảo) qua tin nhắn, điện thoại di động mà phần lớn nạn nhân là người tuổi trẻ hoặc cao niên. Bởi những yếu tố tâm lý: Tuổi trẻ nông nổi, thiều kinh nghiệm, dễ bị dẫn dắt và lừa gạt! Còn người cao tuổi, việc phán xét thường chậm chạp, thích nghe lời dịu dàng, từ tốn và dễ tin người? Điều mà bọn lừa đảo có “thừa kinh nghiệm” khai thác tâm lý một cách bài bản, lại có đông đảo đồng bọn phụ họa, tạo nên một “kịch bản” y như thật. Bọn lừa đảo có thể là người ở ngay trong nước, hoặc ở trong các tổ chức lừa đảo xuyên quốc gia, có “trụ sở” ở những vùng biên giới, đông nhất là Myanma, Campuchia v.v...
(Xem: 11)
Tháng Tám, Montreal còn hầm nóng, không một cơn gió nhẹ nào lay chuyển những cành lá, tuy vậy du khách của mùa hè từ khắp nơi trên thế giới đông đúc cả phố phường, trên tay ai cũng có cây quạt nhỏ bằng giấy đủ màu; Huân, em trai tôi, cùng vợ và hai con từ California, Mỹ đến thăm gia đình tôi một tuần lễ bằng xe hơi, nhân tiện chúng tôi cùng đi chung với nhau đến Calgary, ngắm cảnh đẹp, cùng nhau sinh hoạt trong một “Airbnb” để sống lại những ngày thơ dại còn cha mẹ bên cạnh, lần này có thêm tiếng cười của các con cháu.
(Xem: 20)
Là một thầy giáo giúp trong chương trình dạy tiếng Việt, huấn luyện võ thuật cho võ đường Tenshinkai, cũng như khải đạo cho phong trào Hướng Đạo Hoa Kỳ, với cơ hội thường xuyên hướng dẫn cho các em thiếu nhi 7, 8 tuổi đến các thiếu niên từ 14 đến 16 tuổi, tôi luôn quan tâm đặc biệt đến vấn nạn hiếp đáp (bullying) trong nhà trường. Trong nhiều năm, thật sự là một điều đáng buồn khi tôi đã phải chứng kiến không ít trường hợp nhiều em trở nên sợ hãi, mất tự tin, thậm chí thay đổi hoàn toàn tính cách chỉ vì bị bạn bè bắt nạt. Trong vai trò phụ huynh, tôi cũng từng phải đồng hành cùng con mình khi cháu là nạn nhân của tình trạng hiếp đáp trong những năm học ở bậc phổ thông trung học đệ nhất cấp.
(Xem: 27)
Từ hồi bé tôi đã mê máy bay và mơ ước khi lớn lên sẽ làm phi công. Khi qua Mỹ năm 1991, do chưa có internet, tôi hay vào thư viện mượn các cuốn sách về máy bay để đọc. Hè năm 1997, qua radio, tôi biết sẽ có một buổi biểu diễn máy bay (airshow) tại căn cứ Thủy quân lục chiến El Toro gần thành phố Irvine, cách Little Sài gòn khoảng nửa tiếng lái xe. Thời đó internet còn thô sơ, chưa có bán vé, nên tôi phải vào tiệm Nordstrom để mua vé qua chi nhánh của TicketMaster. Tôi phải chi $25 để mua vé hạng trung bình để đi xem airshow. Từ nhà ba má tôi ở Rosemead, tôi tốn gần một tiếng lái xe xuống tới căn cứ El Toro. Khi xuống khỏi freeway, tôi lại phải tốn thêm gần một tiếng nữa để vào tới bãi đậu xe của căn cứ. Lý do là hôm đó cả chục ngàn người đều đi xem airshow mà đường vào căn cứ thì chỉ có một làn xe. Khi tôi tới chỗ ngồi trên khán đài thì airshow đã diễn ra được hơn một tiếng đồng hồ...
(Xem: 23)
Ở cái “cảnh giới” tạm gọi là thong dong của tuổi xế chiều, bất cứ sinh hoạt nào giúp cả nhà thoát khỏi cái “vấn nạn” mỗi người ngồi một góc ôm chiếc iPad hay điện thoại đều đáng được hưởng ứng hết mình. Thật ra, dẫu có bận rộn đến đâu, chỉ cần được tụi nhỏ rủ rê cùng chơi, cùng làm một việc gì đó, hay đơn giản chỉ là ngồi quây quần bên nhau “tâm sự loài cua biển”, thì cha mẹ chúng cũng đã thấy sướng rên rồi. Thế là mỗi dịp các con rủ xem Rap Việt, cả nhà lại xúm xít: tụi nhỏ lo sắp đặt máy móc, tôi cắt gọt bánh trái, còn nhà tôi chuẩn bị nước uống để vừa xem vừa nhâm nhi cho câu chuyện rap thêm giòn.
(Xem: 31)
Nếu có ai đó chợt bảo: "Tao nhớ mấy trái mát mát ăn hồi nhỏ quá, nó chua chua ngọt ngọt, ăn vô một miếng là mê mẩn tâm thần". Người biết thì gật gù, kẻ không biết thì ngơ ngác chẳng hiểu "mát mát" là gì. Nhưng tôi cam đoan, cứ hỏi “dân Đà Lạt” là họ bật công tắc nhận diện được ngay. Tuần trước ngồi tán dóc với mấy người bạn, nói lan man về trái mát mát, có người bảo: "Chanh dây mà kêu là mát mát nghe kỳ cục hà!". Cô em gốc Đà Lạt ngồi kế bên lên tiếng liền: "Ừ thì có kỳ cục đó, nhưng dân Đà Lạt tụi em gọi vậy nó mới thân thương, nghe một cái là biết ngay dân Đà Lạt!". Tôi thì quen hơi bén tiếng với trái mát mát này từ hồi còn bé tí. Hồi đó, bố tôi trồng một cây sau vườn, sát bên cây ổi. Trời ban cho cái giống này cái tính "tự túc, tự cường", nó mọc um tùm, bò hiên ngang rồi ôm vòng lấy cả thân cây ổi tội nghiệp. Dây leo đan xen dày đặc như một tấm đệm khổng lồ phủ kín cây. Anh chị em tôi cùng lũ con nít trong xóm chơi trốn tìm cứ nhè cái bụi "mát mát ôm ổi" đó mà chui vào.
(Xem: 21)
Văn học, Nghệ thuật là hai bộ môn khoa học xã hội có phạm vi và đối tượng khác nhau nhưng thường đi chung với nhau, được người đời gá nghĩa, ghép chung làm một, từ đó phát sinh cụm từ Văn học-Nghệ thuật. Trước khi cầm máy tôi cầm bút, viết văn, làm thơ và nhận ra một điều là cái đẹp trong văn học, tư tưởng cũng có họ hàng với cái đẹp trong nghệ thuật, vì cùng một mục đích là Chân, Thiện, Mỹ. Thế là ngoài giờ viết lách thì tôi xách máy đi chụp mọi thể loại, đề tài. Có khi đi một mình, có khi đi cả nhóm bạn. Vào google tôi nghiên cứu những vấn đề căn bản của photoshop để có thể chỉnh đường nét, màu sắc và ánh sáng cho tấm hình tôi chụp được hoàn chỉnh hơn, bắt mắt hơn. Viết văn và chụp hình có cùng mục đích nhưng môi trường và cách thể hiện thì khác nhau. Để có được tấm hình bạn phải có đồ chơi, là chiếc máy ảnh và phải đi ra ngoài, để có một bài viết bạn chỉ cần ngồi nhà, trước màn hình và thao tác trên bàn phím mà không cần phải đi đâu xa.
(Xem: 38)
Nhân dịp trở lại Học viện quân sự West Point (hay còn gọi là trường võ bị West Point) để tham dự lễ trao nhẫn của các sinh viên khóa 2027, tôi tranh thủ ghé thăm Bảo tàng West Point nằm kế bên Trung tâm đón tiếp du khách Frederic V. Malek (The Frederic V. Malek West Point Visitor Center). Giới thiệu sơ lược về Bảo tàng West Point. Học viện quân sự West Point là một trong những học viện quân sự lâu đời nhất thế giới, đào tạo cả nam lẫn nữ. West Point với chương trình học kéo dài 4 năm này cũng chính là nơi tọa lạc của Bảo tàng quân sự lâu đời nhất của nước Mỹ- Bảo tàng West Point. Bảo tàng này được cho là bảo tàng sở hữu bộ sưu tập đa dạng với quy mô lớn và độc đáo nhất về các hiện vật quân sự tại Tây Bán Cầu.
(Xem: 246)
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.